Vận dụng quan điểm của GS Joseph Samuel Nye Jr (Hoa Kỳ) về sức mạnh mềm, tham luận trình bày cơ hội và thách thức của phát triển sức mạnh mềm và văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số thông minh ở nước ta hiện nay và bước đầu trình bày những suy nghĩ về giải pháp để thực thi Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương khóa XIV về phát triển văn hóa Việt Nam.
![]() |
| Sức mạnh mềm của Văn hóa. Hình ảnh minh họa. Nguồn Internet |
Nghị quyết 80 NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương khóa XIV xác định “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”. Tham luận này, tác giả xin đề cập vấn đề phát triển sức mạnh mềm và văn hóa trong thời đại kỹ thuật số thông minh ở Việt Nam hiện nay.
Khái niệm về “sức mạnh mềm”, kể cả việc xem “sức mạnh mềm” là “quyền lực mềm” trong tiếng Anh chủ yếu dùng chung một cụm từ “soft power” là khái niệm do giáo sư Joseph Samuel Nye Jr (1937-2025) của Hoa Kỳ1 đề xuất, xây dựng thành một lý thuyết. Năm 1989, giáo sư Nye trình bày khái niệm “quyền lực mềm” trong bài báo in trên tạp chí Foreign Policy và năm sau, 1990 trong cuốn sách Bound to Lead. Năm 1999, giáo sư đưa ra một khái niệm cụ thể: Quyền lực mềm là kết quả lý tưởng có được thông qua sức hấp dẫn của văn hóa và ý thức hệ chứ không phải sức mạnh cưỡng chế của một quốc gia có thể làm cho một người khác tin phục đi theo mình, hoặc tuân theo các tiêu chuẩn hành vi hay chế độ do mình định ra để hành xử theo ý tưởng của mình. Quyền lực mềm hay sức manh mềm dựa vào sức thuyết phục của thông tin ở mức độ rất lớn. Gần đây, giáo sư Nye định nghĩa quyền lực mềm như sau: Quyền lực mềm là một loại năng lực, có thể giúp đạt được mục đích thông qua sức hấp dẫn chứ không phải ép bức hoặc dụ dỗ. Sức hấp dẫn này đến từ quan điểm giá trị về văn hóa, chính trị và chính sách ngoại giao của một nước. Theo giáo sư có 3 nguồn lực chính để tạo nên “sức mạnh mềm” của một quốc gia, đó là: nền văn hoá quốc gia, hệ giá trị quốc gia và hệ thống chính sách quốc gia. Trên thực tế, “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm” có khả năng hỗ trợ làm tăng ảnh hưởng cho nhau. “Sức mạnh cứng” có thể giúp phát huy “sức mạnh mềm”, làm cho “sức mạnh mềm” trở nên hấp dẫn. Theo giáo sư Nye, khả năng kết hợp giữa “sức mạnh mềm” và “sức mạnh cứng” sẽ tạo ra “sức mạnh thông minh” (Smart power). Sức mạnh của châu Âu, theo giáo sư Nye, khác với sức mạnh Mỹ và các cường quốc khác, là một thứ sức mạnh có sức hấp dẫn, rất nên lựa chọn mà nhiều quốc gia trong thế giới hiện đại có thể không tính đến.
Theo giáo sư Nye “sức mạnh mềm” là một thuật ngữ thường dùng để chỉ những ảnh hưởng, tác động, can thiệp,… thuộc về những nhân tố văn hóa – xã hội, kể cả những nhân tố tín ngưỡng, tâm lý, truyền thống, giá trị… Đối lập với “sức mạnh cứng” (Hard power), “sức mạnh mềm” là “khả năng đoạt lấy thứ mình muốn thông qua sự hấp dẫn thay vì ép buộc. Nó xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia”. “Sức mạnh mềm” mang tính phi quân sự, phi bạo lực, sinh ra từ sự lựa chọn chứ không phải áp đặt. Nó có khả năng giải quyết tốt các vấn đề từ góc độ văn hóa - xã hội.
Nhìn lại lịch sử quyền lực mềm hay sức mạnh mềm đã xuất hiện từ thời La Mã, khi đế chế này thay vì sử dụng vũ lực quân sự được xem là quyền lực cứng, thì họ đã vận dụng các sức mạnh mềm như “phong tục, ngôn ngữ, hệ thống luật pháp và kiến trúc La Mã như các nhà hát” để khơi dậy sự ngưỡng mộ và khuyến khích người dân. Đến thời kỳ Phục Hưng, “uy tín văn hóa” trong sức mạnh mềm được phát triển mạnh mẽ và trở nên hết sức quan trọng, trong đó sự gắn kết của nghệ thuật và tri thức là điểm nhấn cho giới tinh hoa châu Âu, giúp họ dễ dàng hơn trong thực hiện các mối quan hệ bang giao với bên ngoài. Đến thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX, chính phủ của các quốc gia trên thế giới đã tiếp cận sâu hơn và vận dụng nhiều hơn vốn sức mạnh mềm quốc gia. Trong giai đoạn này, nước Pháp đã trở thành hình mẫu của châu Âu, khi tiếng Pháp đã trở thành “ngôn ngữ” phổ biến trong ngoại giao và văn hóa châu lục này. Điều này phản ánh sự hấp dẫn của văn hóa nước Pháp. Trong khi đó, ở thế kỷ 20, sức mạnh mềm về “tư tưởng” của Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson (Mỹ) với nền tảng thúc đẩy “quyền tự quyết, dân chủ” đã gây tiếng vang lớn, ảnh hưởng đến các chuẩn mực và thể chế quốc tế. Ngày nay, sức mạnh mềm đã được mở rộng và phát triển mạnh mẽ, trở thành công cụ có tính chiến lược để khẳng định vị thế của nhiều quốc gia trên thế giới.
Với nước Hoa Kỳ, theo thống kê cho thấy, các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật đã đem lại nguồn thu cho nước Hoa Kỳ nhiều hơn xuất khẩu vũ khí, vốn được xem là thế mạnh của quốc gia này. Nước Hoa Kỳ ưu tiên đầu tư ngành công nghiệp văn hóa, trong đó xây dựng “đế chế” Hollywood và Broadway thống trị về tư tưởng, nội dung, tiêu chuẩn thẩm mỹ của ngành điện ảnh, biểu diễn nghệ thuật. Theo trang ijert.org, “văn hóa và hệ tư tưởng Hoa Kỳ đang lan rộng ra toàn thế giới và điện ảnh là một phương tiện truyền tải những thông điệp đó”.
Trong khi đó, ở Ấn Độ, cũng theo trang ijert.org, đã ưu tiên phát triển ngành “công nghiệp điện ảnh” trở thành một chiến lược của sức mạnh mềm của quốc gia này. Khá tương tự với Hollywood của Mỹ, Bollywood đã thực sự trở thành một “thương hiệu” của ngành công nghiệp điện ảnh Ấn Độ, trong đó các phim của Bollywood chủ yếu tập trung vào các bài hát, điệu múa truyền thống, câu chuyện tình yêu của quốc gia này.
Ở Trung Quốc, “sức mạnh mềm/quyền lực mềm” bắt đầu được đề cập rõ ràng lần đầu tiên tại đại hội đảng lần thứ 10 của Trung Quốc năm 2007. Khi đó, ông Hồ Cẩm Đào phát biểu: Sự phục hưng lớn của đất nước chắc chắn sẽ đi kèm với sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa Trung Quốc. Năm 2014, ông Tập Cận Bình cũng nhận định rằng: Chúng ta nên tăng cường sức mạnh mềm, đưa ra một câu chuyện hay về Trung Quốc và truyền đạt tốt hơn các thông điệp của Trung Quốc với thế giới. Quyền lực mềm của Trung Quốc tác động chủ yếu thông qua việc lan tỏa văn hóa (Viện Khổng Tử, du học), hỗ trợ kinh tế (vốn ODA, đầu tư BRI), và tuyên truyền truyền thông nhằm gia tăng ảnh hưởng quốc tế. Hình thức này tập trung vào sự hấp dẫn văn hóa, mô hình phát triển kinh tế và các nỗ lực xây dựng hình ảnh quốc gia. Để triển khai vấn đề này, nguồn tài nguyên văn hóa truyền thống đã được Trung Quốc kết hợp linh hoạt với các yếu tố khoa học công nghệ nhằm tạo nên diện mạo hiện đại trong các phương thức xây dựng sức mạnh mềm văn hóa như truyền thông mới, văn hóa sáng tạo; Phương thức triển khai chiến lược sức mạnh mềm của Trung Quốc được tiến hành đa dạng, bổ sung thêm nhiều loại hình mới. Trong đó việc xây dựng mạng lưới nhân sĩ Trung Hoa là một trong những động thái đáng chú ý của Trung Quốc thời Tập Cận Bình bởi lẽ giao tiếp trong mạng lưới có thể tận dụng giao tiếp hai chiều và các mối quan hệ đồng đẳng để vượt qua sự khác biệt về văn hóa, thay vì làm rào cản hay rào chắn, văn hóa được hợp nhất và cách vận hành của mạng lưới. Từ sự mở rộng của nguồn tài nguyên sức mạnh mềm và phương thức triển khai, cơ chế hoạt động của sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc cũng ngày càng được đa dạng hơn. Sức mạnh mềm của Trung Quốc được thể hiện ở nhiều dạng thức khác nhau. Các công cụ của sức mạnh mềm bao gồm các viện Khổng Tử, các hãng báo chí và truyền thông có quy mô toàn cầu như Tân Hoa xã và Mạng truyền hình toàn cầu Trung Quốc CCTV, thể thao, phim trường, công nghiệp giáo dục và văn hóa, tất cả đều do nhà nước kiểm soát. Nhà cầm quyền Trung Quốc cũng sử dụng quyền lực mềm thông qua các kênh văn học, nghệ thuật, điện ảnh, âm nhạc, học giả và các nhân vật thể thao.
Với Hàn Quốc, công việc xây dựng sức mạnh mềm được bằng cách đặt ra mục tiêu trở thành “nhà xuất khẩu văn hóa đại chúng hàng đầu thế giới”. Theo trang martinroll.com, “làn sóng Hàn Quốc” (gọi tắt là Hallyu) đã phổ biến nền kinh tế văn hóa của nước này thông qua xuất khẩu văn hóa đại chúng, giải trí, âm nhạc, phim truyền hình và điện ảnh. Hàn Quốc là một trong số ít các quốc gia trên thế giới đặt mục tiêu trở thành nước xuất khẩu văn hóa đại chúng hàng đầu thế giới và đây là cách để nước này phát triển “sức mạnh mềm”.
Việt Nam đang ở trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử nhân loại, ngoài những đặc điểm có tính đặc thù, Việt Nam có hai đặc điểm giống các quốc gia khác, đó là chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa mà Việt Nam chủ trương là hội nhập quốc tế sâu rộng và đang trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng 4.0) mà tất cả các quốc gia đều chịu ảnh hưởng.Vì thế, đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng một “Sức mạnh mềm” của Việt Nam để vừa định hình vị thế của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, và phù hợp với bối cảnh lịch sử, phát triển của đất nước cũng như xu thế của thời đại. Theo giáo sư Joseph Samuel Nye Jr, có ba nguồn lực của sức mạnh mềm: một là nền văn hoá quốc gia, hai là hệ giá trị quốc gia và ba là chính sách quốc gia, được xem là cửa ngõ để tiếp cận các nguồn lực khác.
Trước hết là nền văn hóa quốc gia. Các thế hệ người Việt Nam đều khẳng định Việt Nam là một nước có một nền văn hóa phong phú, đa dạng và giàu giá trị. Từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi (1380-1442), người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại mà UNESCO vinh danh đã khẳng định: nước ta là một nước văn hiến (Thực vi văn hiến chi bang). Trên lát cắt đương đại, chỉ tính các di sản, hiện nay, Việt Nam có 9 di sản thế giới gồm Quần thể di tích cố đô Huế, Vịnh Hạ Long; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà, Đô thị cổ Hội An, Khu di tích Mỹ Sơn, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ, Quần thể danh thắng Tràng An và hơn 40.000 di tích bao gồm 130 di tích quốc gia đặc biệt, 3.633 di tích quốc gia. Đồng thời Việt Nam có 14 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại gồm Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên(1), Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, Hát Xoan Phú Thọ, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Nghi lễ và trò chơi Kéo co (di sản đa quốc gia), những thực hành nghi lễ liên quanTín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ của người Việt, Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ, Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, Nghệ thuật Xòe Thái, Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam; và 03 di sản cần bảo vệ khẩn cấp: Hát ca trù, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm, Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ. Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch đã xây dựng và thực hiện Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia với gần 600 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh vào danh mục này. Chưa cần đề cập các thành tố khác của nền văn hóa, chỉ cần đề cập hiện tượng các danh nhân văn hóa lịch sử Việt Nam mà UNESCO đã có nghị quyết để các quốc gia thành viên cùng kỷ niệm năm sinh hay năm mất như Nguyễn Trãi (1380-1442), Nguyễn Du (1765-1820), Hồ Chí Minh (1890-1969), Chu Văn An (1292-1370), Nguyễn Đình Chiểu (1822- 1888), Hồ Xuân Hương (1772-1822), Lê Hữu Trác (1724- 1791), Lê Quý Đôn (1726-1784). Có thể khẳng định nền văn hóa quốc gia của Việt Nam đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để trở thành một thành tố của sức mạnh mềm Việt Nam. Mặt khác, sức mạnh mềm của nền văn hóa quốc gia không chỉ bao gồm các giá trị văn hóa truyền thống mà còn có thể tích hợp các yếu tố văn hóa đương đại, như các ngành công nghiệp văn hóa, điện ảnh, âm nhạc và thời trang. Thực tế, việc tổ chức các sự kiện văn hóa nghệ thuật quốc tế, các tuần lễ văn hóa, chương trình giao lưu nghệ thuật và học thuật, hay các sáng kiến bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đều là những hoạt động có thể giúp tăng cường sức mạnh mềm văn hóa, tạo dựng mối quan hệ thân thiện và nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Có tác giả đưa ra thuật ngữ sức mạnh mềm.
Thứ hai là hệ giá trị quốc gia, là một đất nước có quá trình hình thành và phát triển từ lâu đời, trải qua nhiều cuộc chiến tranh cam go và khắc nghiệt, song cũng chính điều này đã tạo ra được một dân tộc Việt Nam luôn có tinh thần yêu nước quật cường, có lòng vị tha, khoan dung và nhân hậu. Những phẩm chất này trong chừng mực là những giá trị phổ quát của nhân loại, nhưng với người Việt Nam vẫn có nét riêng, là một nguồn xung lực tạo ra sức mạnh mềm Việt Nam.
Thứ ba là chính sách quốc gia, 40 năm đổi mới, nhà nước Việt Nam luôn chủ trương một hệ thống chính sách quốc gia: sẵn sàng làm bạn với tất cả các quốc gia. Tính đến tháng 9 năm 2025, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, bao gồm tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc. Trong số các nước và tổ chức đã thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam đã tuyên bố thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 14 quốc gia và 1 tổ chức là Liên minh châu Âu, đối tác chiến lược với 14 quốc gia và đối tác toàn diện với 13 quốc gia. Đồng thời, Việt Nam còn tham gia và đóng góp vào các tổ chức văn hóa quốc tế, như UNESCO, các mạng lưới quốc tế về văn hóa, giáo dục, và nghệ thuật. Một trong những tiềm năng lớn của Việt Nam là khả năng tăng cường giao lưu văn hóa với các quốc gia và khu vực khác. Việc phát triển các chương trình giao lưu văn hóa, đặc biệt là với các quốc gia có nền văn hóa tương đồng hoặc có sự quan tâm đến văn hóa Đông Nam Á, có thể giúp Việt Nam tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng trong khu vực. Việc duy trì và phát triển các mối quan hệ văn hóa với các nước trong khu vực ASEAN, cũng như với các quốc gia lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và các quốc gia phương Tây, sẽ là yếu tố quan trọng để nâng cao sức mạnh mềm của Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam đã tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa thông qua các sáng kiến chung về bảo vệ di sản văn hóa, tổ chức các cuộc hội thảo, triển lãm, và các sự kiện văn hóa quy mô quốc tế. Việc hợp tác với các tổ chức văn hóa quốc tế như UNESCO, Hội đồng Văn hóa ASEAN, hay các tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) từng khẳng định: Sức mạnh mềm Việt Nam là thành phần chủ chốt trong sức mạnh tổng thể của đất nước, ông cho rằng trong thời đại toàn cầu hóa, đất nước đặt mục tiêu tận dụng tài sản để nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu và thúc đẩy phát triển bền vững là điều tất yếu. Vì thế, theo báo cáo của Brand Finance Group về chỉ số sức mạnh mềm toàn cầu năm 2024 (Brand Finance Soft Power Index Report 2024), Việt Nam đã có bước đột phá đáng kể, vươn từ vị trí 69 lên 53 trên bảng xếp hạng 193 quốc gia vừa mới công bố đầu năm 2025. Cụ thể, chỉ số sức mạnh mềm của Việt Nam tăng 1,8 điểm ở tất cả các hạng mục, tăng 16 bậc so với năm trước. Đây là bước tiến đáng khích lệ cho những nỗ lực vượt bậc trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, ổn định chính trị và từng bước nâng cao giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sức mạnh mềm trở thành yếu tố quyết định trong chiến lược đối ngoại của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền văn hóa phong phú và đặc sắc như Việt Nam. Việt Nam, với một nền văn hóa lâu đời, đa dạng và giàu bản sắc, hoàn toàn có thể sử dụng nền văn hóa để thúc đẩy các mục tiêu đối ngoại, gia tăng uy tín và sự tôn trọng từ cộng đồng quốc tế, đồng thời mở rộng ảnh hưởng của mình tại các khu vực và quốc gia khác.
Đầu năm 2010, giáo sư Joseph Samuel Nye Jr đến Việt Nam. Trong buổi thuyết trình về “sức mạnh mềm” và qua nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi với các chính khách, trí thức, doanh nghiệp Việt Nam, giáo sư Nye trả lời nhiều câu hỏi của những người tham dự và khẳng định “Việt Nam là một câu chuyện rất hấp dẫn trong lịch sử về sự dũng cảm của con người cũng như văn hóa. Việt Nam có tiềm năng về “sức mạnh mềm… tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc, chính sách phát triển kinh tế và nền văn hóa có sức lôi cuốn các nước khác một cách mạnh mẽ… Việt Nam có thể tận dụng điều đó cho sự phát triển của mình” (2).
Thời đại kỹ thuật số (Digital age) còn được gọi với các thuật ngữ khác như: thời đại máy tính, thời đại thông tin hoặc thời đại truyền thông mới. Đây là một giai đoạn trong lịch sử nhân loại với sự chuyển đổi từ ngành công nghiệp truyền thống mà cách mạng công nghiệp đã mang lại thông qua công nghiệp hoá, tới nền kinh tế dựa trên tin học hoá. Thời đại kỹ thuật số được hình thành bằng cách tận dụng sự tiến bộ của máy tính. Sự tiến triển của công nghệ trong cuộc sống hàng ngày và tổ chức xã hội đã dẫn đến sự hiện đại hoá các quá trình thông tin và truyền thông, trở thành động lực của tiến hoá xã hội. Các công nghệ số như: máy tính, email, Internet, trò chơi điện tử, video. Năm 2021, tại Hội nghị văn hoá toàn quốc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) đã yêu cầu: Xây dựng môi trường văn hoá số phù hợp nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hoá thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững của đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Khẩn trương phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, xây dựng thị trường văn hoá lành mạnh. Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương khoá XIII, đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 với việc ứng dụng khoa học công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo ghi rõ: “Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc “hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu”. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã ban hành Chương trình số hoá di sản văn hoá Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030; Đề án số hoá lễ hội tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Trong Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa đã rất quan tâm đến việc nâng cao giá trị tác phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật. Nhiều dự án khả thi được ghi trong Chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình “Xây dựng không gian sáng tạo số về tác phẩm Nhiếp ảnh Việt Nam”; Chương trình “Phổ biến tác phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật thông qua các sản phẩm vui chơi giải trí trên môi trường số”; Chương trình “Xây dựng bảo tàng số về văn học nghệ thuật Việt Nam”; Chương trình “Bảo tồn và phát huy giá trị tác phẩm văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam trên nền tảng công nghệ 4.0”; Chương trình “Nghiên cứu, tổng hợp, công bố tác phẩm văn học vì sự nghiệp cách mạng, tiến tới kỷ niệm 90 năm thành lập Nước, 100 năm thành lập Đảng trên nền tảng công nghệ số”. Như thế, phát triển sức mạnh mềm và văn hóa ở Việt Nam hiện nay nằm trong thời đại kỹ thuật số thông minh. Vậy các yếu tố của thời đại kỹ thuật số thông minh tác động đến phát triển sức mạnh mềm và văn hóa thế nào.
Cần thấy xây dựng sức mạnh mềm phụ thuộc rất nhiều vào các thành tố và nội dung kỹ thuật số. Các quốc gia, nhất là các quốc gia có nền kinh tế phát triển đã và đang tận dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo, TikTok, Youtube và Instagram để tương tác trực tiếp với công chúng toàn cầu, quảng bá các giá trị văn hóa của họ, đồng thời định hình nhận thức về hình ảnh và chính sách của họ. Các công cụ kỹ thuật số cho phép các quốc gia sử dụng ngoại giao văn hóa và kinh tế, thiết lập sự hiện diện trực tuyến có ảnh hưởng, góp phần vào sức hấp dẫn và ảnh hưởng tổng thể của một quốc gia trên trường quốc tế. Có thể thấy, trong thời đại kỹ thuật số thông minh, sức mạnh mềm có những tác dụng sau:
Một là, sức mạnh mềm thúc đẩy sự thay đổi nhận thức xã hội một cách nhanh chóng hơn và sâu rộng hơn trước đây về hệ giá trị quốc gia và chính sách quốc gia. Thông qua các phương tiện truyền thông, nội dung số sáng tạo trên mạng xã hội, thông tin về các vấn đề xã hội, môi trường, văn hóa…được lan truyền và thu hút sự chú ý của đông đảo cộng đồng. Người dùng mạng xã hội không chỉ nhận tin mà còn tham gia vào quá trình chia sẻ, phản hồi, tạo ra các cộng đồng cùng chí hướng, từ đó làm tăng cường nhận thức chung và khả năng phối hợp hành động. Sức mạnh mềm trong thời đại kỹ thuật số được cơ hội phát triển nhanh và sâu rộng hơn.
Hai là, khả năng kết nối của sức mạnh mềm trong thời đại kỹ thuật số cũng là điểm nổi bật khi các nền tảng số giúp tạo lập những cộng đồng ảo trên quy mô toàn cầu với những người cùng quan điểm, giá trị và mục tiêu. Ranh giới quốc gia tộc người trong thế giới ảo không có giá trị ngăn cách, mỗi cá thể người có thể kết nối với các thành viên khác thành cộng đồng mà không bị ranh giới quốc gia hay tộc người giới hạn. Điều này không chỉ thúc đẩy sự chia sẻ kiến thức, văn hóa mà còn khởi xướng các phong trào xã hội và các sáng kiến đổi mới cộng đồng. Những nhóm cộng đồng này trở thành động lực quan trọng thúc đẩy thay đổi xã hội, lan tỏa các giá trị tích cực, như: quảng bá văn hóa, bảo vệ môi trường, bình đẳng xã hội, giáo dục... một cách rộng rãi và hiệu quả.
Ba là, sức mạnh mềm còn ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách và hoạt động của doanh nghiệp, cả doanh nghiệp nhà nước lẫn danh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước ngày càng quan tâm đến việc vận dụng sức mạnh mềm trong quản lý và phát triển, thông qua các chiến dịch truyền thông công chúng, xây dựng và quảng bá thương hiệu quốc gia hay thúc đẩy các mô hình kinh doanh bền vững. Trong đó, nhiều doanh nghiệp thay đổi phong cách sản xuất và cung ứng sản phẩm, tăng cường trách nhiệm xã hội và phát triển sản phẩm thân thiện môi trường đáp ứng yêu cầu của cộng đồng tiêu dùng hiện đại, vốn chịu ảnh hưởng mạnh từ các thông điệp lan tỏa trên mạng xã hội.
Bốn là, thông qua các nội dung được lan tỏa trên các mạng xã hội, ý thức về phát triển bền vững được nâng cao, các sáng kiến quảng bá giới thiệu văn hóa được hỗ trợ và lan rộng. Giáo dục trực tuyến và chia sẻ kiến thức mở góp phần tạo nền tảng tri thức rộng lớn cho mọi người, từ đó hỗ trợ các chính sách xã hội và kinh tế, văn hóa hiệu quả hơn. Như vậy, sức mạnh mềm trong thời đại kỹ thuật số thông minh là lực lượng thúc đẩy thay đổi toàn diện trong xã hội hiện đại, mang đến những ảnh hưởng tích cực và bền vững cho nhiều lĩnh vực quan trọng. Sự phối hợp hiệu quả giữa các thành tố của công nghệ kỹ thuật số và sức mạnh mềm sẽ tiếp tục là xu hướng mạnh mẽ giúp các quốc gia và cộng đồng thích nghi, phát triển trong tương lai.
Đồng thời, trong thời đại kỹ thuật số thông minh, nền văn hóa quốc gia đứng trước những cơ hội và thách thức. Nền văn hóa quốc gia chịu tác động sâu sắc của thời đại kỹ thuật số thông minh. Trước tiên, vòng tròn của tác phẩm văn hóa: chủ thể sáng tạo - trung gian (biên tập, xuất bản, đạo diễn, trình diễn...) - khách thể tiếp nhận thì hiện nay trong hệ sinh thái số, vòng tròn này lại thay đổi. Chủ thể sáng tạo có thể trực tiếp đưa tác phẩm đến khách thể tiếp nhận qua mạng xã hội với các hình thức như Facebook, Zalo, TikTok, Youtube và Instagram, ứng dụng đọc sách điện tử hay các cộng đồng trực tuyến. Các kênh số hoá giúp nghệ sĩ chia sẻ trực tiếp tác phẩm của mình với bạn đọc, người xem, người nghe. Sự thay đổi này khiến khoảng cách giữa chủ thể sáng tạo và khách thể tiếp nhận bị thu hẹp, có nơi, có lúc không còn khoảng cách, khách thể tiếp nhận trở thành chủ thể sáng tạo, đồng sáng tạo có khả năng tác động vào nội dung và khuynh hướng sáng tác qua tương tác trực tuyến. Không gian sáng tạo số đang trở thành một xu hướng lớn trong nền văn hóa hiện đại. Đây là một không gian kết nối các văn nghệ sĩ với công nghệ và internet, giúp họ có thể tạo ra các sản phẩm văn học nghệ thuật mới bằng cách sử dụng các công cụ số hóa và phát triển các dự án trực tuyến. Không gian sáng tạo số đòi hỏi các văn nghệ sĩ cần phải tiếp cận với các công nghệ số mới để khám phá các phương tiện mới thể hiện sáng tạo của mình. Hành trình này không chỉ là đưa công nghệ vào việc sáng tác văn học nghệ thuật, mà còn là đưa văn học nghệ thuật vào thiên đường số. Với không gian sáng tạo số, các văn nghệ sĩ có khả năng tạo ra những tác phẩm thú vị và độc đáo bằng cách sử dụng các công nghệ số như máy tính, phần mềm đồ họa, video, âm thanh, hoạt hình, công nghệ thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo và internet. Nó giúp chủ thể sáng tạo nghệ thuật tận dụng và kết hợp các yếu tố của công nghệ số để sáng tạo tác phẩm văn học nghệ thuật một cách tối ưu hơn. Thời đại kỹ thuật số thông minh tác động khiến chủ thể sáng tạo hứng khởi sáng tác tác phẩm. Người nghệ sĩ, nhà văn hóa, các nhà sáng tác văn chương có thể sử dụng các công cụ kỹ thuật số để tạo ra các tác phẩm mới, khó có thể xác định được người nghệ sĩ sáng tạo được bao nhiêu tác phẩm trong một năm, một chu kỳ, nhưng sự thật là các đặc điểm của thời đại kỹ thuật số thông minh tác động không ngừng tới chủ thể sáng tạo. Tư tưởng và cảm xúc của nghệ sĩ ắt chịu tác động thường xuyên, trực tiếp của các phương tiện công nghệ thông tin nên khả năng thích ứng của người nghệ sĩ rất quan trọng. Với chiếc máy tính xách tay (laptop), người nghệ sĩ có thể làm mọi việc ở mọi địa điểm khác nhau, mọi thời gian khác nhau. Hình thức lưu truyền tác phẩm của chủ thể sáng tạo có nhiều: sách điện tử, sách nói, trên mạng xã hội. Sự thành công của ca sĩ Hòa Minzy với ca khúc Bắc Bling đầu năm 2025 là bằng chứng rõ ràng cho sự thành công của nghệ sĩ trong thời đại kỹ thuật số thông minh của Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, các yếu tố của thời đại kỹ thuật số thông minh tác động đến các nghệ sĩ cũng đặt ra những vấn đề đạo đức và sở hữu. Mạng xã hội luôn là một môi trường tạo cơ hội cho nghệ sĩ phát triển tài năng nhưng lại là môi trường khiến thói đố kỵ, ganh ghét tài năng, dùng mạng xã hội để triệt hạ lẫn nhau cũng phát triển. Hiện tượng tưởng đơn giản nhưng không dễ giải quyết là vấn đề bản quyền, nhất là những tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ sáng tạo trong thời kỳ nghệ sĩ dùng bản text là chính. Vấn đề bản quyền cũng là một thách thức lớn. Để bảo vệ tác phẩm trực tuyến tránh khỏi việc sao chép trái phép, cần áp dụng các biện pháp bảo vệ như sử dụng Luật bản quyền, chuẩn hóa các quy tắc về việc sử dụng tác phẩm, và thường xuyên tăng cường kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, của cộng đồng và bản thân các nghệ sĩ, các nhà văn hóa. Sự phụ thuộc vào công nghệ đòi hỏi phải có trình độ kiến thức và năng lực tài chính để đảm bảo tính ổn định và bảo mật của các nền tảng trực tuyến. Bên cạnh đó phải có kế hoạch dự phòng để giảm thiểu nguy cơ mất tác phẩm do sự cố kỹ thuật.
Thứ ba, thời đại kỹ thuật số mở ra một không gian lưu truyền, quảng bá rộng lớn cho tác phẩm văn hóa, nghệ thuật của nghệ sĩ. Quá trình toàn cầu hoá khiến cho thế giới là một “thế giới phẳng” - chữ của Thomas Loren Friedman, nhà báo, nhà chính luận Hoa Kỳ - lại là một xung lực khiến cho không gian này càng rộng hơn. Sự chuyển đổi số khiến việc tổ chức các sự kiện văn hóa nghệ thuật trực tuyến có khả năng kết nối khán giả toàn cầu. Tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ, nhất là tác phẩm âm nhạc, của các nước hoàn toàn có khả năng lan tỏa. Vì thế, thế hệ trẻ tại Việt Nam có thể tiếp xúc, nghe các ca sĩ nước ngoài như Hoa Kỳ, Pháp, Hàn Quốc trình diễn trên mạng xã hội, mà không cần xem/nghe trực tiếp. Tuy nhiên, không gian nghệ thuật như một “thế giới phẳng” này lại là không gian làm hiện hình chân giá trị thực của nghệ sĩ, của diễn viên, một sơ xuất nhỏ có thể khiến cho hình ảnh của nghệ sĩ, của diễn viên nhoè đi, sai lạc trong thoáng chốc. Sự chuyển đổi số có thể bao gồm việc sử dụng hiệu ứng đặc biệt, công nghệ số hoá để cải thiện diễn xuất của diễn viên trên sân khấu, trong tác phẩm điện ảnh, tác phẩm âm nhạc. Đồng thời, trải nghiệm tương tác giữa khán giả, công chúng với tác giả, với nghệ sĩ sẽ tăng lên rất nhiều, tạo cơ hội cho công chúng, khán giả tham gia vào sáng tạo nghệ thuật, trình diễn nghệ thuật, hoặc trải nghiệm thực tế ảo. Mức độ và tỷ lệ chuyển đổi số trong nghệ thuật phụ thuộc vào mục tiêu của nghệ sĩ hoặc tổ chức nghệ thuật và lĩnh vực cụ thể của nghệ thuật. Không gian trình diễn, quảng bá nghệ thuật tạo cơ hội cho nghệ sĩ, cho tổ chức nghệ thuật sáng tạo, cho khán giả, người xem nhưng cũng là thách thức không nhỏ cho chính chủ thể sáng tạo và khách thể tiếp nhận của nghệ thuật. Không phải không có xu thế quá trình đồng sáng tạo của khách thể tiếp nhận khiến cho quá trình sáng tạo của chủ thể sáng tạo bị ảnh hưởng, bị nhạt nhoà.
Tựu trung, phát triển sức mạnh mềm và văn hóa trong thời đại kỹ thuật số thông minh khiến Việt Nam đứng trước thời cơ và thách thức, chúng ta có thể tạo ra sức mạnh mềm Việt Nam có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế của các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
Để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh vững bước tiến vào kỷ nguyên mới đòi hỏi rất nhiều điều để làm, khai thác và phát huy được vai trò của “Sức mạnh mềm Việt Nam”. Và điều này, trước hết cần có một “Chiến lược tổng thể về Sức mạnh mềm”. Để phát huy sức mạnh mềm trong thời đại công nghệ số, Việt Nam cần tập trung vào những nội dung sau: Một là, sử dụng các hình thức của công nghệ truyền thông hiện đại, ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin để sáng tạo nhiều loại sản phẩm văn hóa. Thời đại kỹ thuật số với các công nghệ như Internet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn (big data) tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát huy sức mạnh mềm qua ngoại giao công chúng và xây dựng thương hiệu quốc gia. Đây là nền tảng giúp lan tỏa hình ảnh đất nước nhanh chóng, đối ngoại hiệu quả và tạo ảnh hưởng rộng rãi; Hai là, quảng bá và phát huy giá trị văn hóa và chính sách đối ngoại. Việt Nam cần tập trung nâng cao và phát triển giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời có chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo, giữ vững độc lập chủ quyền trong quan hệ quốc tế. Chính sách này góp phần tạo niềm tin và thiện cảm từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ, đang phát triển; Ba là, tăng cường công tác truyền thông đại chúng, truyền thông đa phương tiện và phối hợp liên ngành, phối hợp các cơ quan trung ương và các địa phương để nâng cao nhận thức về sức mạnh mềm, đẩy mạnh truyền thông qua các mạng xã hội phổ biến như Twitter, Facebook, Youtube giúp quảng bá hiệu quả các giá trị văn hóa, con người Việt Nam; Bốn là, tập hợp sức mạnh nội tại, đoàn kết dân tộc: sức mạnh mềm Việt Nam cũng dựa vào giá trị tự thân như tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc, sự cảm hóa và đoàn kết dân tộc. Đây là nguồn lực tạo nên sức ảnh hưởng bền vững và sự đồng thuận trong phát triển đất nước. Những bài học này giúp Việt Nam phát huy hiệu quả sức mạnh mềm trong thời đại số, góp phần nâng cao vị thế quốc gia và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng 4.0); Năm là tranh thủ sự đồng thuận của người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là các nhân vật có uy tín và ảnh hưởng tại các quốc gia mà họ sinh sống, tạo cơ hội để họ sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam, hệ giá trị Việt Nam với bạn bè quốc tế. Làm sao để mỗi người Việt Nam ở nước ngoài là đại sứ, là thành viên không thể thiếu của xây dựng và lan tỏa sức mạnh mềm Việt Nam ở các quốc gia trên hành tinh hiện nay.
Phát triển sức mạnh mềm và xây dựng một nền văn hóa Việt Nam nhân văn, truyền thống và hiện đại là công việc lớn, một vấn đề có tính lý luận và thực tiễn trong thời đại cả dân tộc bước vào một thời kỳ phát triển mới của đất nước, thực hiện nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý mà những suy nghĩ của tôi chỉ là một phác thảo, mong nhận được sự trao đổi của quí vị.
-------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Văn Hoàng, Phát huy sức mạnh mềm trong thời đại số, trang Web Quản lý nhà nước.vn ngày 14/10/2025.
2. Ly Lam, Để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam, Doanh nhân Sài Gòn Cuối Tuần ngày 13/02/2010
3. Joseph Nye Jr.: How Sharp Power Threatens Soft Power (Sức mạnh cứng rắn đe dọa sức mạnh mềm như thế nào?), Foreign Affairs, 24 January 2018. Người dịch: Huỳnh Hoa
4. Joseph Nye Jr: Việt Nam có nhiều lợi thế tạo nên "sức mạnh mềm", Việt Nam Net ngày 16/11/2007
5. Nguyễn Thị Thu Phương & Nguyễn Cao Đức (Đồng chủ biên), “Sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022
6. Đặng Đình Quý, “Sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế và sức mạnh mềm Việt Nam trong giai đoạn mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 2/1/2024
7. Hồ Sĩ Quý, Về “sức mạnh mềm” Việt Nam, Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 2/6/2019
8. Phạm Thủy Tiên, Quyền lực mềm (Soft power) in trong Đào Minh Hồng, Lê Hồng Hiệp (đồng chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2013).
9. Chử Thị Bích Thu & Trần Thị Thủy đồng chủ biên, Sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc thời Tập Cận Bình và ứng xử của Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2022
------------
*Trường Đại học Văn hóa TP.Hồ Chí Minh
Bài viết từ Hội thảo khoa học quốc gia : Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới:Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80 NQ-TW của Bộ Chính trị