Ông không chỉ là một cây đại thụ của văn học chiến tranh, mà còn là một tâm hồn luôn trăn trở về nghề, về đời, về sứ mệnh của người cầm bút. Chính ông đã gọi hành trình ấy là “thành bại một đời văn”, một cuộc hành trình không ngừng kiếm tìm và kiến tạo những giá trị nhân văn sâu sắc.
|
Nhà văn Xuân Thiều sinh năm 1930 tại làng Triều Đông, xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, vùng đất “địa linh nhân kiệt” bên bờ sông La. Ông tòng quân năm 1947 khi chưa tròn 17 tuổi. Mãi đến năm 26 tuổi, ông mới được in bài thơ đầu tiên, và 28 tuổi mới có truyện ngắn đầu tiên được đăng. “Vào đời văn như thế là đã muộn màng,” ông khiêm tốn nhận xét.
Bài thơ đầu tiên được đăng trên tờ Sinh hoạt văn nghệ (tiền thân của tạp chí Văn nghệ Quân đội) nhờ sự “tước bỏ cắt xén một số câu rườm rà” của biên tập viên Xuân Thiêm. Bức thư góp ý của ông Thiêm đã trở thành bài học làm thơ đầu đời: “Giống như mùa đông ta mặc áo ấm. Chỉ một, hai cái là đủ, nếu bỏ vào năm, sáu cái mà xem, ngứa ngáy khó chịu và cũng không thở được.”
Nhưng thất bại cay đắng nhất lại đến từ truyện ngắn đầu tay. Hăng hái viết trong một ngày chủ nhật và gửi về tòa soạn, ông nhận được thư trả lời của biên tập viên Hà Mậu Nhai. Ông nhớ lại: “Đọc xong tôi vừa ngượng vừa xấu hổ… biên tập viên Hà Mậu Nhai đã thẳng thừng nói rằng, đã đọc đi đọc lại vài lần vẫn không hiểu tôi định viết cái gì.” Điều đau hơn là bức thư bị bạn đồng nghiệp phát hiện và đọc toáng lên trước cả Ban Chính trị cơ quan. “Tôi xấu hổ đến mức chỉ còn cách chui xuống lỗ nẻ.” Cú sốc ấy tưởng chừng khiến ông gục ngã, nhưng nó lại “làm tôi thêm quyết tâm, phảng phất chút cay cú.” Sự kiên cường ấy đã định hình nên một Xuân Thiều sau này, không bao giờ bỏ cuộc trước thất bại.
Thành công đầu tiên nhen nhóm từ nhóm văn nghệ Bến Hải, nơi quy tụ những cây bút trẻ cùng chí hướng. Năm 1958-1959, truyện ngắn Dưới hầm bí mật và Trắng đêm của ông cùng đoạt giải Ba trong các cuộc thi. “Tuy cả hai đều chỉ là giải ba, song đối với tôi, sự mừng vui ví bằng cha tôi được sống lại.” Ông nhấn mạnh: “Buôn bán có bạn, và văn chương càng cần có bạn. Bạn bè cổ vũ nhau, bảo ban nhau, cùng dắt tay nhau mà đi.” Đó là triết lý về sự đồng hành mà ông giữ trọn suốt đời.
Năm 1959, Xuân Thiều được điều về tạp chí Văn nghệ Quân đội. Dù đã in tập truyện ngắn đầu tay Đôi vai (1961), ông vẫn tự nhận mình thuộc “loại B” so với các đồng nghiệp. Để “mở mày mở mặt”, ông quyết định viết tiểu thuyết Chuyển vùng, cuốn tiểu thuyết về du kích chiến ở Thừa Thiên, là một thất bại tốn nhiều công sức nhất.
Ông dành hẳn một tháng về nông trường Rạng Đông để thâm nhập thực tế, rồi mất cả năm trời vừa công tác vừa viết để hoàn thành bản thảo dày 500 trang. Kết quả nhận được từ Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân là lời đề nghị sửa chữa. Không nản lòng, ông không sửa chắp vá mà viết lại toàn bộ. Bạn thân của ông là nhà văn Phù Thăng, sau khi đọc bản thảo mới, nhận xét nó “có triển vọng in… nhưng còn phải gia công thêm nữa.”
Nhưng một sứ mệnh mới gọi ông lên đường: đi chiến trường. Ông giao bản thảo cho Phù Thăng, bạn ông nói: “Khi nào trở về, mày sẽ cày bừa sau, nếu chẳng may không trở về nữa, cho ra mắt ‘Chuyển vùng’ là phần việc của tao.” Tình nghĩa bạn bè khiến ông “rơm rớm nước mắt.”
Tuy nhiên, chiến trường đã thay đổi ông. Tiếp xúc với những người lính vào sinh ra tử, ông tự hỏi: “Mình viết cái này về vấn đề gì nhỉ? Chẳng lẽ chỉ minh họa lại một vùng du kích chiến? Phải có vấn đề gì về con người, cho con người chứ?” Ông nhận ra cái lõi của tác phẩm vẫn chưa tìm thấy. Một quyết định đau đớn được đưa ra: “Hãy quên đi! Sẽ không gia công, gia cố gì nữa!” Ông gói bản thảo lại, “nhét vào chiếc va li cũ. Ấy là nấm mồ chôn ‘Đứa con tinh thần’ của mình.” Cùng chung số phận ấy còn có hai bản thảo viết cho thiếu nhi. Ông chua chát nhớ lại câu thơ của Nguyễn Trọng Oánh: “Chuyển địa hà thời đắc chuyển ngân” (Chuyển vùng sao mãi không chuyển ra tiền được?).
Thất bại này dạy cho ông một bài học xương máu: văn chương phải xuất phát từ con người và vì con người. Ông tâm niệm: “Tôi chưa bao giờ viết những gì mà tôi không thích thú. Không viết vì bất kỳ một áp lực nào. Tôi không muốn tự đánh mất mình bằng ngòi bút.” Sự trung thực với chính mình ấy là phẩm chất làm nên “Người văn” Xuân Thiều.
Đối với một nhà văn quân đội, chiến trường là trường học lớn nhất. Với Xuân Thiều, nó còn hơn thế, một nơi tôi luyện nhân cách. Ông viết: “Ở chiến trường, trái tim ta trở nên đa cảm hơn, lòng ta trở nên nhân hậu ưu ái hơn, độ lượng hơn và nhất là bớt ích kỷ hơn.”
“Tiếp xúc với đời sống chiến sĩ như được nghe một bản nhạc không lời. Không ai bảo ban ta từng câu từng ý cụ thể, nhưng ta cảm nhận được những điều tốt lành qua hành động, tâm tư của người lính vào sống ra chết. Đây là hương hoa cuộc sống chiến trường. Hít thở được chút hương hoa này, cúi đầu bái phục vẻ đẹp người lính, ấy là nhà văn đã tự nâng mình lên.”
Sau những chuyến đi, ngòi bút ông trở nên sắc sảo và có sức sống hơn. Ông viết Tâm sự chiến sĩ quản tượng, Chuyện kể ở suối người, Khúc sông, Thôn ven đường… Và sau chiến tranh, âm hưởng ấy vẫn vang vọng, thôi thúc ông viết nên những Khúc hát mở đầu, Huế mùa mai đỏ, Gió từ miền cát, Người mẹ tội lỗi - những tác phẩm ông tâm đắc nhất, đi tìm “tính cách đích thực của dân tộc Việt Nam trải qua mâu thuẫn.”
Con đường sáng tạo không phẳng lặng. Tâm sự chiến sĩ quản tượng nhận được lời khen nhưng cũng có thư phản đối gửi thẳng thủ trưởng. Truyền thuyết về quán Tiên sau khi in rồi còn có lệnh “bóc ra”. Nhưng ông kiên định: “Riêng tôi tự thấy viết những truyện ấy là chân thực, nhân hậu và lòng dạ hoàn toàn trong sáng. Tôi bảo lưu ý kiến của mình.” Và hai năm sau, truyện ngắn ấy lại được đăng và được đánh giá tốt. Sự kiên định vì sự thật và lòng nhân hậu đã giúp ông chiến thắng.
Ngoài đời, Xuân Thiều là người hóm hỉnh, gần gũi và rất mực thủy chung với bạn bè, đồng đội. Ông thường dùng bút danh Tú Hói để sáng tác thơ, câu đối tặng bạn bè, người thân. Có lần, ông tự họa về bút danh này:
Có đỗ đâu mà “Tú”, dăm ba chữ
Tây Tàu lõm bõm, cũng văn thơ,
cũng câu đối nhì nhằng, vẫn cứ liều làm “tú”.
Đầu đã “Hói” còn xuân, mấy mươi năm văn nghệ lai rai, khi biên tập lúc phóng viên đắp đổi hẳn đang muốn hồi “xuân”.
Ông còn viết tặng hai nhà văn đàn anh Vũ Cao và Từ Bích Hoàng nhân dịp sinh nhật tuổi 50 và thăng quân hàm Thượng tá:
Mình năm mươi, cậu cũng năm mươi.
Ừ nhỉ chúng mình tròn trăm tuổi
Đây cấp tá, đấy cấp tá. Ờ hay hai đứa
chẵn đôi quan.
Những câu thơ, câu đối ấy không chỉ thể hiện tài hoa, sự hài hước mà còn cho thấy tình cảm chân thành, sự gắn bó giữa những người đồng nghiệp, đồng chí.
Xuân Thiều quan niệm mỗi nhà văn phải có “cái tạng riêng”, từ cách sống, cách nhìn nhận xã hội, đến bút pháp, giọng văn. Ông không chấp nhận việc bắt tác giả này viết theo tư tưởng của tác giả khác. Khi biên tập viên khuyên ông sửa Huế mùa mai đỏ theo hướng của các tác giả A, B, C, “Những đồng chí có tầm cỡ trong hàng ngũ lãnh đạo”, ông đã khéo léo từ chối: “Rồi chúng tôi cũng thỏa thuận được với nhau, tôi cắt bỏ khá nhiều chỗ, nhưng vẫn giữ được tư tưởng của mình.” Sự kiên định có chừng mực ấy giúp ông bảo vệ được cá tính sáng tạo.
Ông cũng là người có tấm lòng rộng mở với thế hệ sau. Khác với nhiều người chỉ thích đọc tác giả lớn, ông chủ động đọc cả các cây bút trẻ. “Ngoài việc góp ý giúp đỡ anh em, tôi còn cảm thấy mình gần gũi cuộc sống hơn, hấp thụ được cái tươi mới, cái trẻ trung từ bút pháp văn phong đến cảm xúc, nếp nghĩ của những người cầm bút trẻ.” Ông đã đọc kỹ và góp ý tỉ mỉ hai bản thảo dày cộp của hai tác giả trẻ ở tận Đồng Nai gửi ra. “Giúp đỡ những anh chị em viết trẻ, tôi vui lòng với thành quả của họ. Lại có cảm nhận như trả nợ đời. Khi mới tập viết, tôi đã hàm ơn biết bao người đi trước.” Đó là sự tri ân và trách nhiệm của một bậc lão thành.
Cuối đời, nhìn lại “thành bại một đời văn”, Xuân Thiều vẫn giữ sự khiêm tốn đáng quý. Khi các nhà văn trẻ gọi ông và các đồng nghiệp là “nhà văn lão thành”, ông nói vui: “lão thì đúng là lão rồi, còn thành thì còn phải xem lại chắc gì đã thành!”
Nhưng lịch sử văn học và lòng bạn đọc đã có câu trả lời xác đáng. Với một sự nghiệp đồ sộ, những tác phẩm đi cùng năm tháng như Huế mùa mai đỏ, Truyền thuyết quán Tiên, Xin đừng gõ cửa, và những giải thưởng cao quý như Giải thưởng Nhà nước (2001) và Giải thưởng Hồ Chí Minh (2017), Xuân Thiều đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một “cán bộ văn nghệ của Đảng” theo cách riêng của mình: một người lính kiên trung, một nhà văn dám viết sự thật bằng trái tim nhân hậu, và một người đồng đội, người anh, người thầy luôn sẵn sàng nâng đỡ, sẻ chia.
Hành trình “thành bại” của ông là minh chứng cho một chân lý: văn chương chân chính không bao giờ là con đường bằng phẳng. Nó được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí là những “nấm mồ” chôn các bản thảo không thành. Nhưng chính từ những thất bại ấy, và trên hết là từ một nhân cách lớn, một tấm lòng nhân hậu, một sự trung thực tuyệt đối với nghề và với chính mình, Xuân Thiều đã xây dựng nên một “cõi sách” riêng, nơi chiến tranh được nhìn bằng ánh sáng của lòng nhân ái, và con người, dù trong hoàn cảnh khốc liệt nhất, vẫn luôn được trân trọng, yêu thương và bênh vực. Ông xứng đáng là một “Người văn” mẫu mực, để lại không chỉ những trang viết sống mãi, mà còn là một bài học lớn về nhân cách sống và sáng tạo.