|
Đó là câu thầy giáo ngôn ngữ nói với chúng tôi, khi thấy lũ chúng tôi xanh rớt, gầy nhom đang chăm chú vào những trang sách hay ngước những đôi mắt tròn nhưng có phần mệt mỏi, lắng theo lời giảng của thầy trên bảng. Chúng tôi đang sống trong thời bao cấp!
Bao cấp là gì? Chúng tôi không tìm hiểu nhiều về nó. Chỉ biết, đó là thời kỳ đất nước sau ngày chiến tranh và chúng tôi cũng bước vào tuổi mười tám, đôi mươi, cái tuổi ham ăn, ham ngủ nhưng chúng tôi thiếu và đói.
Tôi không muốn ôn nghèo, kể khổ gì, tôi và bạn bè từng nhủ: Những gì đã qua cho nó qua đi hay để nó chìm sâu vào lớp bụi thời gian, chúng ta cần tiến về phía trước. Thoảng có nhớ lại thì chỉ để mà thương, để thấy những phút giây ta đang sống là hạnh phúc!
Nói là quên đi nhưng tình cờ bắt gặp một hình ảnh nào đó hay ai nhắc một điều gì đó, ta lại nhớ những ngày tháng đã trôi xa, nhớ lại thời bao cấp.
Không chỉ riêng tôi mà tất cả những ai đã trải qua thời bao cấp đều thấy đó là một thời đầy khốn khó.
Tôi nhớ, sau ngày đất nước thống nhất, quê hương không còn bom đạn, cha mẹ tôi lại trở về quê, quê hương là nơi ta bấu víu qua ngày khốn khó. Làng quê dù nghèo khó vẫn cưu mang những đứa con xa. Hồi ấy, quê tôi cũng vào hợp tác xã, mọi người làm chung và hưởng theo công điểm. Đói, đói deo, đói dắt, đói mờ cả mắt! Nồi cơm chưa bao giờ hết đồ độn, hết khoai lại sắn, mùi khoai sắn khô hấp cơm, nhất là mùi sắn, đọng lại trong tâm trí tôi đến tận bây giờ! Tôi không hiểu vì sao vậy! Chúng tôi từng ước có một bữa cơm gạo trắng, không có đồ độn. Cứ ước mơ và mãi chỉ là ước mơ!
Trong khi cha mẹ và những em tôi về quê thì tôi ở lại thành phố, tôi đang học ở một trường phổ thông tại thành phố. Là dân thành phố, chúng tôi được cấp sổ gạo. Tôi nhớ không rõ lắm, hình như mỗi tháng chúng tôi được mua 13kg, 14kg gạo gì đó mà trong đó đồ độn chiếm 30-40%. Đồ độn của chúng tôi thời ấy là sắn khô, lát rất dày, bo bo và thỉnh thoảng lại có bột mì. Với chúng tôi, tháng nào có đồ độn bột mì là may mắn lắm!
Sổ gạo rất quan trọng vì có sổ mới mua được gạo, được cấp lương thực, bên ngoài không ai bán hoặc có bán lại là bán chui, bán lủi và rất đắt. Vì vậy, mất sổ gạo là một điều gì đó rất khủng khiếp và người ta rất đau buồn. Chính vì vậy mỗi lần thấy ai buồn người ta hay nói: “Mặt buồn như mất sổ gạo!” Câu nói này còn theo chúng tôi đến tận bây giờ. Mua gạo thì phải sắp hàng, đứng từ sáng tới trưa không dám rời chỗ. Có người bận quá, đặt vào vị trí mình cục gạch nhờ người trông hộ. Có lẽ, từ “đặt gạch” ra đời từ chuyện này.
Tôi nhớ mãi những tháng ngày chúng tôi ăn hạt bo bo, sau này tôi mới biết nó là hạt ý dĩ để cho ngựa ăn. Thời đó chúng tôi đói nên hầm hạt bo bo rất vội, cứ đun lửa thật to cho mau chín nhưng càng đun hạt càng cứng, ăn khó tiêu. Tôi đâm ra ghét hạt bo bo. Ghét thì ghét nhưng cứ phải ăn, không ăn thì đói. Chúng tôi làm cách này hay cách khác để ăn được hạt bo bo. Rồi chúng tôi cũng biết cách: Để bo bo mềm phải đun cho thật sôi rồi tắt lửa, đậy kín để hạt nở ra. Sau đó có thể nấu cùng gạo hoặc phi hành mỡ cho vào, hạt bo bo mềm và ngon hơn. Cứ thế rồi ngày tháng cũng dần qua!
Chúng tôi thích bột mì, bột mì có thể hấp cơm, nướng hoặc nấu bánh canh. Nhưng ăn mãi cũng ngán. Tôi nhớ hồi ấy để kéo dài ngày ăn, chúng tôi thường luộc rau muống ăn kèm. Một lần, tôi sang nhà người cô bà con, cô ấy là y tá, thấy cô vặt hết lá rau muống, chỉ chừa cọng rồi cắt khúc cho vào nồi bánh canh. Tôi nhìn vào thấy một nồi vừa bột, vừa rau lổn nhổn như nồi cám lợn. Tôi về kể với nội tôi. Nội tôi bảo: O mi quá tiết kiệm! Mãi sau này, khi lớn lên, tôi mới thấy o đã nấu rất khoa học. Nồi bánh canh vừa có bột, vừa có chất xơ vừa đỡ ngán lại kéo dài ngày ăn.
Không chỉ chúng tôi mà những người ăn lương nhà nước hồi ấy cũng có những bi hài kịch của mình. Tôi nhớ mãi câu chuyện bác họ tôi kể: Cơ quan bác, thỉnh thoảng, được mua hàng phân phối. Cơ quan đông nhưng lượng hàng lại hạn chế. Hàng hồi ấy là săm, lốp, phích nước và một số mặt hàng khác… Họ phải bốc thăm. Kẻ trúng, người trật, nhiều chuyện bi hài xảy ra xoay quanh việc mua hàng theo lối bốc thăm này. Có người bốc thăm trúng mừng như trúng xổ số, người bốc hụt mặt buồn như cha chết! Đến áo may ô hay khăn mặt, xà phòng cũng phải bốc thăm. Anh này trúng thăm có áo để mặc, anh kia thì không dù áo đã rách. Chuyện thật dở khóc dở cười nhưng cái cười ra nước mắt!
Nói vậy, nhưng thời bao cấp không phải chuyện gì cũng xấu. Bên cạnh những khiếm khuyết, thời bao cấp cũng có những ưu điểm của nó hay chính tôi luôn muốn tìm ra những điều tốt đẹp trong cuộc sống này!
Tôi nhớ, hồi ấy chúng tôi đi học không phải nộp học phí, sách được mượn ở thư viện trường trong suốt năm học, cuối năm mới trả. Chính vì vậy chúng tôi giữ gìn sách vở cẩn thận, sách được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác, chứ không thay từng năm như sau này.
Riêng là sinh viên, chúng tôi không những không nộp học phí mà còn được hưởng học bổng từ trường, dù chỉ 45 đồng một tháng. Tuy học bổng ít ỏi nhưng nó thể hiện sự quan tâm, giúp đỡ của nhà nước đối với sinh viên để con em của mọi gia đình, mọi hoàn cảnh đều có thể đến trường, được học hành và được thực hiện ước mơ của mình.
Thời bao cấp đã qua, giờ đây việc mua gạo, thịt không phải xếp hàng đợi lượt, cơm trắng ngày xưa là giấc mơ giờ thành hiện thực, “Mặt buồn như mất sổ gạo” chỉ là câu nói để cười chứ không còn để khóc….
Câu của thầy tôi xưa “Đời là ước muốn…” vẫn là câu nói hay, đúng với quy luật tâm lý của con người. Khi nhắc, tôi lại nhớ một thời tôi đã trải qua, một thời đầy khốn khó, một thời để nhớ mà thương!