Xong tọa đàm, nhà văn Nguyễn Khắc Phê tự gọi xe ra ga Đồng Hới, trở lại Huế. Ông không đòi hỏi xe đưa đón, dẫu tuổi cao và là nhân chứng lịch sử, khách mời của địa phương. Tôi ấn tượng về sự khiêm cung ấy.
|
Nhà văn Nguyễn Khắc Phê sinh năm 1939 tại Huế nhưng quê gốc ở xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, nay là xã Sơn Tiến, tỉnh Hà Tĩnh. Sơn Hòa, tên cũ của quê hương nhà văn, từng qua hai lần sáp nhập và từ 1/7/2025 đến nay là cùng với Sơn Lễ và Sơn Tiến thành xã mới là Sơn Tiến.
Tuổi thơ Nguyễn Khắc Phê trải qua thời kỳ biến động cách mạng lớn. Triều Nguyễn kết thúc vào năm 1945, vua Bảo Đại thoái vị, lúc đó ông mới 6 tuổi. Học hết cấp 2, năm 1954, 15 tuổi, Nguyễn Khắc Phê theo anh từ huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh ra Hà Nội để “kiếm đường sống”. Là người có năng khiếu văn chương từ sớm, nhưng theo hồi ức, ông “bắt đầu ôm mộng văn chương trên những đường phố Hà Nội phồn hoa”.
Sau khi tốt nghiệp trường Trung cấp Giao thông, Nguyễn Khắc Phê về “đầu quân” cho đội Cầu 2 thuộc Cục Kiến thiết cơ bản. Đây là đơn vị thi công cầu chủ lực, có lịch sử từ thời chống Pháp. Sau đó là những ngày kỹ sư Nguyễn Khắc Phê có mặt trên công trường cheo leo nơi rừng sâu núi thẳm ở phía Bắc. Rồi đơn vị cầu của ông chuyển về Hà Đông bên dòng sông Đáy và lần lượt vào xứ Nghệ, Quảng Bình (cũ).
“Năm 1963, từ công trình cầu Khe Choang trên đường số 7 (Nghệ An), tôi được Bộ Giao thông - Vận tải điều vào Ban Kiến thiết 212 (còn gọi là “Ban A”) đường 12A Tây Quảng Bình. Lúc ấy tôi đâu có ngờ nơi mình đến rồi sẽ trở thành một địa chỉ nổi tiếng khắp thế giới”, nhà văn Nguyễn Khắc Phê kể lại.
Ông gắn bó với đường 12A - “tọa độ lửa” trên đất Quảng Bình từ đó. Nguyễn Khắc Phê ở trong ngành Giao thông - Vận tải 15 năm. Năm 1974 nhà thơ Xuân Hoàng và nhà văn Trần Công Tấn xin lãnh đạo Sở Giao thông - Vận tải Quảng Bình cho ông chuyển về Hội Văn nghệ Quảng Bình. Ông phân vân trước “ngã rẽ”. Nguyễn Khắc Viện anh trai ông khuyên không nên “chuyên nghiệp hóa” sớm, nhưng cuối cùng Nguyễn Khắc Phê đã “chia tay” ngành Giao thông - Vận tải để bước sang lĩnh vực văn học nghệ thuật.
Có thể nói, gần như cả cuộc đời Nguyễn Khắc Phê gắn với Bình Trị Thiên cũ, nay là Quảng Trị và Huế. Những năm tháng “tuyến lửa” Quảng Bình đã “trui rèn” nên nhà văn Nguyễn Khắc Phê.
|
Ông sống và viết, thành danh cũng nhờ những năm tháng lăn lộn nơi “chảo lửa túi bom” đường 12A. Thực tế cuộc sống, chiến đấu vì mạch máu giao thông ở đây đã “bước vào” các tác phẩm của ông, như: Vì sự sống con đường (ký sự, năm 1968), Đường qua làng Hạ (tiểu thuyết, năm 1976), Đường giáp mặt trận (tiểu thuyết, năm 1976; tái bản năm 1985, 2011), Chỗ đứng người kỹ sư (tiểu thuyết, năm 1980, tái bản năm 2011), Miền xa kêu gọi (tiểu thuyết, năm 1985), Những cánh cửa đã mở (tiểu thuyết, năm 1986, tái bản 2006)...
Nguyễn Khắc Phê được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cũng chính nhờ hai tiểu thuyết Đường giáp mặt trận và Những cánh cửa đã mở.
Cho đến nay, “gia tài” văn học của Nguyễn Khắc Phê là 30 tác phẩm, gồm tiểu thuyết, ký, nghiên cứu phê bình… Năm 2025, NXB Hội Nhà văn xuất bản tập truyện ký Quảng Trị - vùng đất hội tụ của ông (thuộc chương trình “Sách Nhà nước đặt hàng”). Sách bố cục 3 phần: Người đi xa, lòng vẫn hướng về, gồm 14 truyện, ký; Quảng Trị qua những trang sách, gồm 12 truyện, ký; Đường đến Quảng Trị - đường thống nhất, gồm 17 truyện, ký.
Đọc Quảng Trị - vùng đất hội tụ thấy tên đất, tên người, bao trùm là nhân dân anh hùng của dải đất Quảng Bình, Quảng Trị cũ, biết bao người đã hy sinh vì sự nghiệp thống nhất đất nước hiện diện trên những trang viết đầy tự hào, trong những thời khắc lịch sử đặc biệt.
Lịch sử bi hùng hiện lên qua Nơi bắt đầu từ con đường mòn ấy, Trận đầu thử lửa, Ngày và đêm ở C759, Tọa độ lửa ở Trường Sơn, Những người mở đường máu ở phà Gianh, “Bình minh” lại lên đường... Lịch sử sang trang được thể hiện qua nhiều truyện ký như Cửa Việt - Paris một mùa xuân đặc biệt, Ngày hòa bình đầu tiên trên mảnh đất giới tuyến; cho đến những ngày khôi phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lại quê hương được chắt chiu qua Huyền thoại bên Cửa Tùng, Mùa xuân năm Thìn 1976, rồng bay trên đường Thống Nhất...
Trong tình đất, tình người qua lửa đạn, qua kiến thiết xây dựng lại quê hương, nhà văn Nguyễn Khắc Phê cũng dành nhiều trang viết về tình cảm gắn bó, yêu thương giữa những người làm văn học nghệ thuật trên dải đất Bình Trị Thiên (cũ): “Dải đất hẹp Bình Trị Thiên thường được ví như chiếc đòn gánh gánh hai đầu đất nước, không nhiều tài nguyên, không ruộng đất thẳng cánh cò bay, không sân bay, cảng biển lớn để thu hút giới đầu tư quốc tế nên chịu nhiều thua thiệt trong phát triển kinh tế là điều đương nhiên. Nhưng văn nghệ Bình Trị Thiên lại có một chỗ đứng đáng kể trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn học nghệ thuật Việt Nam, kể từ sau Cách mạng tháng 8/1945” (Văn nghệ Bình Trị Thiên - những giá trị trường tồn).
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp “Mặt trận Bình Trị Thiên” đã thành tên gọi thân thương, vùng đất gắn bó máu thịt trong khói lửa, có nhiều tấm gương dũng cảm được cả nước tôn vinh; đồng thời là nơi hội nhiều văn nghệ sĩ tài năng của cả nước.
Nhà văn Nguyễn Khắc Phê không quên nhắc đến thế hệ nhà văn từng sống và viết ở dải đất “Bình - Trị - Thiên khói lửa”. Tình cảm của những người làm công tác văn học nghệ thuật qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ cứu nước là tình cảm gắn bó “chung một mặt trận”, “hạt gạo cắn làm ba”, trong niềm lạc quan, tin tưởng.
Ông phấn khởi khi chứng kiến ở dải đất này một thế hệ nhà văn đang lên. Ông gọi đó những “gạch nối” giữa hôm qua và hôm nay, đang gìn giữ những giá trị trường tồn về văn hóa. Thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước đang vun xới, làm cho “cây” văn học nghệ thuật ngày càng sum suê, đầy hoa trái và có sức lan tỏa trong cả nước.
Nhà văn Nguyễn Khắc Phê lớn lên trong khói lửa, qua sự đùm bọc của đồng bào, đồng chí, nên văn chương của ông từ trước đến nay nhân văn, nâng niu quá khứ, trân trọng hiện tại, hướng thiện và tin tưởng vào những điều tốt đẹp của cuộc sống, góp phần làm trọn thiên chức của văn học.
Tôi chưa có dịp theo ông về cố thổ ở Sơn Hòa (cũ), nhưng biết đó là “đất học Hồng Lam” nổi danh cả nước. Theo thần phả thì dòng họ Nguyễn Khắc xuất xứ từ đất kinh kỳ Thăng Long. Nhưng những cuộc phân tranh Lê - Mạc rồi Trịnh - Nguyễn đã đẩy bách tính khiến dòng họ của ông không tránh khỏi tao loạn. Các bậc tiền nhân phải lần hồi vào đất Nam Đường rồi sang Gôi Mỹ (Hà Tĩnh) định cư lập nghiệp.
Nguyễn Khắc Phê tự hào về dòng họ Nguyễn Khắc nổi tiếng. Thế kỷ 20 phải tính đến Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một trong những hậu duệ xuất sắc của dòng họ. Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm chính là cha của nhà văn Nguyễn Khắc Phê.
Dòng họ Nguyễn Khắc nói chung, đại gia đình Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm nói riêng luôn lấy văn hóa làm tôn chỉ, học vấn, lễ nghĩa làm trọng. Từ đó, bồi đắp nếp gia phong, giáo huấn mọi thế hệ, giữa bao biến cải cuộc đời vẫn sáng một chữ tâm như ánh sáng vầng sao Khuê không bao giờ tắt.
Sinh thời nhà thơ Ngô Minh từng nói: “Nguyễn Khắc Phê là một trong rất ít nhà văn có gốc gác “oách” nhất trong các nhà văn Việt Nam đang sống ở Huế”. Gọi Nguyễn Khắc Phê thuộc dòng “trâm anh thế phiệt” hay gia đình có truyền thống Nho học, cách nào cũng đúng.
Trong gia đình cụ Nguyễn Khắc Niêm có 2 người con vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước; đó là hai anh em: bác sĩ Nguyễn Khắc Viện Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ (năm 2000) và nhà văn Nguyễn Khắc Phê Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (năm 2012).
Tính cách, nếp sống, đối nhân xử thế hàng ngày của Nguyễn Khắc Phê được ảnh hưởng từ môi trường gia đình ấy. Và ngược lại, ông luôn có ý thức giữ gìn giá trị của một gia đình Nho giáo, khoa bảng.
Xuân Bính Ngọ này, Nguyễn Khắc Phê bước vào tuổi 88. Gần 70 năm cầm bút, ông là “một phần” của văn chương khu vực Bắc miền Trung. Ông từng làm Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên Huế.
Mỗi lần vào Huế, tôi vẫn được gặp ông. Vẫn nụ cười hiền hậu, chiếc áo bạc vai, giữa bạn bè văn chương xứ Huế, Nguyễn Khắc Phê như một người anh cả nhân hậu. Nhắc đến những năm tháng xưa trên chiến trường, nhà văn luôn bồi hồi, rưng rưng xúc động.