1. Các nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX chủ yếu nhắc đến Lê Văn Trương như một nhà văn viết nhanh, viết nhiều và ăn khách. Tác phẩm của ông đa dạng về đề tài cũng như bối cảnh và thường được xếp vào loại hình văn chương đại chúng. Mặc dù không được đánh giá cao như một tác giả điển phạm nhưng ngay cả những nhà phê bình khó tính nhất cũng thừa nhận Lê Văn Trương có tài kể chuyện. Sức hấp dẫn của văn chương Lê Văn Trương cho thấy ông nắm bắt và đáp ứng được thị hiếu của độc giả đại chúng một thời.
Nhưng liệu những gì ông viết vẫn còn khơi dậy được hứng thú đối với độc giả hôm nay?
Ở phương diện này, có thể đối sánh Lê Văn Trương với một tác giả khác cùng thời, cũng viết nhanh, viết nhiều và ăn khách: Hồ Biểu Chánh. Nếu văn chương của Lê Văn Trương được Vũ Ngọc Phan định danh là loại tiểu thuyết luân lí thì thiết nghĩ sự phân loại này cũng thích hợp với Hồ Biểu Chánh. Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đậm đà tính chất cảm thương với những cốt truyện éo le, mùi mẫn, dễ lấy nước mắt công chúng đến giờ vẫn thường xuyên được tái bản, thậm chí được chuyển thể thành những phiên bản truyền hình và điện ảnh có nhiều người xem. Tác phẩm của Lê Văn Trương, sau một thời gian dài vắng mặt trong văn hóa đọc của đại chúng, đến đầu những năm 1990 cũng đã được tái bản trở lại. Nhưng có lẽ văn chương ấy đã không còn giữ được lượng công chúng bền bỉ của mình như trường hợp Hồ Biểu Chánh.
Vậy có điều gì đáng để chúng ta đọc lại một hiện tượng thường bị xem chỉ có giá trị nhất thời như Lê Văn Trương tại thời điểm này?
2. Đọc lại một hiện tượng văn học sử, thực chất là đặt lại nó vào những mối liên hệ ít được chú ý trước đó, soi chiếu nó dưới những hệ quy chiếu chưa được thiết lập trước đó, xem xét sự tương tác có thể có giữa nó với ngữ cảnh đọc hiện tại. Theo nghĩa này, văn chương của Lê Văn Trương có lẽ còn những khía cạnh đáng khám phá như khuynh hướng hương xa (exoticism) gắn với hứng thú về cảnh sắc, lối sống và phong cách thẩm mỹ của những vùng miền xa xôi hay sự tưởng tượng về địa lí, chủng tộc chẳng hạn. Hay như hai tác phẩm được giới thiệu lại với công chúng lần này - Những đồng tiết siết máu và Tôi thầu khoán (Ba tháng ở Trung Hoa) – nếu đọc từ lăng kính phê bình giới, có thể được xem như một trường hợp của văn chương nam tính.
| Nhà văn Lê Văn Trương (1906-1964) Ông là người làng Đồng Nhân (thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). - Năm 1932, ông bắt đầu tham gia làng báo, làng văn. - Sau tập truyện ngắn Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích ông được các NXB chú ý, Lê Văn Trương trở thành cây bút viết quan trọng của NXB Tân Dân, cùng với các nhà văn tên tuổi như: Tản Đà, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Lan Khai, v.v... Những tờ như Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san không hề in thông tin thời sự, xã luận mà đăng liên tục những truyện ngắn, tiểu thuyết của ông. - Theo bản thống kê của gia đình ông thì còn lưu giữ được 125 tác phẩm, 96 cuốn đã in và 29 cuốn chưa in.
|
Giới (gender), trong nghiên cứu nhân văn hiện nay, được phân tích như một kiến tạo ý thức hệ và văn hóa hơn là một phạm trù tự nhiên, mang tính sinh học. Văn chương như một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ có những mối liên hệ mật thiết và phức tạp với các bình diện ý thức hệ trong đời sống, trong đó có ý thức về giới. Nó vừa có thể phản ánh và củng cố những hình dung về giới đang phổ biến trong đời sống lại vừa có thể thách thức, phá vỡ những hình dung ấy. Có những loại hình văn chương được quan niệm như là văn chương nữ tính bởi nhân vật chính trong tác phẩm là phụ nữ, cốt truyện chủ yếu xoay quanh bối cảnh và những tình huống được mặc định dành cho phụ nữ. Các tiểu thuyết của Jane Austen (nhà văn Anh, 1775 - 1817) thường được dẫn ra như là ví dụ điển hình của loại văn chương này bởi nhân vật nữ thường đóng vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật với bối cảnh chính là không gian trong nhà và chuyện hôn nhân trở thành trục chính của mọi sự kiện. Thể loại ngâm khúc trong văn học trung đại Việt Nam lại là một trường hợp thú vị khác. Mặc dù tác giả của phần lớn các khúc ngâm được xác định là nam giới thì thể loại này vẫn có thể được xếp vào loại hình văn chương nữ tính. Những khúc ngâm này thường mượn giọng nữ để giãi bày tâm tình, đặc biệt để thở than, ai oán; không gian và thời gian trong tác phẩm cũng thường gắn với những hoạt động được mặc định dành cho vai nữ như chờ đợi, khóc thương… Cho dù có thể có ý kiến cho rằng vai nữ và giọng nữ ở đây chỉ có tính chất như tấm mặt nạ để những nhà nho đương thời giải phóng những ẩn ức của mình trong bối cảnh địa vị thất thế như kiến giải của Tạ Chí Đại Trường thì vẫn phải thừa nhận cái nhãn “nữ tính” gán cho ngâm khúc vẫn có sự hợp lí nhất định.[1] Bởi dẫu gì, những tạo hình nữ tính này vẫn phải là bình diện được khắc họa trước hết.
Vậy văn chương nam tính có đặc điểm gì, nhất là nhìn từ trường hợp Lê Văn Trương với Những đồng tiền siết máu và Tôi thầu khoán? Có thể thấy ngay ở nhân vật xưng “tôi” trong tác phẩm của ông: một gã đàn ông ham xê dịch, thích mạo hiểm, dám dấn thân vào những nơi chốn và công việc đầy bất trắc. Mẫu nhân vật ấy, một mặt, gợi liên hệ đến kiểu nhân vật nam giới phổ biến của văn chương lãng mạn đương thời - những kẻ dứt mình khỏi cái hằng ngày và những ràng buộc xã hội để phiêu lưu. Song nếu những nhân vật lãng mạn của Nhất Linh còn nuôi một lí tưởng nào đó như là thứ làm nên ý nghĩa lớn nhất cho sự phiêu lưu của mình, nhân vật của Lê Văn Trương chỉ đơn thuần muốn thể nghiệm những cảm giác và khoảnh khắc phi thường. Mặt khác, có thể nhìn thấy sự gần gũi giữa nhân vật của Lê Văn Trương với hình mẫu những nhân vật hảo hán, yêng hùng, “giang hồ quen thói vẫy vùng” của văn chương cổ điển kiểu anh hùng Lương Sơn Bạc hay Từ Hải. Là kẻ có học hành chữ nghĩa, thậm chí xuất thân từ dân văn chương, nhân vật “tôi” trong tác phẩm của Lê Văn Trương bộc trực nhưng không nông nổi, ngang tàng nhưng không bặm trợn. Bởi luôn đứng trên một nền tảng đạo lí cao hơn nhân quần, nhân vật ấy không mang tính cách của loại nhân vật bợm nghịch và do vậy, rất xác đáng khi các nhà nghiên cứu đã gọi văn chương của Lê Văn Trương là thứ văn chương “người hùng”. Hình mẫu “người hùng” luôn có sức hấp dẫn trong văn hóa đại chúng ở mỗi thời kì, từ những nhân vật trong thần thoại, sử thi cổ đại đến những nhân vật dấn thân vào những thử thách khốc liệt hay những siêu nhân trong điện ảnh giải trí. Điều này có thể lí giải vì sao tại thời điểm ra mắt, tác phẩm của Lê Văn Trương thỏa mãn được thị hiếu của độc giả bình dân. Đặc biệt ở bối cảnh thuộc địa, trong khi nhiều nhà văn xây dựng những nhân vật anh hùng từ những nguyên mẫu trong quá khứ để nuôi dưỡng cảm thức chủ nghĩa dân tộc thì có lẽ vẫn còn thiếu những tác phẩm kiến tạo chủ nghĩa anh hùng đương đại, gắn với bối cảnh hiện thời. Văn chương Lê Văn Trương, thiết nghĩ, bởi lấp vào chỗ trống ấy nên đã được đón nhận rộng rãi.
Cốt truyện của Những đồng tiền siết máu và Tôi thầu khoán, về cơ bản là cốt truyện hành động. Lê Văn Trương không đào sâu vào những nếm trải trong nội tâm nhân vật: nhân vật của ông “làm” nhiều hơn là “nghĩ”. Nhân vật của ông sống trong những môi trường xã hội mà sự phức tạp của nó là thứ người ta khó có thể chỉ bằng tưởng tượng mà mô tả thuyết phục được như thế giới sòng bài hay những công trường ở nước ngoài cùng với những mối quan hệ của giới giang hồ. Nhịp điệu trong tác phẩm của ông, vì ít đi vào những ngóc ngách tâm lí nhân vật, thường nhanh, gấp, giống như các bộ phim hành động bây giờ. Có thể đặt Lê Văn Trương vào vị trí của một tác giả tiên phong trong dòng tự sự về những thế giới xã hội ngầm vốn luôn là một thể tài có sức hút lớn của văn hóa đại chúng. Những tác phẩm như Bố già, Thần bài, Hội Tam hoàng Thượng Hải… là những dẫn chứng cho sự hấp dẫn của thể tài này trong văn hóa đại chúng trên thế giới. Ở Việt Nam, chưa có những nghiên cứu mang tính hệ thống nào về dòng mạch tự sự về thế giới xã hội ngầm này. Có lẽ điều này xuất phát từ một định kiến phổ biến cho rằng thể tài này chỉ có giá trị giải trí nhất thời, không đạt đến trình độ kết tinh nghệ thuật đáng để nghiên cứu. Nhưng việc những series truyền hình quốc nội như Người phán xử hay mới đây là Độc đạo vẫn là những hiện tượng gây sốt cho thấy thể tài về thế giới xã hội ngầm có thể khơi dậy những câu hỏi đáng nghĩ không nên bỏ qua.
Lê Văn Trương đã là cái tên quan trọng của văn chương nam tính trong trường văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Văn chương của ông đối chọi với những thứ văn chương tình cảm chủ nghĩa mà các tác giả trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn là đại diện nổi bật. Nếu văn chương của Tự Lực Văn Đoàn có thể thỏa mãn những huyễn tưởng của những nữ độc giả thị dân (có thể thấy điều này qua cách Nam Cao giễu nhại ngầm mơ mộng của văn sĩ Điền về hình ảnh độc giả lí tưởng trong truyện ngắn “Giăng sáng”) thì thứ văn chương như Lê Văn Trương có lẽ lại kích hoạt sự tưởng tượng của độc giả nam giới nhiều hơn - mà đây lại là bộ phận độc giả lớn nhất trong trường văn học giai đoạn này. Nhận định trên có thể phải kiểm chứng thêm nhưng thiết nghĩ nó có cơ sở và mở ra nhiều điều đáng để thảo luận xa hơn.
![]() |
| Những đồng tiền siết máu và Tôi thầu khoán của nhà văn Lê Văn Trương vừa được NXB Phụ Nữ Việt Nam xuất bản 2026. |
3. Nhưng việc tác phẩm Lê Văn Trương biến mất khỏi đời sống văn học có liên quan gì không đến tính chất nam tính kết tinh trong văn chương của ông? Câu hỏi này lại cần phải trả lời trong sự đối sánh với trường hợp Hồ Biểu Chánh. Văn chương Hồ Biểu Chánh cắm rễ sâu vào trong dòng mạch của chủ nghĩa cảm thương vốn là thứ dễ động lòng nữ giới. Nó cũng chủ yếu xoay quanh các tấn kịch gia đình với những vấn đề mà ở thời đại nào người Việt Nam cũng dễ nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột, trong đó người phụ nữ có một vai trò nổi bật trong cốt truyện. Đạo lí trong văn chương của Hồ Biểu Chánh dù cũng thể hiện lồ lộ nhưng lại ít gây ra cảm giác nó được phát ngôn từ một chủ thể bề trên. Việc chúng thường được chuyển thể thành những phiên bản sân khấu và truyền hình ăn khách cũng xuất phát từ một thực tế khán giả chủ yếu của những sản phẩm văn hóa này là nữ. Văn chương của Lê Văn Trương trong khi tô đậm cốt cách người hùng của nhân vật nam chính thì lại biến các nhân vật nữ thành những vai diễn mờ nhạt bản sắc. Luân lí trong tác phẩm của Lê Văn Trương thường được biểu hiện bằng một giọng điệu kết luận chắc chắn, thậm chí pha chút kiêu bạc hơn là bằng một giọng khuyên nhủ từ tốn. Và có lẽ những huyễn tưởng của nam giới về hình mẫu nam tính lí tưởng ở thời đại này cũng có phần khác với thời trước 1945 khi bóng dáng của những trượng phu hay những hiệp sĩ giang hồ vẫn còn tỏa ra một hào quang lãng mạn để cuốn hút người ta. Kiểu nhân vật người hùng của Lê Văn Trương đã không còn là điểm hút khách nữa, chưa kể cách xây dựng nhân vật của ông có những nhược điểm về nghệ thuật mà nhiều nhà nghiên cứu như Vũ Ngọc Phan hay Bùi Xuân Bào đã chỉ ra thẳng thắn.
Tuy nhiên, Lê Văn Trương, thiết nghĩ, đáng được đọc lại ở thời điểm này bởi ông là một hiện tượng thúc đẩy những suy tư sâu sắc và nghiêm túc hơn về văn hóa đại chúng Việt Nam, đặc biệt ở phương diện ý thức hệ về giới hằn sâu trong các thực hành và sản phẩm của nó. Xin kết lại bài giới thiệu này bằng một câu chuyện của điện ảnh Việt Nam. Cách đây bốn năm, nhà làm phim Ngô Thanh Vân đã công bố dự án phim điện ảnh siêu anh hùng Vinaman với tham vọng xây dựng một biểu tượng người hùng của văn hóa đại chúng Việt Nam đương đại. Dự án đó, đến nay, vẫn chưa được triển khai và lí do chưa được công bố. Nhưng có thể thấy xây dựng một anh hùng ở thời điểm này để thuyết phục công chúng Việt Nam không dễ bởi như lời của nhà báo Ngọc Diệp của tờ Tuổi Trẻ, điện ảnh Việt Nam, trên nét lớn, vẫn cứ là một nền điện ảnh âm tính khi những câu chuyện và nhân vật hay nhất của nó chủ yếu là nữ.[2] Trong khi đó, nhà phê bình điện ảnh Lê Hồng Lâm cho rằng có cái gọi là “sự thất bại vĩ đại của nam tính trong phim Việt” khi hình ảnh nam giới chủ yếu được khắc họa một cách bạc nhược, yếu đuối. Tình hình lại có vẻ ngược lại khi nhìn vào sự đón nhận nhiệt tình của công chúng Việt Nam đối với những bộ phim tôn vinh hình tượng nam tính mạnh mẽ của Hollywood.[3] Từ những thành công và hạn chế của Lê Văn Trương với thứ văn chương nam tính của ông, những người trong lĩnh vực sáng tạo văn hóa có thể rút ra những bài học hữu ích để xây dựng một hình tượng nam tính anh hùng có chiều sâu, có bản sắc và đem đến những hiệu ứng tích cực không chỉ trong công nghiệp giải trí mà còn về những phương diện xã hội sâu xa hơn.
[1] Tạ Chí Đại Trường, “Sex và triều đại”, in trong Chuyện phiếm sử học, Nhã Nam & NXB Tri Thức, Hà Nội, 2016.
[2] Ngọc Diệp, “Một nền điện ảnh ‘âm tính’ nên cứ mãi xoay quanh phụ nữ”, https://tuoitre.vn/mot-nen-dien-anh-am-tinh-nen-cu-mai-xoay-quanh-phu-nu-20181019181525105.htm
[3] Mi Ly, “Đàn ông Việt quá… yếu, quá tệ trong phim Việt”. https://tuoitre.vn/dan-ong-viet-qua-yeu-qua-te-trong-phim-viet-20210402090728844.htm