![]() |
| Bà Nguyễn Thị Việt Nga - Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng. |
- Thưa bà Nguyễn Thị Việt Nga (đại biểu), đã đến lúc cần một khuôn khổ pháp lý riêng cho công nghiệp văn hóa hay chỉ cần sửa đổi các luật liên quan hiện hành?
- Theo tôi, đã đến lúc phải đặt vấn đề xây dựng một khuôn khổ pháp lý mang tính tổng thể, thống nhất và có tính đặc thù cho công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, điều đó không nhất thiết đồng nghĩa với việc lập tức ban hành một đạo luật riêng, tách biệt hoàn toàn khỏi hệ thống pháp luật hiện hành. Hướng đi phù hợp hơn là vừa rà soát, sửa đổi đồng bộ các luật có liên quan, vừa nghiên cứu xây dựng một đạo luật hoặc một khuôn khổ pháp lý chuyên biệt khi các điều kiện thực tiễn đã chín muồi.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết cho sự phát triển bền vững đất nước; đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển hệ sinh thái văn hóa, công nghiệp văn hóa và công nghiệp sáng tạo mang bản sắc Việt Nam. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng xác định mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp của các ngành này lên khoảng 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Đây không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà là sự chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển: Văn hóa không đứng bên ngoài nền kinh tế, mà có thể trở thành một sức sản xuất trực tiếp, một nguồn “tài nguyên mềm” có khả năng tái tạo gần như vô tận.
Hiện nay, hoạt động công nghiệp văn hóa đang chịu sự điều chỉnh của nhiều luật như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Quảng cáo, Luật Xuất bản, pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai, khoa học công nghệ và giao dịch điện tử... Nhưng sự phân tán ấy dẫn tới tình trạng mỗi ngành có một cánh cửa pháp lý riêng, trong khi sản phẩm văn hóa hiện đại lại thường đi qua rất nhiều cánh cửa: từ sáng tạo, sản xuất, đăng ký quyền, huy động vốn đến phân phối trên nền tảng số và xuất khẩu.
Vì vậy, theo tôi trước mắt cần xây dựng một chương trình lập pháp tổng thể về công nghiệp văn hóa, xác định rõ khái niệm, phạm vi ngành nghề, mô hình quản lý, chính sách đầu tư, ưu đãi và trách nhiệm của các chủ thể. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Quốc hội có thể cân nhắc ban hành Luật Công nghiệp văn hóa. Một đạo luật như vậy phải đóng vai trò “nhạc trưởng”, tạo sự liên thông giữa các lĩnh vực, chứ không làm phát sinh thêm thủ tục hoặc những lớp giấy phép mới.
Điều quan trọng nhất là thể chế phải thực sự giải phóng sức sáng tạo. Pháp luật không thể sáng tác thay nghệ sĩ, nhưng có thể tạo nên mảnh đất lành để tài năng nảy nở, để một câu chuyện dân gian, một làn điệu cổ, một tác phẩm văn học hay một ý tưởng của người trẻ có thể bước ra, tỏa sáng ở thị trường rộng lớn và mang theo trong mình căn cước Việt Nam.
- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ, chúng ta còn thiếu một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế để chuyển sức sáng tạo văn hóa thành động lực tăng trưởng. Theo đại biểu, bên cạnh việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cần ưu tiên những đột phá nào về pháp luật để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa?
- Hệ sinh thái văn hóa chỉ hình thành khi pháp luật kết nối được người sáng tạo với doanh nghiệp, nguồn vốn, công nghệ, dữ liệu, thị trường và công chúng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra khoảng trống về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực khiến sức sáng tạo văn hóa chưa chuyển hóa đầy đủ thành sức sản xuất mới. Bởi vậy, đột phá trước hết phải là chuyển từ tư duy chủ yếu “quản lý hoạt động văn hóa” sang tư duy vừa quản lý, vừa kiến tạo thị trường và nâng đỡ sáng tạo.
Đột phá đầu tiên là hoàn thiện pháp luật về đầu tư và tài chính cho công nghiệp văn hóa. Do giá trị cốt lõi của sản phẩm văn hóa nằm ở ý tưởng, bản quyền, thương hiệu và tài năng - những tài sản vô hình khó định giá - cần có cơ chế định giá tài sản trí tuệ, cho phép sử dụng quyền tác giả và tài sản số để góp vốn, tiếp cận tín dụng; đồng thời hình thành quỹ đầu tư sáng tạo, quỹ bảo lãnh và chính sách thuế ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn.
Đột phá thứ hai là đổi mới cơ chế Nhà nước đặt hàng, tài trợ và khoán chi theo hướng lấy chất lượng, giá trị xã hội và sức lan tỏa của tác phẩm làm thước đo, thay vì các định mức hành chính; bảo đảm công khai, minh bạch trong tuyển chọn và nghiệm thu, vừa khuyến khích sáng tạo, vừa ngăn ngừa thương mại hóa cực đoan.
Đột phá thứ ba là xây dựng hành lang pháp lý cho các không gian sáng tạo văn hóa, tháo gỡ rào cản về đất đai, hạ tầng, biểu diễn, hợp tác quốc tế và tăng cường phân cấp cho địa phương để hình thành hệ sinh thái sáng tạo.
Cùng với đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia đồng bộ, kết nối và khai thác hiệu quả. Dữ liệu, di sản sau số hóa phải trở thành nguồn lực cho giáo dục, du lịch, điện ảnh, thiết kế, truyền thông và trí tuệ nhân tạo, trên cơ sở bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ và chủ quyền văn hóa quốc gia. Khi những điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ, văn hóa sẽ không chỉ được gìn giữ như ký ức mà còn trở thành động lực sáng tạo và tăng trưởng của đất nước.
- Việt Nam có bề dày lịch sử và sự đa dạng về bản sắc, do đó dư địa để Việt Nam phát triển công nghiệp văn hóa là cực kỳ lớn. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên AI và kinh tế số, nhiều sản phẩm văn hóa Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ sao chép, khai thác trái phép trên môi trường mạng. Theo đại biểu, đâu là khoảng trống pháp lý cần được ưu tiên lấp đầy để bảo vệ bản quyền và chuyển sức sáng tạo văn hóa thành giá trị kinh tế?
- Trong nền kinh tế số, một tác phẩm có thể vượt qua biên giới chỉ bằng một cú chạm, nhưng cũng có thể bị sao chép, cắt ghép, xuyên tạc và khai thác thương mại trái phép trong vài giây. Bởi vậy, bảo vệ bản quyền ngày nay không chỉ là bảo vệ quyền lợi của từng tác giả, mà còn là bảo vệ nguồn lực sáng tạo quốc gia. Khi người sáng tạo không thể sống bằng thành quả lao động của mình, mạch nguồn sáng tạo sẽ dần bị bào mòn; khi bản sắc văn hóa bị khai thác tùy tiện, chúng ta có thể đánh mất giá trị ngay trên chính “mỏ vàng” văn hóa của mình.
Tôi cho rằng khoảng trống đầu tiên cần lấp đầy là cơ chế xác định trách nhiệm của các nền tảng trung gian. Pháp luật cần quy định rõ nghĩa vụ tiếp nhận, xử lý nhanh yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm; cung cấp thông tin về chủ thể đăng tải khi có yêu cầu hợp pháp; áp dụng công nghệ nhận diện nội dung; ngăn việc tái đăng tải những tác phẩm đã được xác định là vi phạm. Không thể để nền tảng hưởng lợi từ lưu lượng truy cập và quảng cáo nhưng lại đứng ngoài trách nhiệm đối với nội dung trái phép được phổ biến trên hệ thống của mình.
Khoảng trống thứ hai liên quan trực tiếp đến trí tuệ nhân tạo. Luật Trí tuệ nhân tạo đã có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực từ ngày 1/4/2026 đã tạo thêm cơ sở cho việc điều chỉnh các quan hệ mới. Đây là hai đạo luật khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ trong việc điều chỉnh hoạt động sáng tạo, khai thác dữ liệu và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường AI.
Tuy nhiên, thực tiễn công nghệ luôn vận động nhanh hơn những khuôn khổ pháp lý đã định hình. Vì vậy, cần tiếp tục cụ thể hóa các quy định về việc sử dụng tác phẩm, bản ghi, hình ảnh, giọng nói và các đối tượng được bảo hộ để huấn luyện mô hình AI; quyền được biết, quyền cho phép hoặc từ chối của chủ thể quyền; nghĩa vụ minh bạch về nguồn dữ liệu; cơ chế cấp phép và phân chia lợi ích; cũng như trách nhiệm pháp lý khi hệ thống AI tạo ra nội dung sao chép, mô phỏng hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả, nghệ sĩ và cộng đồng sáng tạo.
Khoảng trống thứ ba là năng lực thực thi. Quyền đã được ghi nhận nhưng nếu tác giả phải mất nhiều năm và chi phí lớn để chứng minh hành vi xâm phạm thì quyền ấy vẫn rất mong manh. Cần phát triển cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến, thủ tục rút gọn đối với vụ việc rõ ràng; nâng cao mức bồi thường tương xứng với lợi ích bất hợp pháp; tăng năng lực giám định, thanh tra và xét xử chuyên sâu về sở hữu trí tuệ. Đồng thời, cần hoàn thiện hệ thống đăng ký, định danh và truy vết tác phẩm bằng công nghệ số, giúp chứng minh thời điểm sáng tạo, chủ sở hữu và lịch sử khai thác.
Bên cạnh đó, cũng cần đặc biệt quan tâm đến tri thức truyền thống, văn nghệ dân gian và biểu đạt văn hóa của cộng đồng. Không thể để một họa tiết, làn điệu hay nghi lễ được gìn giữ qua nhiều thế hệ bị một chủ thể chiếm dụng, đăng ký độc quyền và thương mại hóa mà cộng đồng sáng tạo ra nó không được biết, không được ghi nhận và không được hưởng lợi.
Công nghệ có thể tạo ra những cánh cửa chưa từng có cho văn hóa Việt Nam đi ra thế giới. Nhưng để bước qua cánh cửa ấy một cách đường hoàng, mỗi tác phẩm phải được bảo vệ bằng pháp luật, được định giá bởi thị trường lành mạnh và được nâng đỡ bởi sự tôn trọng đối với lao động sáng tạo. Bảo vệ bản quyền, xét đến cùng, chính là giữ cho ngọn lửa sáng tạo có người tiếp tục thắp lên.
- Trân trọng cảm ơn đại biểu đã trả lời phỏng vấn.
Phạm Hà thực hiện