Sáng tác

Vị khách không mời. Truyện ngắn của A.T. Butler

A.T. Butler
Văn học nước ngoài 09:24 | 09/06/2026
Baovannghe.vn- Mặc dù cuộc sống hiện tại không như cô hằng mong ước, Martha chẳng hề phiền lòng khi phải sống độc thân. Trong lúc cán bột để làm món bánh donut (bánh rán vòng) mà các cháu trai của mình hết mực yêu thích, cô chợt nhận ra mình đã quán xuyến việc nhà cho anh trai tròn trịa hơn hai mươi năm ròng.
aa
A.T. Butler lớn lên tại vùng Tây Nam nước Mỹ, tuổi thơ gắn liền với những ngôi nhà thờ cổ kính ở California, sự hiện diện của những loài bò sát và nỗi lo âu thường trực về những mùa hạn hán khô cằn. Tuy nhiên, phải đến khi chuyển tới Texas cách đây vài năm, vẻ đẹp kỳ bí và những huyền thoại của miền Tây mới thực sự thấm đẫm vào tâm hồn cô. Mang trong mình niềm đam mê cháy bỏng với lịch sử nước Mỹ và miền Tây, A.T. Butler nguyện dành trọn tâm huyết để tiếp tục kể lại những câu chuyện về vùng đất này trong tương lai dài phía trước.

Khi cô hai mươi hai tuổi còn Bertie đã hai mươi tư tuổi, sau nhiều năm làm thuê cho người khác và tích góp của cải, anh đã tự mua được một trang trại rộng lớn của riêng mình ở ngoại ô vùng Juniper Falls. Vào thời điểm đó, Martha đã quá mệt mỏi với những lời than phiền đầy thất vọng của cha mẹ về việc cô mãi vẫn chưa có người yêu, chưa có gia đình riêng, nên cô đã đi theo anh trai.

Anh trai cô rất biết ơn vì luôn có em gái bên cạnh, và cô cũng đã dễ dàng thích nghi với việc tự mình quán xuyến nhà cửa. Thoát khỏi sự quan tâm thái quá của mẹ và những lời chỉ trích tế nhị của cha, Martha cuối cùng cũng có khoảng không gian để tỏa sáng. Họ dần quen với nhịp sống êm đềm, và vài năm sau đó Bertie kết hôn. Dẫu rằng giai đoạn chuyển tiếp ấy có đôi chút khó khăn, nhưng Martha và chị dâu của cô, Jennie, vẫn luôn là những người bạn tốt của nhau. Chẳng một ai mảy may ý niệm rằng Martha nên quay về sống tại nhà cha mẹ đẻ.

Những đứa trẻ lần lượt ra đời trong những năm sau đó - Albie, Micah, Ellen, Otis và Susie - và Jennie đã thực sự rất cần đến tất cả sự trợ giúp mà cô ấy có thể nhận được.

Vị khách không mời. Truyện ngắn của A.T. Butler
Minh họa Đặng Tiến

Và giờ đây, sau hai mươi năm, Martha đã trở thành một thành viên thực thụ của gia đình Wright, không thua kém bất kỳ ai. Cô chưa bao giờ bị bỏ rơi trong các ngày lễ, cũng chẳng bao giờ bị yêu cầu phải tránh mặt khi có khách đến thăm, như cách những người khác thường đối xử với nữ giúp việc. Cô có phòng ngủ riêng, được nghỉ phép khi cần và được bọn trẻ trông cậy gần như ngang bằng với cha mẹ chúng. Đối với Martha, sự sắp xếp này hóa ra cũng tốt đẹp hệt như việc kết hôn và tự tạo tổ ấm riêng.

Thật ra, dường như còn tốt hơn, Martha thầm nghĩ khi cô rắc bột lên khuôn cắt và bắt đầu cắt bánh donut từ khối bột đã cán.

Bertie và Jennie vẫn yêu nhau mặn nồng sau gần hai mươi năm kết hôn, nhưng giống như mọi cặp vợ chồng khác, họ thỉnh thoảng cũng gây gổ. Bertie hay gắt gao săm soi chuyện chi tiêu của Jennie, và điều đó dẫn đến một trận cãi vã. Jennie khó chịu vì Bertie thường xuyên lui đến quán rượu Golden Saddle, và việc đó cũng dẫn đến tranh cãi. Nhưng Martha lại chẳng hề bận tâm đến những điều đó. Tất cả những gì cô cần phải làm là rút lui khi căng thẳng trở nên cao trào rồi vừa đợi chờ cho mọi thứ lắng xuống vừa nhào bột hoặc phơi ga trải giường trên dây phơi quần áo.

Cô có không gian riêng khi muốn và có chỗ dựa khi cần.

Không, bất cứ khi nào cô ngẫm nghĩ về điều đó, trong mắt Martha, cô có được mọi đặc quyền của một người phụ nữ đã kết hôn mà không phải hứng chịu bất kỳ sự đau đầu nào có liên quan đến đàn ông. Thật lòng mà nói, cô còn có thể mong muốn gì hơn nữa?

“Cô Martha!”

Otis lao vụt vào bếp từ ngoài sân, dường như không thể tự hãm được đà chạy của mình. Ở tuổi lên sáu, cậu bé vẫn chưa đi học mỗi ngày cùng các anh chị lớn, nhưng Martha và Jennie đang dần hết cách để giữ cho cậu bé chơi ngoan ngoãn suốt hàng giờ liền. Cậu bé nhớ các anh chị, những người bạn thân gắn bó của mình, nhưng Bertie đã quyết định rằng đứa con trai út của anh vẫn còn quá hiếu động để có thể ngồi yên trong bốn bức tường cả ngày. Cô sẽ rất biết ơn khi cậu nhóc ra khỏi nhà và được cô Frye dạy dỗ vào mùa thu tới.

“Cô Martha,” cậu bé lặp lại khi thấy cô im lặng quá lâu mà chưa hồi đáp.

“Cháu đang làm gì đấy, cậu chủ nhỏ?” Cô vừa hỏi vừa vội lau tay vào chiếc tạp dề.

Cậu bé chạy nhanh đến nỗi đâm sầm vào sau chân Martha, nhưng bị bật ra và giờ đây đang đứng nghiêm chỉnh, lưng quay về phía quầy bếp. Cậu vén mái tóc khô xơ ra khỏi mặt và ngước nhìn cô với đôi mắt mở to tròn.

“Cháu có ba điều muốn nói ạ.” Cậu giơ ba ngón tay lên rồi nhăn mũi lại như thể đang cố nhớ lại tất cả. “Ừm...”

Martha kiên nhẫn chờ đợi. Otis tốn nhiều thời gian để tập nói hơn các anh chị em của mình. Cậu bé rất coi trọng việc giao tiếp, và nếu thỉnh thoảng Martha cần phải im lặng chờ Otis cẩn thận lựa chọn từ ngữ, thì điều đó cũng xứng đáng để thấy cậu bộc lộ bản thân thành một chàng trai nhỏ như hiện tại.

“Được rồi. Phải.” Cậu gật đầu với chính mình. “Điều đầu tiên là... ừm, khi nào bánh donut sẽ ăn được ạ?”

“Không lâu nữa đâu, cục cưng. Cô đang cắt bột trong khi đợi dầu nóng, sau đó cô sẽ chiên và phủ đường bóng lên, rồi bánh sẽ nguội dần trong lúc cô nấu bữa tối.”

“Đây không phải là một trong ba việc cháu muốn nói, nhưng liệu cháu có thể ăn một chiếc bánh donut với bữa tối được không ạ?”

“Cháu có thể hỏi mẹ, nhưng cô nghĩ mẹ có lẽ sẽ nói cháu phải đợi đến sau bữa tối. Mà cháu đã biết thừa điều đó rồi, phải không nào?” Cô mỉm cười với cháu trai nhỏ, và cậu bé cũng mỉm cười đáp lại, chẳng hề xấu hổ khi bị bắt quả tang đang bày trò.

“Chuyện thứ hai là gì vậy, cục cưng?”

“Ừm, cô biết hôm qua cháu đã bắt châu chấu như thế nào rồi đúng không ạ?”

Cô gật đầu.

“Cô có nghĩ mấy con châu chấu đó sẽ buồn khi bị nhốt trong chiếc lọ của cháu không?”

“Ồ. Chuyện này thì...”

Hai ngày trước đó, cậu bé đã nài nỉ cô cho cậu xin một trong những chiếc lọ thủy tinh và giúp cậu đục vài lỗ trên nắp để côn trùng có thể hô hấp. Ban đầu Martha có chút do dự, không phải vì tiếc chiếc lọ - cô có rất nhiều và có thể dễ dàng tìm cái khác để thay thế ngay - mà bởi cô lo lắng cho trái tim nhạy cảm của Otis nếu chẳng may có bất kỳ con châu chấu nào qua đời trong quá trình cậu bé chăm sóc.

Anh trai cô tình cờ nghe thấy cuộc trò chuyện và xen vào, giải thích cho Otis hiểu những viễn cảnh có thể xảy ra khi cậu bẫy côn trùng và bắt cậu phải hứa rằng cậu sẽ phải cư xử như một người đàn ông chín chắn dù cho có bất cứ chuyện gì xảy ra với chúng. Kiểu nói chuyện nghiêm túc như vậy là một chiến thuật từng áp dụng khá hiệu quả với các anh trai của Otis trong những tình huống tương tự, nhưng Martha không dám chắc Otis có thể giữ lời hứa của cậu bé.

Cô ước gì Bertie ở đây ngay lúc này để lo liệu cuộc trò chuyện với con trai mình.

“Cháu biết không, Otis,” cô nói, rồi ngồi xổm xuống để ngang với tầm mắt của cậu bé. “Có một số loài động vật phát triển tốt trong điều kiện nuôi nhốt, và một số khác thì không như vậy. Giống như Milky chẳng hạn?” Đám trẻ con nhà Wright được đặc quyền đặt tên cho các con vật trong trang trại, và kết quả thì hoàn toàn dễ đoán trước. “Những chú bò thích có con người ở gần bên để giúp chúng vắt sữa. Cháu không thường xuyên thấy bầy bò lang thang trong rừng hoang dã như loài trâu hay chó sói, phải không nào?”

Otis gật đầu, vẻ mặt trầm ngâm. “Vậy thì châu chấu thuộc nhóm nào ạ?”

“Cô nghĩ châu chấu có thể giống chó sói hơn đấy. Chỉ là ít nguy hiểm hơn. Chúng nhảy nhót một chút thôi, phải không nào? Cô nghĩ không nhiều loài côn trùng quen với việc bị giam cầm trong không gian chật hẹp như những con châu chấu của cháu trong chiếc lọ đó đâu. Một số loài sinh vật chỉ thích sự tự do mà chúng vốn có.”

“Nhưng chúng có buồn không ạ?”

“Cháu đã quan sát và nghiên cứu chúng như cái cách mà cháu từng lên kế hoạch chưa nào?”

Cậu bé gật đầu.

“Vậy thì có lẽ cháu còn biết rõ hơn cô đấy,” cô nói. “Cháu có muốn nghe lời khuyên của cô không?”

“Vâng ạ, cô làm ơn chỉ cháu với.”

“Cô nghĩ nếu là cô!” Martha nói, đứng dậy và nói chuyện với cháu trai nhỏ của mình như thể chính bản thân cậu bé là một bậc phụ huynh hoặc một trong những người lớn tuổi ở nhà thờ, “điều cô sẽ làm là quan sát chúng một lúc nữa và xác định xem chúng có vẻ năng động hơn hay lờ đờ hơn so với lúc cháu mới bắt được chúng. So sánh và tìm kiếm bất kỳ sự thay đổi nào.”

“Điều đó có nghĩa là gì? ‘Xác định’ là sao ạ?”

“Ồ, nó có nghĩa là... quyết định. Hãy quan sát chúng, và dựa trên những gì cháu thấy, cháu có thể tự quyết định xem cháu có nghĩ rằng những con châu chấu có đang buồn hay là không.”

“Cháu nên quan sát chúng trong bao lâu ạ?”

“Cho đến khi cháu nghĩ mình đã có đủ thông tin.”

Cậu bé nghiêm túc gật đầu và nhìn xuống tay mình. “Cô Martha? Nếu cháu xác định được rằng những con châu chấu đang buồn... cô có thể giúp cháu mở lọ để thả chúng tự do không?”

“Tất nhiên rồi, cục cưng. Cháu cứ nói cho cô biết cô có thể giúp gì cho cháu nhé. Chẳng phải cô Martha ở đây là vì những việc đó sao?”

“Cháu cảm ơn cô!”

Otis ngay lập tức trở nên phấn chấn, giờ đây cậu đã có lời giải cho câu đố hóc búa của mình. Cậu quay người định chạy ra ngoài lần nữa thì bị Martha gọi giật lại.

“Khoan đã! Chẳng phải cháu còn có việc thứ ba muốn nói với cô nữa sao, Otis?”

“Hả?” Cậu nhóc ngoái đầu và để cánh cửa đập nhẹ vào người khi đột ngột dừng lại. “Ồ, đúng rồi! Ừm... Ông Everett đang ở đây và ông ấy bảo muốn nói chuyện với cô, ông cứ đứng ở ngoài đợi cháu dẫn vào bếp đấy ạ.”

“Ông Everett sao?” Cô cất tiếng, lau tay lại lần nữa rồi cởi bỏ tạp dề. “Ông ấy vừa từ nhà thờ trở về à? Sao cháu không dẫn ông vào phòng khách?”

“Ông ấy nói muốn gặp cô ở trong này cơ. Trong, ừm...” Cậu bé nhăn mặt lại, cố gắng lục lọi từ ngữ trong trí nhớ. “Trong thế giới riêng của cô. Cháu dùng từ này có đúng không nhỉ?”

“Cô nghĩ là cũng đúng đấy,” cô lẩm bẩm, lộ rõ vẻ bối rối. “Cảm ơn cục cưng. Nhờ cháu ra ngoài mời ông ấy vào nhé?”

Cô treo chiếc tạp dề dính đầy bột lên móc cạnh tủ đựng thực phẩm và quay người ra phía cửa ngoài một cách lóng ngóng. Cô nên làm gì với đôi bàn tay của mình đây? Cô liếc nhìn nồi dầu lớn đang nằm trên bếp. Nó gần như đã sôi sùng sục, và cô nên chiên bánh donut ngay bây giờ. Chẳng hề có thời gian cho một cuộc trò chuyện xã giao. Thật không hiểu nổi Mark Everett đang nghĩ cái quái gì nữa?

Đột nhiên, Martha nhớ lại cái cách ông ta nhìn cô chăm chú ở nhà thờ vào những ngày chủ nhật của vài tuần trước. Mặc dù ông ấy chưa nào lần tiếp cận cô, Martha vẫn cảm thấy ánh mắt ông ta cứ dõi theo mình khi cô nói chuyện với những người hàng xóm khác cả trước và sau buổi lễ. Chuyện đó vốn đã khá đáng ngờ, bởi vì cô không chắc mình đã từng trò chuyện nghiêm túc với người đàn ông ấy, nhưng rồi sau đó, khi mọi người chuẩn bị rời đi, cô đã nhìn thấy ông ta nói chuyện riêng trông có vẻ bí mật với chị dâu mình. Dẫu Martha đã đứng nép lại phía sau, không làm ngắt quãng cuộc trò chuyện, nhưng ngay khi nhận ra ông ấy vừa bỏ đi, cô đã vội vã đến bên cạnh Jennie.

“Ông ta muốn gì vậy chị?” Cô khẽ hỏi.

Jennie cau mày và nhìn theo bóng lưng đang xa dần của người đàn ông. “Ông ta muốn biết hiện em còn làm giúp việc cho ai nữa không.”

Martha bật cười. “Chắc ông ta tưởng em đang muốn kiếm việc làm thêm hay sao ấy nhỉ? Ông ta thừa biết chị có năm đứa con ở nhà với đủ thứ công việc thiết yếu như giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp và...”

Jennie bật cười đồng tình rồi lắc đầu. “Thật lòng mà nói, ai mà biết được người đàn ông đó đang nghĩ gì trong đầu chứ? Em còn nhớ vụ ông ấy đến gặp anh Bertie để bàn về việc đầu tư vào mỏ đá opal (đá mắt mèo) như một thương vụ cầm chắc thắng lớn không? Suy nghĩ của ông ấy dường như luôn viển vông. Thật kỳ lạ là ông ta vẫn xoay xở để sống tốt mà không gây thêm bất kỳ sự hỗn loạn nào.”

Sáng chủ nhật hôm đó, việc Mark Everett dò hỏi về Martha, tuy kỳ lạ nhưng chẳng đáng để lo ngại. Cô gạt chuyện đó ra khỏi tâm trí, đảm bảo rằng nếu ông ấy có tâm ý gì sâu xa hơn thì cô sẽ sớm nhận ra thôi.

Và dường như khoảnh khắc đó đã đến. Chưa đầy một phút sau khi cánh cửa bếp đóng sầm lại sau lưng Otis, nó lại mở ra, và ông Everett lặng lẽ bước vào.

Ông ta cao bằng Martha - hoặc có lẽ thấp hơn một vài phân - với một lọn tóc trắng xóa tạo thành một vòng tròn xung quanh cái đầu hói của mình. Ông ta mang phong thái của một người đàn ông từng khá đẹp trai và quyến rũ nhưng vẫn chưa chấp nhận sự thật rằng thời gian đã bào mòn hết những điều đó.

Martha từng rất thân thiết với bà Everett quá cố, và còn nhớ rõ tang lễ của bà ấy hai năm trước. Nhưng ngoài việc cùng đi chung một nhà thờ, cô chẳng thể nghĩ ra nổi giữa mình và người đàn ông này có lấy một điểm chung nào, lại càng không hiểu lý do tại sao ông ta lại tìm đến căn bếp của cô vào thời điểm rất cận với giờ ăn tối.

“Chào ông Everett?” Cô khách sáo chào hỏi, đứng thẳng người giữa gian bếp. “Chẳng hay có việc gì khiến ông phải đến tận nhà tôi?”

“Quả là một người phụ nữ phi thường,” ông ta thốt lên, dường như đang tự nói với chính mình.

Martha quan sát khi ông ta đảo mắt nhìn quanh nhà bếp, ông đăm đăm nán ánh nhìn lại trên những chiếc bánh donut vẫn đang chờ được chiên, đống khoai tây đang chờ gọt vỏ, và xấp bát đĩa sạch dùng cho bữa tối đã được soạn sẵn để chuẩn bị bày lên bàn ăn. Cô cảm thấy mình nên ngại ngùng về sự chú ý của người đàn ông kỳ lạ này đối với không gian làm việc của mình, nhưng hơn hết, cô lại cảm thấy tự hào. Martha Wright biết chính xác vai trò của mình trong gia đình này là gì, và mỗi ngày cô luôn cống hiến vượt xa mong đợi của họ. Chẳng có điều gì mà Mark Everett có thể nhìn thấy trong gian bếp này khiến cô phải cảm thấy xấu hổ.

Tự hào, và cảm thấy một chút phiền toái vì ông ta đang cản trở cô làm bổn phận của mình.

“Tôi thấy cô sắp nấu bữa tối rồi,” cuối cùng ông ta cũng lên tiếng, sau khi rảo một vòng quanh căn bếp.

“Vâng...”

Cô cố gắng nhìn mọi thứ qua lăng kính của ông, tiếp cận căn bếp từ góc nhìn của một người đàn ông có lẽ đã không tự nấu ăn cho mình kể từ khi... có thể là chưa bao giờ. Mặc dù vợ ông đã qua đời từ hai năm trước, nhưng con gái ông đã đủ trưởng thành để quán xuyến việc nhà và chắc chắn đã thay thế vào vị trí đó.

Cô không muốn lặp lại câu hỏi, cũng chẳng muốn tỏ ra vô lễ với người đàn ông vốn là bậc trưởng lão trong nhà thờ, nhưng đồng thời cô thực sự không thể hiểu nổi ông đang làm gì trong bếp nhà mình. Martha hiếm khi cho phép bản thân được nhàn rỗi, vì vậy việc chờ đợi ở đây, quan sát, không thể tiếp tục công việc của mình ít nhất là cho đến khi vị khách chịu mở lời, quả thực rất khó khăn đối với cô.

“Cô có nghĩ rằng mình thích nấu ăn không?” ông ta đột nhiên hỏi. “Đó có phải là một trong những khoảng thời gian yêu thích nhất trong ngày của cô không?”

“Ồ, tôi...” Cô lắp bắp.

Câu hỏi này có vẻ quá riêng tư khiến Martha không thoải mái để trả lời một cách thẳng thắn. Cô chợt nhận ra rằng khoảng thời gian yêu thích nhất trong ngày của mình là khi được ngồi quây quần bên bàn ăn tối với cả gia đình, hỏi han bọn trẻ về một ngày của chúng, khi Bertie trêu chọc con trai cả hoặc Ellen nói càng lúc càng to hơn cho đến khi có người nào đó chịu chú ý đến cô bé. Một vài trong số những ký ức trân quý nhất của Martha đều thuộc về các khoảnh khắc gia đình đời thường và thân mật như thế.

“Tôi thích nấu ăn, đúng vậy,” đó là tất cả những gì cô cho phép bản thân nói ra.

Lại một khoảng lặng dài nữa trôi qua. Ông Everett dường như đang săm soi cây chổi, cây lau nhà và những chiếc xô chậu của Martha được cất giữ phía sau cánh cửa mà ông vừa bước vào. Cô hoang mang đến mức không thể nghĩ ra nổi một câu hỏi nào để dò xét xem ý đồ của ông ta là gì.

Cuối cùng, ông quay người lại đối mặt với cô, kiêu ngạo ưỡn ngực lên như một con công, và chằm chằm nhìn cô với ánh mắt đầy ẩn ý.

Martha vẫn đứng im, khiên cưỡng bất động, cạnh bếp lò trong khi cô cố gắng chờ đợi ông ta thôi bày trò.

“Tôi đã nghe lén một vài điều cô nói với cậu nhóc,” ông ta bắt đầu.

Martha bực mình vì người đàn ông này thậm chí chẳng buồn tìm hiểu tên của đứa trẻ.

“Và tôi phải nói rằng tôi không đồng tình với cô.”

“Ồ?” Martha không dám tin vào tai mình nên chẳng nói gì thêm.

“Tôi không chắc mọi loài sinh vật đều muốn tự do giống như cái cách cô nói với cậu bé về bầy châu chấu đâu.”

Cô cau mày, không biết phải đáp lại lời khẳng định kỳ quặc đó như thế nào. Họ đang bàn luận về những loài động vật hoang dã, vậy mà ông ta lại tuyên bố rằng chúng không muốn sống trong môi trường tự nhiên?

“Ví như,” ông ấy tiếp tục, “tôi đảm bảo rằng cô đang cảm thấy khó chịu vì thiếu sự bao bọc và trân trọng trong cuộc đời của mình. Cô hẳn phải khao khát có ai đó chăm sóc cho mình, không khác gì cái cách anh trai cô chăm sóc cho... Milky, phải tên nó thế không nhỉ?”

Thuở ấu thơ, Martha từng gặp rắc rối với tính khí dễ nổi nóng của mình. Đến khi lớn lên và học cách không quá để tâm đến mọi chuyện, cô ít nổi giận hơn, nhưng ngay lúc này, việc phải nghe người đàn ông này so sánh mình với một con bò đã khiến Martha vô cùng phẫn nộ. Tuy nhiên, cô đã chín chắn hơn để kiềm chế bản thân và đáp trả có chừng mực.

“Ý ông là gì vậy?”

“Tôi đã ngưỡng mộ cô được một thời gian rồi, cô Wright ạ,” ông Everett tiếp tục, dường như chẳng mảy may để ý đến sự thay đổi trong cảm xúc của cô. “Cô có vẻ là một trong những người phụ nữ tháo vát và đảm đang nhất vùng Juniper Falls này.

“Cảm ơn ông!”

Martha vẫn đứng bất động cạnh bếp lò, cảm thấy bứt rứt khi nhận thức rõ về bao nhiêu việc “tháo vát và đảm đang” mà đáng ra cô phải làm ngay nhưng lại chẳng thể bắt tay vào nếu không muốn tỏ ra khiếm nhã với vị khách của mình.

Ông ta toe toét cười với cô như thể giữa họ có một sự thấu hiểu ngầm nào đó.

Cô liếc nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường rồi nhìn sang mớ bột nhào vẫn đang nằm yên chờ mình.

“Tôi xin lỗi, ông Everett, nhưng muộn rồi. Tôi thực sự cần phải chuẩn bị bữa tối cho gia đình. Tôi không muốn hối thúc ông, nhưng nếu ông có thể nói thẳng lý do tại sao ông đến gặp tôi hôm nay, tôi sẽ rất biết ơn, và những đứa trẻ cũng vậy, chúng rất thiếu kiên nhẫn khi đợi được cho ăn.”

“Một người phụ nữ phi thường,” ông ta thốt lên lần nữa. “Không hề phí hoài thời gian. Tôi cũng rất ngưỡng mộ điểm này ở cô.”

Martha hít một hơi thật sâu và chờ đợi. Nếu cô không kéo dài cuộc trò chuyện nữa, có khả năng ông ta sẽ nói cho xong rồi rời đi nhanh hơn.

“Hôm nay đến đây, điều tôi muốn nói,” ông ta trịnh trọng trình bày, “là tôi đã ngưỡng mộ cô từ lâu, và tôi đã đi đến quyết định rằng cuộc sống của tôi - cuộc sống của chúng ta, bao gồm cả các con của tôi nữa - có thể sẽ được cải thiện rất nhiều nhờ sự hiện diện và chăm sóc của cô. Tôi muốn cưới cô, cô Wright.”

Cách ông ta mỉm cười với cô khi gọi thẳng tên thánh của cô càng khiến Martha căm phẫn hơn, hoàn toàn không liên quan gì đến lời cầu hôn của ông ấy.

Một lời cầu hôn ư!

Trong thâm tâm cô luôn tồn tại một góc nhỏ cảm thấy chạnh lòng vì cô chưa bao giờ có người yêu như những người phụ nữ khác, chưa bao giờ có cơ hội trải nghiệm sự ngưỡng mộ đến từ một người khác giới, đến cả việc được cân nhắc một lời cầu hôn. Nhưng giờ đây khi điều đó cuối cùng cũng đã diễn ra, Martha đã có thể biết chắc không chút nghi ngờ rằng cô có thể sống hết phần đời còn lại mà không cần đến nó.

Sau một khoảng lặng, im ắng đến ngột ngạt, Martha chỉ có thể nói ra điều đầu tiên nảy lên trong đầu mình.

“Chắc ông đang đùa thôi!”

“Tại sao, không, tôi không đùa đâu.” Ông ta bước lại gần hơn, giơ cả hai tay lên để trấn an cô, cứ như thể cô là một con ngựa đang hoảng sợ. “Tôi biết chuyện này có vẻ đột ngột và…”

“Đột ngột ư? Thật không phải phép nếu tôi nghi ngờ ý định của ông, thưa ông,” cô nói, cắt ngang lời ông ấy bằng một giọng điệu sắc lẹm chứa đầy vẻ dò xét mà cô sắp bày tỏ, “nhất là vì tôi chẳng có chút kinh nghiệm nào cho những tình huống tương tự như thế này, nhưng tôi cứ nghĩ rằng một quý ông sẽ bộc lộ tâm ý của mình trước khi nói ra lời cầu hôn.”

Cô gần như cắn đứt từng từ một khi chúng vừa rời khỏi miệng, trong khi vẫn nỗ lực giữ phép lịch sự tối thiểu.

“À, đúng vậy, tôi chắc rằng đó là chuyện thường tình với những người trẻ tuổi, khi họ mới bắt đầu sống chung với nhau. Nhưng cô và tôi không may mắn như vậy, phải không? Tôi đảm bảo rằng cả hai chúng ta đều biết mình trông mong điều gì và không cần phải chờ đợi hay tìm hiểu xem mình muốn dành những năm tháng còn lại của cuộc đời như thế nào nữa.”

“Ông nói điều đó đúng đấy,” cô nói. “Tôi có thể tự tin nói rằng tôi biết mình không muốn kết hôn với ông. Tôi hoàn toàn hạnh phúc với cuộc sống hiện tại, thưa ông, nhưng...” Cô hắng giọng và tự ép bản thân phải nói tiếp. “Nhưng dù sao cũng cảm ơn ông vì đã... cân nhắc đến tôi.”

“Ý cô là sao?” Ông chớp mắt liên tục, như thể cô đang nói một thứ tiếng nước ngoài mà ông ta không tài nào hiểu nổi.

“Ý tôi là...”

Martha nhìn quanh gian bếp một cách vô vọng, khao khát tìm kiếm ai đó hoặc điều gì đó có thể giải cứu cô khỏi tình huống này. Trong tất cả những điều vô lý mà cô có thể tưởng tượng về cuộc đời mình, việc được cầu hôn lần đầu tiên ở độ tuổi xế chiều này đã đủ ngớ ngẩn rồi, nhưng lời đề nghị lại đến từ một người đàn ông ngạo mạn, người mà cô chưa từng có một cuộc trò chuyện riêng tư và gã đó lại ví cô như một con gia súc trong trang trại thì thật vượt quá sức chịu đựng. Một gã đàn ông quá đỗi tự tin rằng mình sẽ được chấp thuận, hiển nhiên tin chắc rằng cô đang thèm khát đến nỗi ông ta chẳng màng đến việc cố gắng tán tỉnh cô dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi.

“Ý của tôi chính xác là những gì tôi vừa nói. Cuộc sống của tôi ở đây, với anh trai, với các cháu trai và cháu gái, là tất cả những gì tôi mong muốn. Tôi không có ý định rời bỏ họ, bất kể có được cầu hôn hay không.”

“Nhưng... nhưng... nhưng chắc chắn cô đã từng mong muốn nhiều hơn cho bản thân mình chứ? Cô hoàn toàn có thể trở thành một người phụ nữ đã kết hôn mà.”

“Tôi cam đoan với ông, ông Everett, rằng những gì tôi đang có tốt hơn rất nhiều so với bất kỳ viễn cảnh nào tôi có thể gặp phải khi ở bên cạnh ông.”

“Tại sao? Ý cô là sao? Tôi đã đinh ninh rằng cô sẽ vô cùng biết ơn vì cuối cùng cũng có cơ hội kết hôn sau quãng thời gian dài bị ruồng bỏ chứ,” ông ta tuyên bố, chẳng một chút ngượng ngùng.

Martha trố mắt nhìn chằm chằm vào ông ta chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi trước khi cơn phẫn nộ tột cùng bùng lên.

“Sao ông dám?” Cô quát lớn.

Martha lùi lại một bước. Cô cần tạo thêm khoảng cách giữa mình và người đàn ông tự mãn, ghê tởm này. Góc bếp đập vào lưng dưới khiến cô khựng lại.

“Tại sao - cái gì cơ?” ông ta lắp bắp.

“Ông, thưa ông, ông không phải là một bậc quân tử khi nói ra những lời như vậy với tôi. Rời khỏi gian bếp của tôi ngay, trước khi tôi phải gọi anh trai vào tống cổ ông ra ngoài.”

“Kìa, đâu cần phải...”

“Bước ra ngoài, tôi nhắc lại!”

Tìm kiếm thứ gì đó, ở bất cứ đâu, để trút cơn thịnh nộ, ánh mắt Martha dừng lại trên mặt bếp. Dùng nhiều lớp váy và lớp lót để bảo vệ tay, Martha chộp lấy tay cầm của chiếc nồi đang đặt trên bếp. Dầu đã sôi, sẵn sàng cho món bánh donut mà cô hy vọng đã làm xong ngay lúc này. Cơn giận dữ vì bị lăng mạ, cộng thêm việc bị trì hoãn và sao nhãng khỏi công việc, đã làm lu mờ lý trí của cô.

Hoặc chí ít đó là những gì cô sẽ trần tình với anh trai và chị dâu sau khi mọi chuyện đã rồi, lúc họ tận mắt chứng kiến những gì xảy ra tiếp theo.

Hai tay nắm chặt lấy quai nồi, Martha quay người lại, mắt trợn trừng giận dữ, rồi lao về phía vị khách không mời mà đến. Hai người đăm đăm nhìn nhau hồi lâu, trước khi ông Everett lóng ngóng lùi lại vài bước, lưng đập vào cửa.

“Đi ra khỏi căn bếp của tôi ngay!” Cô hạ thấp tông giọng, tỏ vẻ rộng lượng - cô nghĩ vậy khi cho ông ta một cơ hội cuối cùng để sửa chữa sai lầm.

“Cô Wright, cô đang làm cái gì thế?”

Đó là một câu hỏi quá quắt, và sau khi đã kiên cường kiềm chế tính khí của mình qua ngần ấy lời mạt sát, Martha không thể nhẫn nhịn thêm được nữa.

Cô nện hai bước chân nặng nề về phía ông ta, tay vẫn giữ chặt nồi dầu đang sôi sùng sục.

Đến lúc này, cuối cùng, ông ta cũng đủ khôn ngoan - không lãng phí thêm thời gian để vặn vẹo cô nữa. Xoay người về phía cửa nhanh đến mức ông suýt ngã nhào, Mark Everett chộp lấy tay nắm cửa, mở tung ra rồi chạy thục mạng ra sân trước của gia đình nhà Wright mà không hé môi thêm bất cứ lời nào.

Martha, với món vũ khí đã chọn trên tay, đuổi sát theo sau.

Ông ấy chạy, chạy nhanh hơn cả tốc độ mà cô có thể hình dung về một người đàn ông ở độ tuổi đó có thể chạy được, và cô thấy thỏa mãn khi thấy ông ta khuất dạng. Ra khỏi nhà vài bước, Martha dừng lại và dường như lấy lại được bình tĩnh. Nồi dầu thực sự khá nặng, và cô vẫn phải chiên mớ bánh donut trước khi bắt đầu nấu bữa tối.

Với vẻ cam chịu trước thực tế rằng lời cầu hôn đầu tiên và cũng là duy nhất của mình lại diễn ra theo một cách đầy điên tiết như thế, Martha quay trở lại gian bếp và tiếp tục công việc của mình. Cô chưa bao giờ bận lòng với việc làm một người phụ nữ độc thân, và chắc chắn bây giờ cũng chẳng phải là lúc để bắt đầu trăn trở về chuyện đó...

Nguyễn Thị Thiên Thanh

Dịch từ bản tiếng Anh

Ca sĩ Bảo Trâm: “Nghệ sĩ chỉ cần đủ kiên nhẫn để không từ bỏ mình giữa chừng”

Ca sĩ Bảo Trâm: “Nghệ sĩ chỉ cần đủ kiên nhẫn để không từ bỏ mình giữa chừng”

Baovannghe.vn - Ca sĩ Bảo Trâm sinh năm 1991, cô từng lọt top 3 cuộc thi Vietnam Idol 2012.
Quan niệm thơ qua di sản thơ ca miền Nam 1954-1975

Quan niệm thơ qua di sản thơ ca miền Nam 1954-1975

Baovannghe.vn - Trong những tháng năm đất nước chia cắt (1954-1975), văn học ở hai miền cũng có những khác biệt trong quan niệm về các chức năng. Ở miền Bắc, nền văn học về cơ bản nhất quán sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Ông Lương Quốc Đoàn tái đắc cử Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa IX

Ông Lương Quốc Đoàn tái đắc cử Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa IX

Baovannghe.vn - Tiếp chương trình đại Hội đại biểu Hội Nông dân toàn quốc lần thứ IX, chiều 8/6, Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã chính thức ra mắt. Ông Lương Quốc Đoàn tái đắc cử Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa IX.
Mở hướng mới trong tìm kiếm hài cốt liệt sĩ

Mở hướng mới trong tìm kiếm hài cốt liệt sĩ

Baovannghe.vn - Ngày 8/6, Ban Chỉ đạo Quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tổ chức Hội thảo xác minh kết luận thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ tại khu vực Nghĩa trang Đô Thành (Chí Hòa - Sài Gòn, nay thuộc Công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng, TP Hồ Chí Minh).
Tổ chức Hội Báo toàn quốc 2026

Tổ chức Hội Báo toàn quốc 2026

Baovannghe.vn - Hội Báo toàn quốc 2026 chủ đề “Báo chí Việt Nam - Trung thành, Sáng tạo, Trách nhiệm trong kỷ nguyên mới” sẽ được tổ chức tại Hải Phòng từ ngày 17-21/6.