![]() |
| Tết trồng cây trên đảo Đá Tây A. |
Trên nền san hô, cát mặn, những tán xanh của bàng vuông, phong ba, cây tra, phi lao… và những luống rau xanh bền bỉ vươn lên đầy sức sống. Màu xanh ấy không tự nhiên có, mà đánh đổi bằng mồ hôi, sự chắt chiu, kiên trì, tình yêu của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Ẩn sau mỗi tán xanh là nỗi nhớ đất liền, là tình cảm đất liền đối với biển đảo. Cây xanh như một vành đai phòng thủ tự nhiên; Cây xanh giữ đất, chắn gió, tạo bóng mát; Cây xanh đồng hành cùng cán bộ, chiến sĩ qua những mùa nắng gắt, bão giông… và tạo nên sức sống Trường Sa...
Đến đảo, chúng tôi tranh thủ đi tham quan một vòng. Cả con đường nằm dưới vòm xanh của cây lá. Nắng và gió muối bị chặn lại phía trên. Những vệt sáng rơi xuống, nhảy nhót. Tiếng lá xôn xao, thứ âm thanh ngỡ như đang ở đất liền chứ không phải giữa biển khơi. Khi tôi hỏi chuyện về màu xanh ở đảo, Trung úy Đặng Tiến Thọ - đảo Trường Sa Lớn, hướng tay ra những hàng cây, tâm sự: “Chỗ này trước đây chỉ toàn san hô và cát thôi, không một bóng cây, trồng được một cây lên đã là quý lắm. Để có được màu xanh như hôm nay là nỗ lực của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ đấy anh ạ.” Tôi nhìn theo tay anh, những thân cây bàng vuông, cây phong ba, cây tra vỏ xù xì, rắn rỏi, thân sậm màu vì nắng gió, dáng cây không thẳng mà hơi nghiêng theo hướng gió biển, như đã quen phải đối diện với sức gió và bão thổi quật suốt nhiều năm. Tán cây ở đây không rậm rạp như ở đất liền mà dày và chắc để có thể chống chọi với gió bão, nắng gắt và hơi muối biển. Tôi dạo bước ra mép đảo, dưới chân là thảm san hô trắng, đó là vỏ của những lớp sinh vật biển hóa thành, vun đắp nên. Mảnh san hô nhẹ và xốp. Tôi đưa tay bóp thử, san hô vỡ thành từng mảnh nhỏ, lạo xạo. Như đọc được ý nghĩ của tôi, Trung úy Đặng Tiến Thọ bảo: “Khu vực mép biển chủ yếu là thảm san hô, nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém, nên trồng cây ở đây vất vả lắm. Cây trồng xuống, tưới nước bao nhiêu, nước thấm xuống bấy nhiêu, có khi vừa tưới xong, quay đi đã khô trắng. Đấy là chưa kể hơi gió muối từ biển táp thẳng vào thân, vào lá non. Khó nhất là mùa nắng, nắng như đổ lửa từ sáng sớm đến xế chiều, mặt đất nóng rát bàn chân, cây quắt lại. Còn mùa bão thì gió gào rít, quật nghiêng ngả.” Thế mà cây vẫn mọc, kỳ diệu thật, tôi thầm nghĩ. Sự kỳ diệu đó được giải đáp sau cuộc trò chuyện của chúng tôi với Thượng tá Phạm Tiến Điệp - Bí thư Đảng ủy, chính trị viên đảo Trường Sa Lớn về quá trình xanh hóa Trường Sa. Anh kể: “Trước đây các đảo gần như trơ trụi. Để xanh hóa Trường Sa là cả một quá trình. Phong trào trồng cây xanh đã được thực hiện rất lâu, từ các thế hệ trước. Từng bao tải đất màu được gửi ra từ đất liền, trải qua một hành trình vượt sóng. Có những chuyến gặp biển động, đất cũng phải che chắn kỹ càng để không bị ướt, như che một thứ hàng hóa quý giá. Mỗi hố trồng phải đào sâu, bỏ xuống một ít đất để cây bám rễ, đất dùng thật tiết kiệm. Có hố trồng ba, bốn lần cây mới sống. Cây trước mọc lên, bao nhiêu lá rụng được các chiến sĩ gom lại, phơi, ủ dùng để lót hố, hoặc đốt lên làm phân hữu cơ trồng lứa cây sau. Mỗi cây trồng xuống đều phải cắm cọc, buộc cây lại bằng dây mềm tránh gió giật làm bật gốc. Mùa mưa bão, các cán bộ, chiến sĩ phải quây lưới quanh những cây nhỏ mới trồng và căng lưới quanh vườn ươm. Có những đêm bão không ai ngủ được, anh em chiến sĩ thay nhau ra kiểm tra từng gốc cây. Sáng ra, hết bão, dựng lại từng cây bị quật nghiêng, thấy có cây bật gốc không cứu được mà tiếc vô cùng.” Tôi nhận ra, trong câu chuyện xanh hóa Trường Sa, không chỉ là chuyện của cây, đó là cách người lính ở đây đối diện với thiên nhiên và với mọi thử thách. Tôi ngước nhìn những thân cây khỏe khoắn, tán xòe rộng, đan vào nhau nhưng một vòng tay xanh mát che chắn đảo, không tưởng tượng được rằng chúng từng là những mầm non run rẩy, bị quật tả tơi trước bão, thân táp nắng mùa khô. Phía sau mỗi tán lá ấy là bao mồ hôi, sự kiên trì, lặng lẽ và biết bao công sức của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ ở Trường Sa. Theo chân Trung sĩ Nguyễn Văn Trường, chúng tôi đến thăm một vườn ươm nhỏ, nép mình sau doanh trại. Những bầu cây bàng vuông, cây tra, mù u, phong ba, bão táp, phi lao xếp thành hàng ngay ngắn như những chiến sĩ đang chờ ngày ra vị trí mới. Một vài chiến sĩ đang tưới nước cho cây. Khi tôi bắt chuyện, các anh vui vẻ: “Ngày nào cũng phải tưới hai lần anh ạ. Đảo này là đảo lớn nên có giếng khoan, có bể chứa nước mưa. Mùa mưa nước ngọt hơn, chứa đầy bể, nhưng đến mùa khô, từng bể và giếng khoan cạn dần. Anh em cán bộ, chiến sĩ phải tiết kiệm từng ca nước, tính toán từng ngày. Nước vo gạo, nước tắm, nước rửa rau đều được dành lại để tưới cây, như dành khẩu phần cho thành viên trong một gia đình.” Ở Trường Sa, hầu hết các loài cây đều được lựa chọn, thử nghiệm, rồi giữ lại, phù hợp với khí hậu khắc nghiệt ở đảo. Tiêu biểu nhất là cây bàng vuông, loài cây đã khắc sâu vào ký ức của những người lính đảo và vào thơ ca. Bàng vuông thân sẫm màu, khỏe khoắn, lá dày bóng. Hoa bàng vuông trắng pha tím nhạt, cánh hoa mảnh như tơ, nhụy dài vươn ra như những tia sáng nhỏ, nở về đêm, hương hoa dịu nhẹ. Quả bàng vuông trở thành món quà quý của những người lính đảo. Tiếp đến là cây phong ba, bão táp, riêng cái tên đã gợi lên sự kiên cường, đối đầu với bão tố. Cây mọc thành từng hàng dọc bờ kè và mép đảo. Thân cây không thẳng mà xoắn lại, vặn mình theo chiều gió biển. Có những hàng cây nghiêng hẳn về một phía, như đang gồng mình bảo vệ đảo. Sau đó là cây tra, lá dày, có thể ăn kèm thịt luộc, vị chát ngọt. Quả tra nâu đen, lính Trường Sa gọi vui là “nho Trường Sa”. Tiếp nữa là cây mù u, phi lao, dừa, nhàu… Mỗi loài một dáng vẻ, một cách thích ứng riêng. Xa đất liền, giữa biển trời mênh mông, một hàng cây xanh, một bóng mát rì rào làm cho người lính có cảm giác thân thuộc như ở quê nhà. Cây như một vành đai phòng thủ tự nhiên; cây giữ đất, chắn gió, bảo vệ công trình, tạo bóng mát; cây đồng hành cùng chiến sĩ qua những mùa nắng gắt, bão dông. Cây xanh là một phần của sự sống. Ở đây, cây không chỉ là cây, cây còn như đồng đội, như một người chiến sĩ.
![]() |
| Bảo vệ cây mùa mưa bão tại đảo Trường Sa Lớn. |
Nếu trồng một cây xanh là cả một cuộc thử thách, thì trồng rau xanh là cả một kỳ công. Phía sau khu nhà ở, doanh trại, khu vườn được quây kín bằng lưới đen để chắn gió bão và hơi muối từ biển thốc vào. Vào bên trong, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng. Những luống rau cải, rau muống, mùng tơi, bí đỏ… đang vươn lên xanh non, mơn mởn. Lá rau dày và tươi, mặt lá còn đọng những giọt nước li ti. Một vài dây mướp bò dọc theo khung lưới, bông hoa vàng nhỏ xíu rung rinh trong nắng. Trên các đảo, đất trồng không có sẵn. Tất cả đất trồng rau đều được gửi ra từ đất liền, gom góp từng bao theo từng chuyến tàu, rồi san sẻ cho từng luống rau nhỏ. Những đảo diện tích hẹp, không đủ chỗ làm vườn, rau được trồng trong khay nhựa, thùng xốp. Từng giọt nước chắt chiu được tưới vừa đủ để đất ẩm mà không lãng phí. Những tấm lưới đen tạo thành vòm mái che chắn phía trên không chỉ để giảm nắng mà còn để cản bớt hơi mặn. Có lần gió mạnh, lưới bị bung, sáng ra cả vườn rau tái đi, mép lá cháy sém. Ở đất liền, rau xanh hiện diện trong bữa ăn như một điều tự nhiên, gần như không ai nghĩ đến hành trình của nó. Còn ở đây, rau hiếm và quý lắm, mỗi cọng rau là thành quả của biết bao công sức và sự kiên trì. Chiều ở đảo Đá Tây, tôi thực sự ngạc nhiên, bởi phía sau doanh trại, một góc đảo như một mảnh quê thu nhỏ. Có cả những bụi chuối thả buồng nặng trĩu, những cây đu đủ đầy quả, rồi chanh, ớt, bí, rau thơm đủ cả. Tôi nhìn mâm cơm, nhìn màu xanh của rau giữa những gam màu mặn mòi của biển và hiểu, rau xanh ở Trường Sa không chỉ là thực phẩm, đó là sự bù đắp cho thiếu thốn, là sợi dây nối giữa đảo xa và đất liền. Những vườn rau được mở rộng dần, có đảo đã tự túc được phần nào nhu cầu rau xanh. Có đảo còn có rau chia cho ngư dân ghé vào tránh trú bão. Giữa biển khơi, một bó rau xanh cũng trở thành món quà quý giá. Sau giờ huấn luyện, sau những ca trực dài, người lính đảo lại tìm đến vườn rau, vườn cây. Người cắt tỉa cành, người nhặt cỏ, bắt sâu, người xách nước tưới. Đó là niềm vui, là khoảng thời gian dịu dàng, là những giây phút thư giãn sau những giờ căng thẳng. Đó cũng là cách để người lính vơi đi nỗi nhớ nhà.
![]() |
| Các chiến sĩ trồng rau xanh ở đảo Đá Đông A. |
Ngày bắt đầu chuyến công tác ra đảo, tôi có ý định sẽ viết một cái gì đó thật lớn lao về đảo, về chủ quyền, về người lính, về những con tàu chiến đấu, tuần tra, tôi chưa từng nghĩ mình sẽ viết về cây, về rau, đó là những thứ nhỏ nhặt thường nhật. Nhưng rồi hôm nay, khi đứng ở đảo, giữa bốn bề biển mặn, tôi lại muốn viết về cây, về rau. Bởi tôi nhận ra màu xanh ở Trường Sa là màu của sự sống kiên cường, màu của ý chí con người trước thiên nhiên khắc nghiệt, màu của sức sống chủ quyền, một lời tuyên ngôn thầm lặng. Tôi nhận ra chủ quyền biển đảo không chỉ là một điểm tọa độ khô khan trên bản đồ, không chỉ là một chấm nhỏ giữa mênh mông xanh thẳm. Trên đảo có cây, có rau, có tiếng trẻ con học bài. Đảo có cuộc sống. Và khi có cuộc sống, chủ quyền không còn là một khái niệm trừu tượng mà hiện diện trong từng nhịp sống. Tôi cứ miên man nghĩ, nếu đảo xa chỉ có cát trắng và san hô, chỉ có những khối bê tông trơ trọi, liệu cảm giác về sự hiện diện của con người, của chủ quyền có mạnh mẽ đến thế? Có những khẳng định không ồn ào nhưng vẫn mạnh mẽ, đó chính là màu xanh Trường Sa, một lời khẳng định chủ quyền bằng sự sống.