Nhưng hình như nó được sự ủng hộ lặng lẽ của thời gian. Hãy nhìn lại, thật thư thái và phục thiện, rồi ta sẽ thấy cái lý hé dần ra. Tuổi trẻ như bấc mới khêu, như trăng mới mọc, như rượu mới khui, cái dào dạt, nồng nàn cứ trào vụt là thế mạnh của họ. Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già. Sự đời là thế. Nhưng đây ta đang nói về thơ. Đang nói về nghệ thuật. Mà nghệ thuật thì ở đâu và thời nào ngoài tình cảm là cái cố hữu, cái bản chất thứ nhất, nếu nó muốn vang xa, nhất định phải cần đến cái bản chất thứ hai, đó là trí tuệ. Thơ luôn luôn là sự tổng hòa hai vế đôi giữa nền tảng tâm hồn và hồn cốt trí tuệ. Đó là ý muốn của thời gian.
![]() |
| Nhà thơ Vũ Quần Phương |
Vũ Quần Phương hẳn cũng có cái dồi dào, cái trào vụt, thậm chí cả những phút nhập đồng, đó là những đặc điểm chung của những người mới đến. Nhưng, anh và những người cùng thế hệ anh còn có một lợi thế khác, đó là sự hình thành con người xã hội thậm chí còn sớm hơn cả con người nghệ sĩ. Cho nên họ không phải mất nhiều thời gian để dò tìm những mẫu số chung. Do những yếu tố gia đình và xã hội, Vũ Quần Phương là người đa cảm nhưng cũng là người cả nghĩ, dào dạt mà lắng sâu, biết tự đòi hỏi và không dễ tự bằng lòng. Đó là phẩm chất và cái chí thú của anh. Trong sổ tay thời chiến của tôi, tôi đã chép khá nhiều thơ của bạn bè, trong đó có Vũ Quần Phương. Bài “Lúc cỏ đang mùa xuân” có cái dư sức của chàng trai 28 tuổi. Hơn nửa thế kỷ qua, đọc lại vẫn còn giữ được cái xúc động nguyên khối ngày nào. Bài thơ ít bị thời gian khấu hao là nhờ ở những đoạn, những câu có sức gợi:
Những gì ta thương yêu
Sau bờ tre kia nhỉ:
Mái nhà và ánh lửa
Tháng ngày ta lớn khôn
Bão giật với mưa tuôn
Bãi bồi và bến lở
Gió lùa qua lịch sử
Vết bùn khô ngón chân
Vạt áo mẹ bao năm
Đã từng lau nước mắt!
Cỏ non – ôi cỏ non!
Bàn tay ta áp chặt
Có gì trong mạch đất
Hỡi hàng thông nghĩa trang!
Đó là những câu thơ tác giả hướng vào hồn mình mà viết, nó có sức, vang động nội tâm làm cột vững cho toàn bài. Mỗi lần đọc lại hai câu Những gì ta thương yêu/ Sau bờ tre kia nhỉ/ tôi vẫn thấy cảm động như hồi nào. Câu hỏi về nhân thế mà lời đáp lại mở ra thế giới tâm hồn của nhà thơ. Chỉ một câu hỏi, ta biết anh thuộc kiểu nhà thơ nào, anh đang quan tâm đến những gì và cung bậc tình cảm ra sao. Một câu hỏi của một nhân cách đã trưởng thành. Hai câu Gió lùa qua lịch sử/ Vết bùn khô ngón chân/ vừa như khoan bài thơ xuống chiều sâu, vừa nhấc bổng suy tưởng của nhà thơ. Đoạn anh nói về người yêu cũng cảm động. Xét về tổng thể, nó có vẻ hơi dời ra. Nhưng do mạch cảm nghĩ cuốn hút, ta thấy nó có cái hợp lý ở cấu trúc nội tại. Ở đây cái tình làm nên sự gần gũi và cái ý làm lên sự loang ха:
Em ơi bao gian nan
Chặng đường ta đã vượt!
Anh chưa phút gần em,
Thời gian như gió lướt
Anh thương con mắt thức
Chúng mình – bao lứa đôi
Em dẫu rất xa xôi
Tình ta anh vẫn gặp
Ngoài đời, trong sách đọc
Nơi nào anh cũng em.
Bài “Trước biển” có phần gần gũi với “Lúc cỏ đang mùa xuân” về mặt cảm hứng. Một loại cảm hứng rất rộng, có thể huy động tài thơ đến bao nhiêu cũng không thỏa, nếu không vững tay sẽ đi lạc vào cái biển mù khơi không bến bờ. Vấn đề được ưu tiên ở đây, là cái biển của đời người, trong đó lời thổ lộ với người yêu được xem như sợi chì luồn khéo tạo nên sự kết dính hợp lý và cần thiết. Bảo là bài thơ tình thì hẳn nhiên, nhưng bảo là lời độc thoại trước biển nhân tình cũng có thể cho là được. Ở bài này cuộc đời rộng lớn với bao khát vọng trở thành chất liệu chính. Nó giống như cái sân phơi thóc. Thóc là hồn, sân phơi là da thịt. Nhưng cái hay của bài thơ này là biển trở thành một hình tượng về cuộc đời rộng lớn, về đất nước, về nhân dân, về lịch sử. Bài thơ có sức níu người đọc vì có sự kết hợp giữa cái riêng tư xa xót với cuộc đời bùn đất trường tồn, giữa cái hữu hạn và vô hạn, nhất thời và vĩnh cữu. Bài thơ cũng thể hiện khát vọng của thi nhân:
Sóng bạc đầu biển vẫn mãi tươi xanh
Khi ta hết cuộc đời kia vẫn thế
Cái lúc ta chẳng được chờ nhau nữa
Gió vẫn vào thầm thĩ lá thông non
Dưới bãi xa con sóng vẫn bồn chồn
Vẫn chờ đợi một cái gì chưa tới
Mặt trời lên, những chân trời lại mới
Những chân trời mờ ảo thuở ngây thơ...
Tâm tình dễ tạo nên tri kỷ. Tố chất này sẽ được Vũ Quần Phương phát huy đậm đặc trong bài “Từ biệt vùng quê sơ tán” được nhiều người khen ngợi những năm chiến tranh. Thơ là cảm nghĩ. Đừng tách nghĩ ra khỏi cảm. Tan nhuyễn giữa cảm và nghĩ chính là phương Đông đấy. Đây là mạch thơ Vũ Quần Phương theo đuổi. Và đó cũng chính là sự trưởng thành sớm. Anh đã từng có nỗi lo lắng. Không nhập vào đời thì thơ héo hắt. Nhập vào đời rồi thì e cái thực tế ngổn ngang sẽ lấn át cái chiều sâu tâm trạng của cá nhân. Sự thật là cả hai đều thống nhất trong một hồn thơ, không thể hy sinh cái nào được. So với bạn thơ cùng lứa, Vũ Quần Phương sớm ngộ ra điều đó. Anh nhanh chóng bớt đi sự kể lể, để tạo tứ. Thơ anh về sau, cô đọng hơn, vì thế mà phức hợp hơn. Dấu ấn của bước chuyển này có lẽ là bài “Dựng nhà trên dãy Hoàng Liên” một bài thơ vào loại hay nhất của Vũ Quần Phương. Một bài thơ toàn bích. Có quá nhiều câu thơ hoa hậu khiến tôi lúng túng không biết chọn câu nào. Thử hỏi bài thơ có cái gì phi thường nào? Chẳng có gì cả. Chuyện nghìn năm. Một tốp công nhân đến dựng nhà trên dãy núi cao nhất nước. Có thể là thợ lâm nghiệp hay làm nghề địa chất gì đó. Đơn giản vậy. Thể mà thành thơ, thơ đặc sắc hẳn hoi. Ngoài các ưu điểm như đã nói ở trên, ở bài này, cái làm nên bài thơ là sự tài hoa, không có tài hoa không làm gì được. Đoạn thơ mở đầu, lấy tình để tạc cảnh, hay khắc cảnh bằng tình đã là một sự sáng tạo. Trời đất được nhìn qua tâm hồn thi sĩ:
Nắng kia là thực hay mơ
Cỏ xanh xanh thực hay ngờ là xanh
Mây bay muôn dặm hành trình
Đến đây mây quấn với mình bên chân
Không gian quên hết xa gần
Thời gian như mới một lần sớm mai.
Không gian quên hết xa gần/ thời gian như mới một lần sớm mai/ Quá tài. Đủ sức làm nên “tiếng sét ái tình” để hút ta vào thế giới trung tâm của bài thơ: Câu chuyện làm nhà. Một cái nhà và những thao tác cụ thể. Nhưng dựng một ngôi nhà cụ thể không phải là việc của tác giả bài thơ này. Dựng một cái nhà vũ trụ mới là dụng công của anh:
Tiếng chàng đục mộng vang xa
Tiếng chày nện cột bay qua lũng đèo
Thời gian thành nhịp của đều
Không gian thành cột thành kèo song song
Thế là một công việc bình thường đã trở nên phi thường là nhờ ở cái tài hoa của tác giả. Câu thơ có thể mở ra nhiều vùng liên tưởng là vì vậy.
Vũ Quần Phương phóng đại chiều kích của người thợ thật tự nhiên, kín đáo, mà rất thơ:
Nóc nhà bác thợ thong dong
Tay các tay thước đo cùng hư vô
Mây bay như biển như hồ
Núi như lớp lớp sóng xô quanh nhà
Quá giang, mộng bắt theo xà
Dẻo dai nút lạt buộc qua chân trời
Mở đầu “sét đánh” như thế rồi. Trung tâm bài thơ tạc dựng lộng lẫy như thế rồi, tôi lo cho tác giả khép lại bài thơ thế nào cho xứng. Đây là câu chuyện bếp núc. Tất cả trở lên là thiên và nhân (trời và người). Vậy theo thuyết Thiên Địa Nhân, lấy đất để khép lại (và mở ra) là hợp lý nhất. Lâu đài tráng lệ đến đâu cũng phải tựa trên cái nền vững ấy. Muôn thuở là nhờ có nền vững. Giọng thơ khép lại vẫn sang, vẫn khoáng rộng, nhưng có thêm cái ấm, cái bền của tình người, cái ấm cài bền ấy lại là sự gợi mở mãi về sau:
Kiểu quen, nhà của bao đời
Thềm hiên bậu cửa chân người vào ra
Ngước nhìn thăm thẳm mây xa
Mây bay vô tận mái nhà con con.
Cao vời quạnh núi xa non
Bỗng nghe thấm thía tâm hồn đất đai.
Bỗng nghe thấm thía tâm hồn đất đai. Có thế chứ. Tôi bỗng thấy nhẹ nhõm giống như ngắm mãi cánh diều giờ mới nhìn ra nơi cắm cọc. Vũ Quần Phương tự ghép mình vào khuôn phép của thể thơ lục bát. Vậy mà nhờ có tài hoa đã hóa giải được mọi sự gò bó, mực thước để trở thành một bài thơ bằng thể thơ truyền thống đẹp và hay.
Trình làng với những bài thơ như thế, cũng coi như một sự đăng khoa. Trường hợp đáng sợ nhất là thiếu niên đăng khoa, thành đạt sớm, tự mình dựng lên một kỷ lục để sau này khó vượt qua. Vũ Quần Phương có cách tự vượt theo kiểu của anh. Thơ anh sau này nhiều thể nghiệm, nhiều tìm tòi. Cái quý nhất, và cũng khó nhất là năng lực phát hiện. Không phát hiện là không lóe sáng. Thơ Vũ Quần Phương triển khai theo nhiều phía, vẫn ấm sự đời, vẫn trân trọng nâng niu mọi báu vật, nhưng viết gì vẫn thấy một Vũ Quần Phương theo đuổi ý tưởng riêng: triết luận về đời sống. Thơ tặng bạn thơ nắm bắt tinh và khá trúng thần thái đối tượng thẩm mỹ, chia sẻ tâm tình nhưng không quên khắc khoải về thời cuộc. Nhiều từng trải, động tĩnh giao thoa, tự nhiên mà cảm động. Có khi chỉ một câu thơ gợi nhớ cả một thời: Thức dậy ở nhà mình mà có khi cũng lạ. Ai một thời lắm chia phôi và xa cách sẽ bắt gặp mình trong câu thơ giàu trải nghiệm này. “Dấu chân Phật” cô đọng, chuyển hóa tài tình:
Tôi nhìn bàn chân Phật
mà thương mẹ vô vàn
mẹ đã vào tịch mịch
dấu chân còn lầm than.
Mở đầu là dấu chân Phật in trên đá, sau rồi và chủ yếu nói dấu chân mẹ lam lũ trên đường đời. Thông điệp của tác giả là như vậy. Hóa ra, đề tài chỉ là cái cớ.
Tấm lòng thường trực với mẹ ấy mới đáng trân trọng làm sao. Đó là mẹ bằng xương bằng thịt của tác giả, cũng là mẹ của mỗi chúng ta. Mỗi người có một ông Phật trong nhà.
Vì tước đi rất nhiều kể lể, thơ Vũ Quần Phương càng ngày càng dụng tới nhiều việc đời nhưng vẫn cô đọng, toát lên nhiều thần thái. Anh giải quyết các mối quan hệ thẩm mỹ khá đắc sách, thơ vững về tứ mà vẫn đậm về tình. Bài Đợi được Huy Thục phổ nhạc, lan tỏa rộng. Trong lời ca, nghe có tiếng nấc. Thoạt đầu là câu chuyện của lứa đôi, một câu chuyện tình được cá biệt hóa. Nhưng chỉ cần hai câu:
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời em quen thành lạ
đã chạm tới biết bao hy sinh của một thời. Hóa ra, trên đất nước này, có bao cặp tình nhân đã biến thành vọng phu, trong những cuộc chiến tranh dài. Nói thế để hiểu bài ca vì sao được nhiều người yêu thích. Cái điệp khúc nước chảy qua cầu được nhắc đi nhắc lại mãi, cốt để tôn cái người đứng đợi phía trên. Nước có khi cạn mà tình thì mãi đầy. Tình yêu và sự chung thủy còn bền dai hơn nước. Một kiểu cảm và nghĩ của Vũ Quần Phương.
Một trang thơ cho ta hình dung cả một hành trình. Có nghiền ngẫm, có trải nghiệm, có phù sa hóa, có thay đổi, có tự vượt. Mới hay, đổi mới là sự vươn lên của tất cả mọi người, chẳng phải đặc quyền của riêng ai.
Hà Nội, chủ nhật 11/7/2020
---------
Bài viết rút từ tập "Ám ảnh chữ"