|
Mai Văn Phấn không phải là một nhà phê bình học thuật theo nghĩa chặt. Ông đến với phê bình từ lữ trình thơ, vốn dĩ là một hành trình dài lâu, bền bỉ, trải qua nhiều chuyển động thẩm mĩ, từ hiện thực đến siêu thực, từ cổ điển đến hậu hiện đại. Nhưng điều làm nên một “Mai Văn Phấn khác” như chữ nhà phê bình Đỗ Lai Thúy nhận định, chính là việc ông bước vào phê bình không như một người ngoài cuộc mà như một người đồng hành với thơ. Nếu trong Nhịp điệu vẽ lối đi (Nxb Hội Nhà văn, 2024), Mai Văn Phấn dùng khái niệm “ánh sáng” và “không gian” để soi chiếu thơ của thi nhân đương thời, thì Trong Ơn Gọi, ông dùng công cụ đó để tiếp cận một không gian văn học ít được khai phá: văn học Công giáo Việt Nam.
Lịch sử văn học Việt Nam không đơn thuần chỉ là câu chuyện tuyến tính theo các triều đại, của văn chương bác học hay dân gian, sự chuyển đổi thời địa hay hiện đại hóa văn chương, bởi dưới sóng lừng luôn dung chứa trong nó những mạch ngầm. Trong số đó, văn học Công giáo Việt Nam là một dòng chảy đặc biệt, vừa sớm hình thành, vừa lâu nay ít được định vị đúng trong bản đồ văn học Việt, phần nào bởi đức tin, ngôn ngữ và đời sống thường giao thoa trong lặng lẽ cá nhân. Trong những năm gần đây, nhiều công trình khảo cứu đã cố gắng làm sáng tỏ vị trí của dòng văn học này trong văn học dân tộc, như bộ sưu tập Hướng đến 400 năm Văn học Công giáo Việt Nam (1632–2032) của Tủ sách Nước Mặn. Song hành, Trong Ơn Gọi của Mai Văn Phấn tiếp tục bước đi trên hành trình ấy, không phải với tư cách là một nhà nghiên cứu thần học, mà như một nhà thơ tìm thấy trong đức tin một âm sắc thi ca mới, và phát hiện cho mình một vai trò mới, có thể mang tính mặc khải, nhà phê bình.
Trong Ơn Gọi không tìm cách định nghĩa văn học Công giáo một cách khuôn mẫu. Thay vào đó, Mai Văn Phấn chọn cách tiếp cận từ tổng hòa đến trường hợp cụ thể, đọc từng tác phẩm, từng tác giả, và từ đó dần hiện lên một diện mạo văn học: lặng lẽ, hướng nội, và giàu chất suy niệm hiện sinh. Đó là lí do tại sao cuốn sách được cấu trúc thành hai phần: Phần I là Hạt Giống Tin Mừng, gồm 4 tiểu luận mang tính chất đánh giá tổng quan nền văn học Công giáo; và phần II Ánh Sáng Đấng - Tình - Yêu với 20 tiểu luận nghiên cứu trường hợp.
Văn học Công giáo không được nhìn nhận như một nhánh biệt lập với dòng văn học dân tộc, càng không phải “sân sau” của tôn giáo. Ngược lại, tác giả nhận ra ở đó một tiếng nói nội tâm rất Việt, rất nhân bản. Đó là tiếng nói của những người viết luôn giữ cho mình một vùng tâm linh không bị lấn át, để họ sáng tạo trong trạng thái đối thoại với cái thiêng, dù cách biểu kiến có thể khác nhau. Giữa dòng văn học này, ơn gọi (vocatio) - một khái niệm thiêng liêng trong thần học - cũng là một cấu trúc ngầm của hành vi sáng tạo. Người viết, dù tự ý thức hay không, đều đang trả lời một tiếng gọi vượt trên cá nhân, vượt trên cái tôi văn chương thông thường. Diễn trình sáng tạo, do đó, có thể được khái quát hình thành từ đức tin, được vận hành bằng chiều sâu tâm linh, và được thăng hoa nhờ cảm quan nghệ thuật.
Từ đó, Mai Văn Phấn chia văn xuôi Công giáo (hậu) hiện đại thành hai chủ đề chính: văn học Công giáo viết về sự cứu rỗi và sự cứu rỗi trong văn học thế tục. Là người với vị thế đứng trong (sáng tác) lẫn đứng ngoài (phê bình), Mai Văn Phấn dường như thiên về mảng chủ đề thứ hai, khi phát hiện thấy các yếu tố như sự cứu chuộc, vượt thoát, hòa giải và tái sinh, hay tựu trung lại, một mĩ cảm/mĩ học Kitô nảy mầm trong tác phẩm của các cây bút trước và cùng thời.
Với Hàn Mặc Tử, Mai Văn Phấn không dừng lại ở những trang bệnh lí học, thơ tình đau thương hay thơ điên đã quá quen thuộc, trái lại tìm thấy trong đó một luồng ánh sáng siêu hình. Bài thơ Thánh nữ Đồng trinh Maria là một khúc hoan ca xuất thần và thăng hoa của thi nhân, “biểu đạt niềm xác tín mãnh liệt, giải thoát tinh thần khỏi khổ đau trần thế, đưa hồn thơ ông thăng hoa trong cõi thiêng”. Còn với Nguyễn Quang Thiều và Dưới cái cây ánh sáng, tác giả không tuyên ngôn Công giáo, nhưng Mai Văn Phấn lại tìm ra những “thao thức kiếm tìm ánh sáng không ngơi nghỉ” mang sắc thái của ân sủng và ơn gọi. Sự ám ảnh về cái chết, niềm tin vào sự sống siêu hình, và những biểu tượng có tính thiêng – tất cả được phân tích như một cuộc đàm đạo về đức tin không tuyên xưng.
Mai Văn Phấn còn dành sự quan tâm đặc biệt cho những cuộc gặp gỡ thơ ca mang tính hòa phối văn hóa, nơi chất dân gian thuần Việt và đức tin Kitô giáo cùng hiện diện trong một chỉnh thể thi phẩm sáng tạo. Với các tác giả Sơn Ca Linh và Xuân Văn, Mai Văn Phấn không tìm cách phân tách các yếu tố tôn giáo - dân tộc, mà nhận ra ở thơ họ một dòng chảy tự nhiên, nơi ca dao, đồng dao, lục bát truyền thống được cất lên như một hình thức cầu nguyện mềm mại. Không khí thôn quê, ngôn ngữ mộc mạc, lời lẽ dịu dàng hòa cùng tâm thế kính nguyện đã tạo nên chất thơ mang cả “hồn dân gian” và “hồn đạo”, không bên nào lấn át bên nào. Điều này không chỉ là sự kết hợp hình thức, mà còn là một quan niệm văn hóa sâu xa: Công giáo, khi đi vào văn hóa Việt, không đứng tách biệt, mà lắng hòa, nương nhờ vào nền văn hóa bản địa để phát biểu điều thiêng. Một trường hợp khác là Lê Đình Bảng, người đã tạo nên hình tượng thi ca đặc sắc qua biểu tượng Người Mẹ, là hình ảnh hội tụ giữa Đức Mẹ Maria và người mẹ Á Đông. Đức Mẹ không chỉ là hình ảnh tôn giáo, mà còn là hiện thân của người mẹ Việt dịu hiền, can đảm, luôn hiện diện trong đời sống tâm linh và tình cảm. Và chính những thi sĩ như Sơn Ca Linh, Xuân Văn hay Lê Đình Bảng, theo cách nhìn của Mai Văn Phấn, là một dạng thi hóa tín điều rất Việt.
Vậy điều gì khiến Mai Văn Phấn có thể chạm vào được những cốt lõi trừu tượng của văn học Công giáo (“Đức tin là bằng chứng của những điều không thấy”, Hebrew 11:1)? Như đã nói, dường như, đó là một cuộc trở lại nội tâm dưới hình hài một lối đọc và viết khác, bởi Mai Văn Phấn là một người ở “cả trong lẫn ngoài”. Lối viết phê bình tìm lấp lánh con chữ hay làm bóng bẩy ngôn từ đã sáo mòn. Còn lối viết phê bình thuần lí luận hoặc trau chuốt câu chữ thường khó chạm đến được cốt lõi bản thể của dòng văn học này vốn đặt nền trên tín điều, sự chiêm niệm và vẻ đẹp thiêng liêng. Để đạt đến chiều sâu của văn học Công giáo, một chiều sâu gắn với tín điều và đời sống đức tin, thì cần một lối đọc mở và thấu cảm.
Lối đọc đó, trong trường hợp của Mai Văn Phấn, không đến từ lí thuyết văn học mà đến từ chính trải nghiệm đời sống tín hữu và hành trình sáng tạo cá nhân. Tiểu luận Những bước đầu tiên minh giải rõ hơn bao giờ hết qua lời tự bạch: “Tôi sinh ra trong một gia đình Công giáo. Từ thuở ấu thơ, bà nội tôi chính là vị thừa sai đầu tiên đã rao giảng Phúc Âm cho tôi, dạy tôi biết yêu thương, tha thứ và sống cho tha nhân”. Những năm tháng đầu đời sống giữa môi trường tôn giáo, với kinh bổn, thánh ca, các bí tích, đã gieo vào tâm hồn ông những “tín hiệu thơ ca” đầu tiên, mở ra “một thế giới tuyệt đẹp… nơi cái thiện luôn chiến thắng cái ác”.
Phê bình của Mai Văn Phấn, vì vậy, không đứng ở bậc cao để “đọc - phân tích - đánh giá”, mà đặt mình ngang bằng với văn bản, như một người cùng lắng nghe, cùng cầu nguyện bằng ngôn ngữ. Với ông, vẻ đẹp thi ca Công giáo không đến từ ý niệm thần học, mà từ sự lặng yên, từ những “vỉa tầng kí ức và tâm trạng” mà nhà văn, nhà thơ đã từng bước vượt qua để thành hình câu chữ. Bởi vậy, Trong Ơn Gọi không phải một công trình nghiên cứu văn học tôn giáo theo nghĩa học thuật. Nó giống một hành trình song song: nhà thơ bước vào thế giới của người viết khác với tất cả sự khiêm nhường, đồng cảm và nền tảng đức tin đã được sống từ thuở ấu thời. Và có lẽ vì thế, những bài viết trong Trong Ơn Gọi có thể đọc như một hình thức đối thoại thinh lặng bằng văn chương, khi người viết dâng hiến sự hiểu, và người đọc được mời gọi sống chậm, sống sâu cùng tác phẩm.
Nếu Nhịp điệu vẽ lối đi xác lập một tư thế tương đối mới mẻ dành cho Mai Văn Phấn, từ một trong những nhà thơ Việt Nam tiêu biểu nhất sau 1975 sang một nhà phê bình với tính chất tham dự văn chương, thì qua Trong Ơn Gọi, ta thấy một chiều kích Mai Văn Phấn khác, Vincent Mai Văn Phấn. Một chiều kích cá nhân hơn, lặng hơn trong nội tâm và, thậm chí, chuyên sâu hơn.