Ngày nhỏ không mơ gì bằng mơ Tết. Vì được nghỉ học, vì có áo mới, vì được cùng chúng bạn đánh ấp, đánh đáo, chơi đùa thỏa thích mà không bị mắng.
Ngày trước, nhà tôi có một cây đào ta trước ngõ, màu giống đào phai. Không biết cây trồng tự bao giờ mà cành lá sum sê, hoa nở sáng cả một vùng sân ngõ, ai đi qua cũng trầm trồ. Vào khoảng 27, 28 Tết, cha tôi cưa cành, sai mấy anh chị em đưa đến cho ông bà, cô bác chú dì… mỗi người một cành để thêm tươi cảnh tết. Rồi ra giêng, bố con lại đào rãnh quanh gốc, bón phân cho nó để tết sau hoa lá vẫn đơm đầy như cũ, vẫn có để chia đều.
|
Vào thập kỷ 60, tôi có được ăn Tết Hà Nội vài năm. Tất cả khẩu phần để “ăn” tết theo nghĩa đen đã có trong bìa thực phẩm, kẹo, chè, thuốc lá, một hộp mứt tết, hai bánh chưng xanh, tiêu chuẩn cao thì một hai cân thịt lợn, thấp thì vài dăm lạng… Người Hà Nội ăn tết giản dị vậy nhưng không thể thiếu hoa. Ngày xưa chỉ có làng hoa Ngọc Hà, cây cảnh Nghi Tàm và đào Nhật Tân. Cung không đủ cầu. Nhưng dù đắt mấy, nhà nào cũng phải có một lọ hoa. Hà Nội xưa thích hoa dơn hay thược dược, có lẽ vì đóa nó to, màu nó tươi và đủ ngũ sắc vàng, đỏ, trắng của hoa, xanh của lá, tím của hoa vi-ô-lét được cắm chêm vào… Trên bàn thờ, thế nào cũng có nhánh hoa đào. Tôi gọi nhánh, vì nhánh nhỏ hơn cành. Tôi thấy người Hà Nội xưa không phải vác cả cây to, cành lớn, chơi bự, suồng sã, phô trương như gần đây của những nhà giàu mới phất. Một cái thú, hay phong tục của người Hà Nội về mặt tinh thần là đi đâu thì đi, thế nào cũng phải đi chợ hoa Hàng Lược. Nói là Hàng Lược, nhưng nó kéo dài đến các phố Hàng Rươi, Hàng Chai, Hàng Mã, Phùng Hưng của Khu Hoàn Kiếm. Người ta đến để mua hoa, để ngắm hoa mà có lẽ để ngắm thì nhiều hơn. Ngắm hoa đẹp, người đẹp, ngắm không khí tưng bừng. Ngắm để học cách ăn mặc, ăn nói, đi đứng xã giao, để nghe những lời chào thưa phải phép, cái nhún vai tinh tế, cái khóe miệng, khóe môi khi cười, cái câu “xin lỗi”, “cám ơn” ngọt lịm… Hà Nội bây giờ nhiều hoa, chợ hoa cũng lắm, nhưng chợ hoa Hàng Lược vẫn có sức sống bền bỉ của gốc rễ, của sự hào hoa, thanh lịch người Hà Nội.
*
Tôi không biết Huyền Trân công chúa (1287-1340) khi về Chiêm đã nhớ hoa đào như thế nào. Trong lịch sử, có những vấn đề của phụ nữ phải được giải quyết từ quốc gia, có những vấn đề của quốc gia được giải quyết bởi một người phụ nữ. Sử xưa chép, năm 1301, khi mới 14 tuổi, công chúa Huyền Trân (con gái nhà vua Trần Nhân Tông) được hứa gả cho Chế Mân như một sứ giả hòa bình; vua Chế Mân dâng hai châu Ô – Lý (vùng Bình Trị Thiên) làm sính lễ. Theo dân gian, trên bước đường vào nam năm 1035 theo sứ đoàn Chế Bồ Đài đón dâu, công chúa đã viết (cũng có thể người đời sau viết về chuyện của bà) một bi khúc còn truyền đến ngày nay:
Nước non ngàn dặm ra đi...
Cái tình chi!
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô, Lý.
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì…
Tôi cũng không biết Ngọc Hân công chúa (1770 – 1799) đã nhớ về Thăng Long như thế nào mà ngay khi vừa đánh tan 20 vạn quân Thanh vào Mồng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, Nguyễn Huệ chiến bào còn sạm khói, đã trước tiên sai người đi mua một cành đào. Hoa đào Nhật Tân năm ấy nở rộ, như hân hoan mừng kinh đô được giải phóng. Cành đào được buộc chéo bằng lạt giang mềm, ngoài phủ gấm vàng. Từ Thăng Long vào Phú Xuân có 36 trạm, Hoàng Mai (Chợ Mơ) là trạm thứ nhất. Ba mươi sáu trạm đây là một/ Hai chữ Hoàng Mai rõ bảng treo. Ở mỗi trạm thay người thay ngựa, quan chỉ huy là kị sĩ quỳ nhận khẩu dụ rồi lập tức lên đường. Chỉ hai ngày sau; ngày mùng 7 tháng Giêng là cành đào đã đến tay công chúa, bên cạnh những bông mãn khai, nấp dưới lá xanh, còn chi chít những nụ đào hàm tiếu… Nhận được hoa, Ngọc Hân rơi lệ, mừng như đang giữa Thăng Long giải phóng, như đang được chia sẻ niềm vui chiến thắng với người anh hùng áo vải…
Chế Lan Viên đã kể lại chuyện này bằng một bài thơ:
Hẳn nhớ Thăng Long, hẳn nhớ đào?
Mai vàng xứ Huế có khuây đâu!
Đào phi theo ngựa về cung nhé!
Nở cạnh đài gương sắc chiến bào.
Câu chuyện ấy là có thật hay dã sử, hay hư cấu tài tình của kịch tác gia Trúc Đường, thì bản chất về cái đẹp của hoa đào, của hai tâm hồn Quang Trung – Ngọc Hân, tức cái đẹp của tâm hồn người Việt Nam là có thật.
*
Nói đến đào, mai là người ta nhớ đến Tết vì hoa đào miền Bắc, hoa mai miền nam nở vào dịp này. Nhưng tại sao nói đến đào, người ta lại nhớ về đào Nhật Tân, nhớ về Hà Nội? Vì nhiều thế kỷ nay, kể từ thời nước ta còn dưới sự đô hộ của nhà Đường (618-907), Phú Thượng, Nhật Tân, trung tâm của lỵ sở An Nam đô hộ phủ đã là một vùng đào tập trung, cho đến khi vườn đào, có cả Dinh đào bị lấy làm khu đô thị Ciputra (do tập đoàn Ciputra của In-đô-nê-xi-a đầu tư); người dân yêu hoa lại ra bãi sông Hồng gầy dựng lại. Đào Hà Nội vì thế mà không mất. Dù hoa đào thương mại bây giờ được trồng ở nhiều nơi, đào Hà Nội vẫn được nhiều người ưa chuộng; có những giống đào quý hiếm như đào thất thốn không nơi nào có. Đào thất thốn (7 tấc) có nhiều cách giải thích khác nhau; cứ 7 tấc ra một cành hay 7 năm ra một lần hoa kép (tính 7 đốt ngón tay)… Không biết cách nào đúng, chỉ biết với dáng nét sù sì, thô phác mà thất thốn cho ra những đóa hoa cánh đỏ, nhụy vàng vừa nồng ấm lại vừa kiêu sang, thách thức mọi giá rét. Hoa không chỉ mọc ở cành mà còn mọc ở thân cây, cho thấy ở đất nước này, đâu đâu cũng có thể nở hoa…
*
Hoa đào là một ẩn dụ đẹp, chỉ người con gái. Là cái cớ để chàng trai tỏ tình mà không sợ lố Đến đây mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa. Cô gái chủ động mà tinh tế Mận hỏi thì đào xin thưa/ Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào (Ca dao). Xuân Diệu tiến một bước xa hơn về sự nhân hóa, mang ý vị thân xác hiện sinh Gió thơm phơ phất bay vô ý/ Đem đụng cành mai sát nhánh đào (Xuân Diệu- Nụ cười xuân). Nhưng hoa đào không chỉ đem tới niềm vui. Hoa còn chia sẻ với lòng người hoài cổ, thương tiếc cho một thời đại đi qua. Đó là khi Vũ Đình Liên viết bài thơ “Ông đồ”: Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực tàu, giấy đỏ/ Bên phố đông người qua… Năm nay đào lại nở/ Không thấy ông đồ xưa/ Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ. Hoa đào chứng kiến những lứa đôi gặp gỡ rồi chia ly: Trước sau nào thấy bóng người/ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông (Truyện Kiều); Hoa đào từng cánh rơi như tưới/ Xuống mặt sân rêu những giọt buồn/ Như những tim tình tan vỡ ấy/ Nhện già giăng mắc sợi cô đơn (Nguyễn Bính - Thôi nàng ở lại)…
*
Hoa đào là chấm son giữa mùa xuân. Mùa xuân là mùa xanh của một đời người. Hoa đào dù tươi cũng có ngày tàn rụng. Mùa xuân dù đẹp cũng thoáng chốc trôi qua. Ngày xuân con én đưa thoi. Đời người thấm thoắt. Hoa đào nhắc đời người có thì có độ, nhắc người ta biết sống. Xuân Diệu đâu phải chỉ ảnh hưởng thơ Pháp mới viết được những câu như Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; mới giục giã người ta sống gấp Mau với chứ, vội vàng lên với chứ/ Em, em ơi! Tình non sắp già rồi... Có ai nghiêm túc bằng Nguyễn Trãi và bởi nghiêm túc nên mới dạy con cháu đừng sống phí hoài ngày xuân nào Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm/ Những lệ xuân qua tuổi tác thêm/ Chẳng thấy ngoài hiên tơ liễu rủ/ Một phen liễu rủ một phen mềm… Sao không cầm đuốc chơi đêm - “Hà bất bỉnh chúc du” buông bỏ là một câu thơ của dòng thơ du tử đã trở nên thành ngữ dạy người ta biết vui sống, biết buông bỏ những gì không cần thiết, ngày ngắn đừng ôm mối hận dài, gái góa đừng lo việc triều đình mà biết yêu lấy cái sắc xuân. Tôi bỗng nhớ bài thơ “Tự tình” của Hồ Xuân Hương và lời bình khó nghe mà nhớ mãi của Xuân Diệu: Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn.
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh.
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám.
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại.
Mảnh tình san sẻ tý con con!
Xuân Diệu đặt câu hỏi, sức xuân, tình xuân nồng nàn như thế, cứ trơ ra để làm gì? “Tiếng trống thì dồn lên như vậy, mà mình thì chỉ trơ cái hồng nhan với nước non, trơ là trơ trọi, chơ vơ, và cũng có thể là trơ tráo nữa, người đàn bà bị đặt vào cái tình thế nông nổi dơ dáng dại hình...” (Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương thơ và đời, NXB Văn học - 2007, tr. 186 ).
Tôi bỗng nhớ một câu thơ của Bùi Giáng Xin chào nhau giữa con đường/ Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau. Biết rằng nay còn giữa xuân, giữa đời; sống cho ngon, cho đẹp để đừng đi vào chốn miên trường trong hối tiếc!
*
Nhớ hoa đào, với tôi là nhớ về Hà Nội. Mỗi người nhớ Hà Nội theo cách khác nhau. Đầu tiên là biết và yêu Hà Nội kháng chiến qua Sống mãi với Thủ đô, Lũy hoa của Nguyễn Huy Tưởng. Và những câu thơ của Hoài Anh:
Ghế xa lông bên giường tre chiến đấu
Lý Thiết Quài trong tủ chè cũng
nóng lòng khoa gậy đánh Tây
Phố Lò Sũ mang áo quan chờ chôn xác giặc
Một tiếng đàn rung trên chiến hào
Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy
Ra phố mua bao thuốc lá
Chín năm sau anh mới trở về nhà.
Ta mang ba mươi sáu phố phường đi
kháng chiến
Chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô...
Hay của Chính Hữu:
Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa
Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Người xưa nói, Thăng Long phi chiến địa, nhưng Thăng Long – Hà Nội luôn diễn ra những trận đánh ác liệt nhất, những trận quyết chiến chiến lược. Người Hà Nội trong tôi là người kháng chiến, đời nào cũng làm vẻ vang cho lịch sử dân tộc. Các bô lão trong hội nghị Diên Hồng đa số là người Hà Nội. Đội quân nào, thời nào thắng lớn, kể cả Quang Trung muốn thắng cũng phải nhờ lòng dân, sức dân Hà Nội. Dân Hà Nội là hàn thử biểu của chính trị, là lương tri của thời đại. Trong khi các sĩ phu Bắc Hà còn nặng một mối hoài Lê trong đạo lý cổ xưa “tôi trung không thờ hai chúa” thì dân Hà Nội đã đổ xô ra đường hớn hở mừng Quang Trung đại phá quân Thanh, mừng kinh đô giải phóng như Ngô Ngọc Du, một nhà thơ đương thời ghi lại:
Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa,
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
“Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”.
Với người Hà Nội, đất nước là trên hết, trung là trung với nước, chứ không phải với một ông vua, một triều đại cụ thể nào.
Và cái không khí thủ đô giải phóng ngày ấy, được tái hiện trong thơ Vũ Hoàng Chương thời chống Pháp:
Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy
Là những nhành sông đỏ sóng cờ
Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại
Năm cánh hoa xoè trên năm cửa ô.
(“Nhớ về Hà Nội vàng son”)
Đến xuân này, tôi đã được sống ở Hà Nội 59 năm 7 tháng, từng được trực chiến cùng những cô tự vệ sao vuông; từng cùng chiến hào với những người lính Hà Nội, từng nạo vét sông Tô Lịch ngày Hà Nội sáng nào cũng vang lên bài hát “Con kênh ta đào” trên loa truyền thanh…, tôi thấy người Hà Nội thăng hoa về tài năng nghệ thuật về phẩm giá anh hùng hơn nơi khác một bậc. 59 năm 2 tháng tôi thuộc từng ngõ phố, ngôi chùa, giá cả từng thời kỳ… nhưng tôi thấy mình vẫn chưa hiểu hết về người Hà Nội, không thể trở thành người Hà Nội. Họ sâu lắng, cao sang, độ lượng và tỉnh táo. Hà Nội ẩn chứa một sức mạnh tiềm tàng trong nỏ thần An Dương Vương, trong sức lớn Phù Đổng, trong gươm báu còn náu dưới Hồ Gươm, trong tầng đất sâu Văn Miếu, trong mỗi hồn người. Nhà báo Thép Mới từng kể với tôi rằng, ngày 25-12-1972 ông đến Khách sạn Dân Chủ (Hanoi Hotel) ở phố Tràng Tiền, đối diện với Nhà in Báo Nhân Dân cũ làm việc với các nhà báo nước ngoài. Trong cơn B52, một nhà báo nước ngoài hoảng loạn thốt lên: “Thế này thì Hà Nội sập hết, còn gì nữa”! Một nhân viên phục vụ người Hà Nội nói: “Không, vẫn còn người Hà Nội, còn phẩm giá con người không sập được”! Câu nói ấy đã gợi tứ cho bài xã luận nổi tiếng đăng trang nhất báo Nhân Dân ngày 26-12-1972 “Hà Nội, thủ đô của phẩm giá con người”, trong đó có những đoạn:
“Khi quân viễn chinh Mỹ kéo cả nửa triệu vào miền Nam Việt Nam, những nhà văn hóa có lòng tự tôn dân tộc ở Sài Gòn ném vào mặt bọn xâm lược một cuốn sách nhan đề “Người Việt cao quý”, khắc họa ý chí, bản sắc và phong cách tâm hồn dân tộc này.
Ðây là câu trả lời của một nữ đồng chí tự vệ bình thường người Hà Nội, nhân viên phục vụ khách sạn Thống Nhất, mà bạn bè quốc tế còn nhắc mãi: “Nhà cửa có thể sập nhưng có một thứ không sập được, đó là con người”.
Con người Hà Nội không sập được. Ðó là lập trường sống và chiến đấu rất tự nhiên của tất cả mọi người con của Hà Nội.
Và Hà Nội đã trở thành thủ đô của phẩm giá con người”.
Hà Nội, thủ đô của lương tri và phẩm giá con người được quốc tế ghi nhận từ đấy!
Hà Nội với Hồng Hà như thanh gươm đỏ đeo bên mình Tổ quốc; Hà Nội mi liễu Hồ Gươm xanh trong như mắt ai, chờ đợi, mắt ai vời vợi…; Hà Nội ba mươi sáu phố phường tấp nập… Hà Nội bốn mùa xuân hạ thu đông. Mùa đông hoa sữa và gió mùa se lạnh thơm lên những mối tình; mùa xuân hoa đào như má, như gương; mùa hạ phượng hồng đường Thanh Niên, Lý Thường Kiệt và những kỷ niệm học trò xôn xao từng góc phố. Và mùa thu Hà Nội “không thể nói trời không trong hơn”. Mọi ngôn từ tả về mùa thu Hà Nội đều không thể sánh một chấm xanh của trời khi đậu xuống hạt cốm Vòng hóa ngọc lưu ly, một giọt mật của nắng sánh vàng màu đại đóa…
Tôi lại nhớ Vũ Bằng khi ông nhớ về Hà Nội: “Tôi yêu Hà Nội quá, tôi nhớ Bắc Việt nhiều nên bao nhiêu cái đẹp, cái hay ở trước mắt, tôi thấy mất cả ý nghĩa đi. Có lẽ đó là sự bất công to lớn, nhưng yêu, bao giờ mà lại chẳng bất công như thế?... Tôi cảm ơn sự bất công đã cho tôi nhìn rõ lòng tôi yêu thương Hà Nội đến chừng nào, Hà Nôi ạ!”. Tôi lại nhớ Phú Quang, cuối đời về Hà Nội sau bao nhiêu năm thành công ở Sài Gòn. “Mình phải về thôi, về với lá bàng đỏ Khâm Thiên, với cái rét đầu đông, về với những kỷ niệm như rêu níu vào trượt ngã… Tôi nhớ Hoàng Hiệp “Dù có đi bốn phương trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội”.
Tôi không hiểu gần 60 năm nay ở giữa Hà Nội mà vẫn luôn nhớ về Hà Nội. Vẫn yêu câu thơ “Ai về xứ Bắc ta đi với/ Thăm lại non sông giống Lạc Hồng”. Huỳnh Văn Nghệ ở Đồng Nai thì vậy. Tôi bên cạnh Hồ Gươm mà vẫn vậy.
Hỡi hoa đào, xin hãy cho biết giùm tôi!