Tập thơ là kết quả của chuyến thăm Palestine cách đây đúng 2 năm của tác giả cùng một số nhà văn Việt Nam.
|
1. Nhiều năm qua và cho đến tận bây giờ, Palestine vẫn là vùng đất gợi nên nhiều đau thương bởi sự bất ổn về chính trị, thường xuyên diễn ra những cuộc xung đột vũ trang và dân thường là những người phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề nhất. Người Palestine bị mất quyền tự do, tự chủ ngay trên chính quê hương của mình. Hàng trăm ngàn người phải sống trong các trại tị nạn hoặc vô gia cư. Họ không có được sự bảo vệ cần thiết tối thiểu. Cái chết vì thế có thể đến với bất kỳ ai và bất kỳ lúc nào. Tất cả những nhức nhối xa xót ấy được Nguyễn Quang Thiều đem vào trong 28 bài thơ đầy trăn trở.
Sự bất an ở xứ sở này tràn ngập trong không gian và thời gian: Xen lẫn những vòm ô liu thẫm xanh/ Là những trạm gác/ Áo chống đạn và tiểu liên/ Lỗ nòng súng – một con mắt đen ngòm/.../Tôi thấy bóng hàng rào thép gai/ Vẫn in lên những vầng mây trắng (Ngước lên bầu trời). Ô liu là loài thực vật đặc trưng của xứ sở, vốn mang theo vẻ đẹp văn hóa của vùng Trung Đông, giờ đây hiện lên luôn đi cùng với nỗi đau, với máu chảy: Những cây ô liu trên núi đồi Palestine/ Lộng lẫy, kiêu hãnh và đau đớn/…/ Một con đường chạy tới chân trời/ Hoa ô liu nở và máu chảy (Dưới bóng ô liu). Từng sự sống, từng sinh linh nhỏ bé nhất như mỗi cánh én, mỗi con cừu cũng đều mang theo nỗi đau mỗi ngày: Những con én vùng Ramallah/ Bay ngang dọc bầu trời/ Đấy linh hồn những người bị giết/ Hóa thành những chiếc kim khâu/ Kiên nhẫn vá những mảnh trời rách nát (Chim én ở Ramallah), Tôi đứng nhìn con đường/ Không một bóng người/ Chỉ thấy một con cừu đi lạc/ Kêu thảm thiết/ Trong ánh hoàng hôn (Con đường ven núi).
2. Có nhiều nhân vật hiện lên trong những trang thơ. Đó có thể là những em nhỏ còn đang đi học nhưng đã sớm phải chịu những thiệt thòi. Cậu bé Dalal Abu mới 10 tuổi đã đi vào ngay trong bài thơ mở đầu tập sách: Dalal Abu, Dalal Abu/ Tôi xin em đừng khóc/ Một mình trong bóng đêm/ Tôi xin em hãy hát/ Trong hoàng hôn u buồn (Hồ Thiên đường). Cô bé Sadeel trên đường đi học đã trúng phải đạn lạc trong một trận xung đột quân sự. Và em mãi mãi chẳng bao giờ còn đến trường được nữa: Những bông ô liu rụng trong ban mai/ Máu và tóc Sadeel đang chảy/ Trên mọi con đường tới lớp/ Tôi thấy bóng em đổ xuống chân trời/…/Và một bài thơ trong sách/ Phải đợi em đến tận kiếp sau (Lời kinh cho Sadeel). Nguyễn Quang Thiều dành riêng cho nhà thơ Murad Sudani, chủ tịch Hội Nhà văn Palestine một bài thơ khá dài với tên gọi Bài ca buồn cho Murad. Có thể xem Murad là đại diện cho tầng lớp trí thức, cho những người cầm bút, cho những văn nghệ sĩ của một dân tộc đang ngày đêm thao thức, khắc khoải và nguyện cầu. Một trong những điều họ có thể làm được là chuyển hết bao nỗi niềm vào tác phẩm: Đêm qua anh quỳ xuống/ Murad/ Hai bàn tay mở ra/ Một tay đựng đầy chữ/ Một tay máu chảy ròng ròng. Không chỉ viết về người trí thức, những người lao động bình thường ở Palestine cũng đi vào tập thơ Dưới bóng ô liu, từ người hầu bàn ở Beauty Inn, người bưu tá cho đến người thợ kim hoàn ở Ramallah. Và tất cả những con người ấy đều có chung một nỗi niềm về tổ quốc, về dân tộc mình. Họ đều mang một khát vọng cháy bỏng: Tôi nhìn vào phòng ăn/ Tối như một hầm mộ/ Và nhận ra ông đang gục đầu/ Trước chiếc xe chở đầy đồ ăn/ Với một chiếc đĩa khổng lồ trống rỗng/ Đợi một ngày bày lên một miếng TỰ DO (Người hầu bàn ở Beauty Inn), Vào lúc một cây ô liu đổ xuống/ Vào lúc một bóng người ngã gục/ Bức thư được gửi đi/ Trong tiếng thét rền vang của người bưu tá (Bức thư). Khi những người dân thường không thể được bơi trên chính vùng biển quê hương mình, họ chỉ còn biết mang ý nguyện vào giấc mơ: Họ rời Biển Chết trở về/ Và đêm đêm bơi trong giấc mơ/ Đầy những con sóng lớn/ Rền rĩ tiếng Tự Do (Mua đồ tắm biển ở Palestine). Nguyễn Quang Thiều cũng không quên dành những dòng thơ tưởng nhớ tổng thống Yasser Arafat, người đã dành cả cuộc đời để đòi quyền tự quyết cho dân tộc mình: Ông không thể phục sinh như Đức Chúa/ Nhưng giấc mơ của ông về hòa bình/ Đêm đêm vẫn mọc lên/ Như những cánh đồng ô liu/ Trong những cơn mưa nước mắt (Trước khu tưởng niệm tổng thống Yasser Arafat). Còn có những nhân vật đặc biệt khác như những cô gái Israel khoác áo lính, cầm súng, cũng tham gia vào việc kiểm soát người Palestine. Nhà thơ tả những cô gái ấy mang gương mặt Đức Mẹ nhưng lại đang làm một công việc ngược lại với diện mạo ấy, một công việc gắn với cái ác, gắn với sự tàn nhẫn. Bản thân họ có lẽ cũng không hề mong muốn phải cầm súng hàng ngày chĩa vào những thường dân. Nhưng đằng sau họ còn một thế lực khác: Và phía sau các cô gái ấy, rất xa/ Nhưng không phải bên máng cỏ/ Tôi nhìn thấy bóng những kẻ/ Đang hút sigar/ Làm dấu Thánh/ Và ký vào văn bản của cái chết (Gương mặt Đức Mẹ).
3. Những bài thơ mang đến cho người đọc nhiều câu chuyện nghịch lý, nhiều tình cảnh trái ngang, phơi bày một hiện thực nhức nhối không che đậy. Trong bài Món cá biển, người hầu bàn đau xót nói với thực khách: - Đây là cá chúng tôi nhập khẩu/ Từ chính biển của mình. Con cá tiếp tục được nhân cách hóa để nói tiếp câu chuyện: - Thưa quý khách/ Tôi là một con cá/ Vẫn còn được may mắn/ Được trở về và chết/ Trên mảnh đất tổ tiên mình. Hay như trong bài Chiếc chìa khóa, biết bao người dân Palestine hiền lành lương thiện bỗng dưng bị đẩy khỏi ngôi nhà thân thuộc của mình, phải vào sống trong các trại tị nạn, họ mang theo chiếc chìa khóa và chỉ còn biết ước mơ một ngày nào trở lại trong chính ngôi nhà của mình: Nhưng đêm qua/ Tôi nghe tiếng động/ Ngỡ có người mở cửa/ Nhưng không/ Đó chỉ là một con mèo/ Nhớ chủ tìm về/ Cào lên cánh cửa/ Tôi ngước lên bầu trời/ Với một câu hỏi/ Nhưng chỉ thấy những đám mây/ Lặng lẽ bay trong đêm/ Mang theo những chiếc chìa khóa. Và còn nữa những nghịch lý về sự vô cảm đang diễn ra từng ngày, khi những câu thơ chúng ta thấm đầy máu mà Các cỗ máy in vẫn chạy/ Như không có chuyện gì/ Để in tiếp những bộ Kinh.
4. Mỗi bài thơ trong tập gắn với hành trình của tác giả trên đất nước Palestine. Và cho đến những ngày cuối cùng trước khi rời khỏi mảnh đất này là nỗi quyến luyến khôn nguôi. Những hạt chà là không được phép mang qua khỏi biên giới nhưng nó đã nằm yên trong sâu thẳm tâm hồn của nhà thơ, trong những dòng thơ da diết mà ông đã viết về xứ sở này: Những hạt chà là đã âm thầm gieo xuống/ Cánh đồng ngôn từ bất tận của thơ (Hạt chà là). Nhà thơ thầm mong mảnh đất này sẽ có một vị cứu tinh xuất hiện: Tôi mở to đôi mắt/ Tìm trong những người phụ nữ Bethlehem/ Đang bước đi im lặng/ Ai sẽ là người mang thai/ Để sinh ra một vị Thánh (Bên ngoài nhà thờ giáng sinh).
Bài thơ cuối cùng của tập, Về một chiếc giá nến cũ, là một câu chuyện lồng trong chuyện. Một bà cụ bán đồ cũ có một chiếc giá nến không bao giờ bán vì đó là kỷ vật cuối cùng của gia đình con trai bà, sau khi cả gia đình con trai bị chết vì nhà trúng tên lửa. Nhưng bà đã sẵn lòng tặng chiếc giá nến cho nhà thơ khi biết ông đến từ Việt Nam. Những câu thơ kết thúc bài thơ được viết bằng bút pháp đậm nét huyền ảo và siêu thực: Vào một đêm tôi thắp nến trên chiếc giá nến cũ ấy/ Bỗng có ai gọi tôi/ Không, đấy là một tiếng kêu/ Tôi quay lại và nhận thấy/ Bóng tôi in trên tường/ Đang kéo áo tôi. Cái bóng đang tự kéo áo ấy giống như một hối thúc, một thôi thúc, một nhắc nhở con người cần phải làm một điều gì đó, còn phải đi qua những trăn trở day dứt không thể nào yên khi câu chuyện về vùng đất bất an này vẫn còn trong dang dở.
Nguyễn Quang Thiều đã viết nên tập thơ Dưới bóng ô liu như một hành động đứng về phe nước mắt, đứng về phía những người yếu thế. Lịch sử là cả một câu chuyện dằng dặc với bao rắc rối nhưng một điều có thật là “không có lời biện hộ nào cho mọi sự giết chóc”, những thường dân của mọi thời luôn là những người vô tội, họ xứng đáng được hưởng một cuộc sống yên ổn, bình thường, được học tập, được làm việc và được bảo vệ. 28 bài thơ trong tập Dưới bóng ô liu, vì thế, đã có ý nghĩa vượt qua biên giới của một quốc gia để đạt đến tầm phổ quát cho mọi dân tộc, là tiếng nói đòi quyền sống cho mỗi con người. Và ẩn sâu trong từng câu chữ là một lời nguyện cầu hòa bình sẽ đến trên toàn thế giới.