Nghĩ bụng. Tại ông chưa ăn hết thôi, chứ quê tui thì thiếu cha gì thứ ngon. Kể cũng lạ, nghe người xứ khác khen món ngon quê mình, đã tai thiệt chớ. Có phải đâu là sơn hào hải vị để khen cũng đành, chỉ là cái bánh tráng mì nhì đen thui. Tui bỗng nhớ nhà, nhớ quê, dù chỉ đi có vài ngày rồi dìa.
Món bánh tráng bột nhì quê tui hông biết nó có từ thời nào? Câu hỏi đó nhiều khi cứ xoay quanh trong đầu khi nhìn quanh vùng chỉ có quê tui mới có. Nó là minh chứng cho sự cần cù sáng tạo của người dân xứ Nẫu. Theo người già trong làng, bánh tráng bột nhì có từ hồi sau giải phóng miền Nam. Lúc đó, dân sợ đói nên trồng mì nhiều lắm. Đã bắt đầu có cái xe máy xay mì, nên năng suất nhiều hơn. Bột nhất trắng tinh, giá trị kinh tế cao hơn thì bán cho thương lái. Bột nhì là phần bột màu đen độ phèn cao nhiều nên để lại làm bánh, khuấy bột ăn chống đói. Tui ăn nó từ ngày chưa biết bận quần. Hồi đó cả ngày lê lết ở nhà thím hàng xóm, thấy thím loay hoay tráng bánh, phơi bánh, rồi lại lược bột, trùng bột nhóm lò... thỉnh thoảng thím cho mấy cái bánh vớt bị bể, rách, mấy đứa con nít xúm xít chấm với chén nước mắm, mà đứa nào cũng khen ngon hết sẩy.
Ở quê, cứ đầu tháng Chạp là người ta thu hoạch mì. Giống mì mủ nhiều nên khâu sơ chế cũng kì công lắm. Một đống mì to, được kéo từ trên rẫy về từ những chiếc cộ bò. Rồi chủ nhà mượn người đến gọt. Gọt mì xong thì kêu máy tới xay cho nhuyễn. Để có bột ngon, dẻo thì khi máy xay xong người ta chà liền. Chà bột mì cũng cực, đổ nước vô xác quấy đều chà qua chà lại để bột ra hết. Ngày đó, những người đàn ông khỏe mạnh, cánh tay, bàn tay lực lưỡng chuyên đi chà mì thuê. Chủ nhà chỉ việc tiếp nước. Phần bột có hai phần, đó là bột nhì màu đen thui nằm lình sình mặt trên, bột nhất trắng tinh có giá trị hơn nằm phía dưới. Bột nhất cao tiền hơn được bán cho mấy bà con buôn, mấy lò bánh lò bún họ làm để phục vụ nhu cầu Tết. Còn bột nhì thì được mấy bà mấy chị tráng bánh ăn đỡ đói.
Những năm tháng xa lơ xa lắc, quê tui nghèo rớt mồng tơi. Ruộng ít, một năm trồng được một vụ, chủ yếu nhờ nước trời. Nhà nào giỏi lắm kịp giáp hạt còn lại đong gạo chợ, ăn củ mì độn kèm bột, bánh cho no. Nên bánh tráng nhì, bột nhì khuấy cứ “trường kì kháng chiến”.
Nhà tui ở sát nhà chú thím Bốn, xưa vợ chồng chú là quân dân du kích cách mạng. Vợ chồng chú thím, khổ đó mà không biết khổ, chỉ cần có thứ bỏ vô bụng cho no, là tới đâu thì tới, cứ cười hơ hớ, thế mới vui. Hòa bình rồi, chuyện củ mì, cái bánh, chảo bột quanh năm là chuyện nhỏ. Cứ miễn no là được, chứ chẳng so sánh nọ kia. Tui thường nghe thím vừa cười vừa kể: “Chô cha! Hầu kia trên bom dưới đạn có lần lọt vô ổ phục kích. Nằm im hông cục cựa nguyên một ngày một đêm, nhịn đói nhịn khát, chờ nó đi rầu mới mò ra. Đã nghĩ chuyện chết. Đời thím đã làm lễ truy điệu cho đồng đội biết bao nhiêu lần. Cỡ đó chưa ăn thua gì, bi giờ có nhiêu đây thấm béo chi.”
Ba tui hồi mới dìa hưu cũng trồng mì sở sở. Đất hồi đó coi vậy mà chịu cây mì, nên trong nhà củ mì, bột nhì lúc nào cũng đầy thùng. Ba thường nói với thím Bốn: “Bay xuống nhà hốt bột nhì dìa đánh rồi tráng bánh chia hai, cho lũ nhỏ nhà tao ăn với.” Ba thường làm vậy, coi như một cách chia sẻ với xóm làng, với lại ông cũng muốn ăn mà má tui không biết chuyện tráng bánh tráng beo gì hết.
Bột nhì, để tráng được cái bánh thơm ngon đặc trưng cũng kì công dữ lắm. Phải quảy bột dìa đổ vô thùng, rồi đổ nước cho muối vô đánh đều. Phần đất lắng xuống đổ đi, để nước bột lại chừng ba tiếng đồng hồ sau cho phần bột lắng xuống rồi chắt nước cho hết cái nước chua đi. Rồi sau đó đổ nước thêm quậy đều để lắng lại đổ đi. Cứ làm như vậy chừng ba, bốn lần. Ngày nào nắng ráo, thím Bốn nhóm lò tráng bánh. Cái bếp lò cũng được đắp kì công, nhồi đất sét làm hồ, xếp từng viên gạch lên quây tròn, cuối cùng rồi hồ đất sét cho láng, trông thật đẹp mắt. Cái miệng lò vừa đủ cho ba, bốn cây củi to đút vào. Bốn phía kín mít chỉ chừa cái lỗ thông hơi nhỏ cho thông khói, dễ cháy. Cái nồi to đầy nước được bắc, tròng khăn tráng trên miệng nồi rịt chặt lại. Cái khăn rịt miệng nồi căng đét. Trong lúc chờ nồi nước sôi đi trùng bột. Nấu nồi bột hồ cho chín rồi đổ thẳng vào xoong làm sạch đánh đều. Tạo thành một thứ bột dẻo dẻo, lỏng lỏng.
Nồi nước khi đã sôi thì đậy vung lại cho hơi nước trong nồi thấm ướt mặt khăn tráng, múc từng giá bột đầy đổ vô mặt khăn, trở đít vá tráng đều tay, cái bánh tròn đều không chỗ nào dày mỏng, đậy nắp lại chừng hai phút là bánh chín. Thanh vớt bánh được vót bằng thứ tre già dẹt dẹt. Đôi bàn tay nhẹ nhàng nhúng vô cái lỗ nhỏ sát mép nồi rồi giở lên, khéo léo xỏ bánh từ đầu bên này sang bên kia, xoay ngược lại giở bánh đặt lên cái vỉ phơi dài thòng. Tay thím lại quay sang múc bột quây bánh, đậy vung, xong lại trải bánh lên vỉ. Thím Bốn thường lấy mấy cái bánh nát bể bỏ vô rổ cho tụi con nít ăn. Lũ tui hay tập trung nhà thím Bốn, vì ở đó có khi nào bị đói. Trưa, thím khuấy chảo bột nhì cục bột to bằng trái dừa ta, rót tô mắm cua đồng ngọt lừ có miếng lá gừng thơm phức. Lũ tui đứa nào đứa nấy tranh thủ dít bột rồi chấm ăn xì xụp, đứa nào ăn cay thì thím đằm cho miếng ớt kim. Xế xế, thím nhúng bánh tráng mì rồi xếp ra món rau muống chẻ với ít trái cà, tụi tui tha hồ cuốn chấm mắm. Những vỉ bánh được đem phơi ngoài nắng, khô dần và bay mùi thơm ngầy ngậy.
Người quê tui ai cũng biết ăn thứ bánh này. Cái mùi đặc trưng, vị mặn mặn đã làm nên một món ăn gây thương nhớ. Tui thường nhúng một cái bánh để hơi mềm, bỏ vô miếng rau, thêm vài con cá nục trụng, cuốn chặt rồi chấm với nước mắm nhĩ. Ai sang hơn thì đổ chả trứng hoặc thịt ba chỉ luộc sắt mỏng cuốn kèm rau. Ăn xong, làm ca nước mát giữa cái ngày hè nóng nực, còn gì bằng.
Ngày nay, thấy trên các gian hàng mạng cũng có bán bánh tráng bột mì, giá cả phải chăng, phục vụ người quê xa xứ. Tôi từng điện thoại cho mẹ ở nhà mua gửi vô Sài Gòn cho vài ràng bánh tráng mì ăn cho đỡ nhớ quê, đỡ thèm. Cuộc sống thị thành rộng lớn nhưng đôi khi tôi thấy lòng mình chật hẹp bởi sự bon chen xô bồ. Trong giấc mơ tôi thấy mình thênh thang giữa bầu trời quê lộng gió ăn những món ăn quê lòng ngập tràn hạnh phúc. Giờ đây tôi thấm một câu văn của ai rằng “Trong lòng quê mà vẫn nhớ quê.”
![]() |
| Minh họa: Ngô Bình Nhi |