Chuyên đề

Câu chuyện bên dòng sông. Ký của Trần Kim Thành

Trần Kim Thành
Tư liệu 11:46 | 04/07/2026
Baovannghe.vn - Chúng tôi gồm có năm người, rời công trường Thác Bà từ lúc bốn giờ chiều: hai cán bộ ngành văn hóa, một khảo cổ học, một kỹ thuật viên và một phóng viên tuần báo ở Hà Nội.
aa

Đồng chí lái xe quả quyết với chúng tôi đêm nay có thể ngủ lại ở Tuyên Quang, nhưng khi xe đến bến Hiên, con phà bên kia sông vừa quay mũi thì chiếc ca-nô bỗng rộ lên một hồi rồi tắt lịm. Con phà quay dọc ghé vào bên rệ sông, mấy anh công nhân mặc áo may-ô nhuộm mầu lúi húi bên đầu máy ca-nô. Biết còn phải chờ khá lâu, chúng tôi rời xe kéo nhau đến ngồi trên bãi cỏ có những cây sau sau nhỏ lá bóng như ướt nước, lấp lánh ánh sáng của khuôn trăng gần tròn vừa nhô lên từ sau rặng cây đen đặc bên kia sông.

Hầu hết mấy người chúng tôi đều đến Thác Bà lần này là lần đầu. Quy mô rộng lớn, hoạt động sôi nổi của công trường để lại cho chúng tôi ấn tượng thật mạnh mẽ. Trong nhóm chỉ có Tuấn, phóng viên báo, là đã đi lại đó nhiều lần. Chúng tôi đã được đọc một số bài viết của anh về công trường thủy điện lớn nhất miền Bắc này. Bây giờ, trong lúc ngồi trên bãi cỏ chờ xe qua sông, chúng tôi yêu cầu Tuấn kể thêm một số câu chuyện về Thác Bà.

Tuấn ngồi chống hai tay về phía sau, hút thuốc lá. Anh bạn là một tay nghiện nặng, ngồi trên xe, trời nắng mà anh cứ châm lửa hút điều này đến điều khác, phun khói mù mịt.

— Ôi chà! Những bài tôi viết trên báo chẳng nói được một phần nhỏ những chuyện, những người ở đây đâu...

— Nhà nghệ sĩ bất lực trước thực tế cuộc sống!

Anh bạn khảo cổ học, một người có khuôn mặt còn trẻ nhưng đã đầy đủ dáng vẻ của một nhà khảo cổ học chân chính: mái tóc dày, đốm bạc và cặp kính trắng mắt dày như miếng vỏ chai, chêm vào với một giọng châm biếm vui vẻ thường có ở anh.

— Tôi nói thành thật đấy — Tuấn quăng mẩu thuốc lá thừa, xòe diêm châm điếu khác — Không phải vì cái thực tế vĩ đại lớn lao khó nói, khó viết. Mà cái chính là vì tôi chưa đủ khả năng để nói lên những khía cạnh phong phú của thực tế đó. Tôi đến Thác Bà lần này là lần thứ năm. Nhưng nếu các anh muốn, tôi xin kể các anh nghe câu chuyện lần đầu tiên tôi đến đây...

Rít thêm một hơi thuốc lá, Tuấn im lặng một lát để nhớ lại đầy đủ sự việc, rồi bắt đầu nói.

Hồi đó là năm 196... công trường bắt đầu mở. Lực lượng đầu tiên đến đây mới chỉ là một đội công nhân, cán bộ kỹ thuật thăm dò vùng đất thuộc hai huyện sẽ đánh chìm để làm đáy hồ. Tôi được tòa soạn báo phân công lên để viết bài đầu tiên về công trường.

Buổi sáng, tôi làm việc với Ban chỉ huy công trường đóng ở mấy gian nhà lá dưới lũng đồi mà bây giờ là khu vực tháo nước vào hồ, rồi đi tắm rửa, nằm nghỉ ngơi sau gần hai trăm cây số đường xe lửa khá vất vả. Nghe kẻng báo cơm trưa, tôi vùng dậy, mượn đũa bát, theo mấy anh cán bộ văn phòng leo lên con dốc đồi khá cao dẫn đến nhà ăn mới dựng.

Đi trước chúng tôi là mấy cô công nhân cũng lên nhà ăn. Các cô vừa đi vừa hát nho nhỏ, gõ đũa vào miệng bát sắt lách cách. Tôi thoáng nghe được một câu hát hết sức tinh nghịch, buồn cười:

Anh ơi anh, xin đừng yêu em nữa Trái tim em vôi vữa gắn chặt rồi...

Tôi phải đi nhanh lên để nhìn được mặt cô gái vừa hát. Cô mặc chiếc áo vải bạt rộng thùng thình của thợ xây, thợ đổ bê-tông, đội chiếc mũ vải xanh dính những vệt vôi vữa trắng, nhưng khuôn mặt thật lanh lợi, xinh đẹp. Vầng trán, đôi mắt rất sáng, sống mũi thon thả, hơi cao. Trong bữa cơm, tôi để ý nhìn cô thợ xây đó. Cô gái hát, cười nói luôn miệng, trêu chọc những người bạn cùng ăn. Tôi đã biết tên cô là Ánh.

Buổi chiều, tôi xách máy ảnh đi thăm cả công trường vừa hình thành bằng những cây cột mốc quét sơn trắng và những dãy nhà lá, nhà gạch một tầng đang xây dở dang trên dốc đồi. Tôi gặp cô Ánh đang trát xi-măng chiếc két nước vừa dựng ở khu nhà tập thể công nhân là nơi làm cao nhất trên công trường lúc đó. Cô thợ xây xinh đẹp trên giàn giáo cao đang xếp những viên gạch, trát những bay xi-măng mở đầu cho một công trình thủy điện rộng lớn... Theo thói quen của một anh làm báo, chưa cần hỏi han thêm điều gì và có tài, tôi đã giơ máy ảnh để thu lấy hình ảnh đẹp đẽ đó. Nhưng nhìn thấy chiếc máy ảnh trong tay tôi, cô Ánh che nón quay đi, cười rúc rích. Sau, đáp lại mọi lời giải thích, yêu cầu của tôi, cô chỉ lắc lắc đầu, đỏ mặt từ chối:

— Đừng chụp ảnh em. Em là thợ mới, ở công trường nhiều đồng chí vào nghề lâu, nhiều thành tích...

Khi tôi hỏi chỗ ở của công nhân nữ ở công trường, cô chỉ cho tôi một dãy nhà lán, mái lợp nứa mới dựng và mời tôi đến chơi.

Dạo đó công trường chưa có điện, chưa có tiếng máy ì ầm, chưa có cảnh ồn ào nhộn nhịp với hàng dãy đèn pha xe gấu, xe bò tót chở cát chở đá, hay đốm đèn xanh đỏ của tay cần trục lêu nghêu dọc theo con đập bên ven hồ như bây giờ. Khu nhà của ban chỉ huy công trường tù mù ánh đèn dầu với tiếng loa rè rè từ chiếc đài bán dẫn vỏ gỗ lắp lấy của cậu kế toán trẻ. Nhớ lời mời của cô thợ xây Ánh, tôi bấm đèn pin, tìm đến chỗ lán lợp nứa.

Cô Ánh đã có chồng con rồi. Đứa con trai hơn một năm đã chập chững đi, hàng ngày gửi ở tổ giữ trẻ. Còn anh chồng cô vừa ở Hà Nội lên. Anh thân mật bắt tay tôi. Khi biết tên và công việc chuyên môn của anh, tôi vui mừng nhận ra đó là tay đội trưởng đội bê-tông nổi tiếng trong các công trường xây dựng mà tôi đã từng nghe nói đến.

Việt — tên anh chồng Ánh — hơn vợ gần chục tuổi. Trái với vẻ nhanh nhẹn, tươi tắn của vợ, người Việt to lớn, lưng rộng bè, rất ít nói. Anh cởi ba-lô lấy quà cho con và một gói giấy báo bọc cẩn thận hai chiếc áo sơ-mi nữ. Hai chiếc áo vải Pô-pơ-lin hoa may rất khéo. Vừa thấy chồng dở gói giấy, Ánh đang đứng pha nước chè tiếp khách vội bỏ đấy chạy vụt đến, cặp mắt sáng lên khác thường:

— Úi, đã xong rồi ư, anh.

Cô ướm một chiếc áo lên người, cười như trẻ nhỏ.

— Phải chờ chuyến tàu tối để kịp lấy áo. Ông nói lần này ông cắt hơi rộng hơn áo đưa về làm mẫu. Công việc ở hợp tác xã ông làm dạo này cũng nhiều.

Việt trả lời vợ. Trên khuôn mặt vuông, hơi thô của anh một nụ cười thật hiền; thật độ lượng như nụ cười của người anh lớn đối với đứa em gái nhỏ.

Tuy vợ chồng Việt ân cần mời tôi uống nước, nhưng nhìn vẻ lăng xăng, tíu tít vui sướng của Ánh bên chồng, tôi hiểu rằng mình không nên có mặt ở nhà họ lúc này.

Đêm đó tôi đợi đồng chí chỉ huy khu vực I của công trường đi họp về để hỏi thêm một số việc. Nhân tiện tôi có nhắc đến vợ chồng Việt và tỏ ý định chụp ảnh chị vợ anh trên dàn giáo.

- Xứng đáng quá rồi còn gì nữa. Cô đó vừa đi dự Hội nghị những người thợ xây có năng suất cao đó.

Đồng chí chỉ huy kêu lên với giọng miền Nam.

- Nhưng cô ta có cho tôi chụp ảnh đâu.

- Cô ta nói sao?

- Một lý do rất khiêm tốn. Cô ta nói: cô mới vào nghề. Ở công trường còn nhiều thợ xây giỏi hơn.

- Hà... hà...

Đồng chí chỉ huy gãi bộ râu quai nón, bật cười. Rồi anh hỏi tôi, vẻ thú vị:

- Đồng chí có biết cô Ánh nói vậy là muốn chỉ ai không?

- Tôi đang định hỏi anh điều đó.

- Cô ấy nói vậy là muốn chỉ chồng, chỉ cậu Việt đó. Chà, cái cô này... Khi đứng trên dàn giáo thì không nhường một ai hết. Nhưng nói đến thành tích, đến công việc thì lại chỉ muốn kể đến chồng thôi. Hà... hà...

Câu nói của đồng chí chỉ huy làm tôi hết sức tò mò, muốn biết thêm câu chuyện. Tôi lại nhớ đến sự trái ngược bên ngoài của cặp vợ chồng đó. Một người tươi tắn, nhanh nhẹn. Một người to thô, chậm chạp. Một chú sóc tinh nghịch nhí nhảnh bên cạnh một ông gấu lầm lì. Tôi bật cười vì sự so sánh đó.

Đồng chí chỉ huy khu vực vốn là bạn quen thân của Việt. Anh em trong đội công tác cũng là những người đã cùng Việt qua nhiều công trường xây dựng. Trong những ngày ở công trường, tôi đã được mọi người kể cho nghe câu chuyện về cặp vợ chồng người đội trưởng này.

Câu chuyện bên dòng sông. Ký của Trần Kim Thành

Ánh vốn là một học sinh Hà Nội.

Bố Ánh là một thợ may nổi tiếng, có loại khách hàng riêng biệt. Nhà cô không có cửa hàng cửa hiệu, nhưng ngày nào cũng có dăm bảy anh thanh niên quần là, tóc tỉa đuôi đi len qua gian nhà sửa chữa xe đạp ở dưới để mang vải lên chiếc cầu thang gỗ ọp ẹp lên gian gác nhà cô. Những chiếc quần không ly, ống hẹp, áo sơ-mi máy lộn chỉ, không đắp vai may ở nhà Ánh công đắt gấp rưỡi, gấp hai công may những quần áo bình thường ở hợp tác may đo, nhưng loại khách hàng này vẫn đua nhau đưa vải tới.

Học hết lớp bảy, sức học kém, Ánh không được xếp vào lớp tám.

Đối với cô gái, việc đó có hơi buồn một chút, nhưng không đáng kể. Ngay khi còn đi học, về nhà Ánh vẫn giúp bố làm quần áo cho khách hàng. Bây giờ ở nhà, cô được bố giao cho hẳn một chiếc máy Xanh-gie mới tinh. Chỉ riêng chiếc bàn máy của cô con gái vừa làm vừa chơi, mỗi ngày ông thợ may thu thêm mười, mười lăm đồng để dành.

Bàn máy của Ánh kê ngay chỗ đầu cầu thang lên, bên ô cửa sổ tù mù trông xuống khoảng sân hẹp kéo dài trước dãy nhà ngang nhiều chủ ở, suốt ngày có tiếng trẻ con khóc, tiếng nước máy chảy ào ào. Việt ở gian dưới cùng. Gặp anh thợ xây hiền lành, ít nói ở sân phơi quần áo, bên máy nước, Ánh thường nói vài câu cười đùa, trêu chọc, làm anh đỏ mặt. Còn Việt thì rụt rè, lúng túng chỉ sợ những giọt nước bắn làm ướt bẩn chiếc áo sơ-mi, chiếc quần vải của nước ngoài rất đẹp Ánh mặc. Chưa bao giờ Việt bước chân lên gian gác nhà Ánh, dù rằng đôi lần cao hứng ông thợ may khéo tay đã hứa có lúc sẽ đo, cắt giúp anh một bộ đồ thật lịch sự, đứng đắn, mà lại không tốn bao nhiêu tiền.

Ánh có nhiều bạn trai, bạn gái, hầu hết ở trong đám khách hàng trung thành của nhà cô. Cuộc sống rời bỏ ghế nhà trường có những vui thích mới: có tiền, có quần áo diện, có những buổi chiều đạp xe đi ăn bánh tôm ở Hồ Tây, nghe nhạc ở nhà riêng với khối kẻ đưa người đón. Ánh đẹp hơn nhiều bè bạn. Cô biết điều đó. Nhiều anh thanh niên quần áo đóng hộp, đạp xe quanh quẩn hàng giờ trước cửa để đợi lúc Ánh rời bàn máy đứng lên. Người Ánh yêu đầu tiên là một tay thanh niên có chiếc xe máy mầu cá vàng, khá đẹp trai. Một tháng sau, bè bạn mách cho Ánh biết hắn đã có vợ con ở Hải Phòng và có cửa hiệu chữa đồng hồ ở dưới đó. Cuộc tình duyên thứ hai qua vèo rất nhanh. Từ đó Ánh đã cho rơi khá nhiều anh mê gái, si tình. Những buổi gặp gỡ, hẹn hò như một trò chơi khi thích thì có, khi chán thì bỏ. Chỉ đối với kẻ đến đầu tiên, không hiểu sao Ánh còn có lúc đeo đẳng. Hắn vẫn thường đến cắt quần áo ở nhà. Những chiếc áo ni-lông bóng mướt, những chiếc quần téc-gan thẳng nếp. Đôi lúc nghe tiếng còi xe máy của hắn, không thể dằn nén được, Ánh lại bỏ bàn máy đứng dậy, bôi qua một tý son lên môi rồi chạy như lao xuống thang gác.

Ông thợ may nhận ra sự biến đổi của con đầu tiên do cái bàn máy bên cửa sổ luôn luôn để trống. Đó là một người cha biết kiếm tiền và hết sức dữ đòn với con cái. Chưa bao giờ ông lại nghĩ rằng chính những bộ quần áo ông cắt may ra hàng ngày đó đã làm đứa con quen dần với sự hư hỏng. Có lần ông chặt đôi guốc sơn mài gót cao bảy phân, đốt hết mấy cái áo sơ-mi diện của Ánh. Nhưng đến buổi chiều, hàng phố đã nhìn thấy Ánh ngồi sau xe đạp pơ-giô của anh bạn trai, đuôi mắt còn mang vệt thâm tím của trận đòn buổi sáng.

Ánh đã mang tiếng hư hỏng ở dãy phố. Trong các buổi họp thanh niên khi nói đến hiện tượng ăn chơi, nếp sống không lành mạnh người ta nhắc đến tên cô gái ông thợ may. Các đoàn viên thanh niên nhiều lần tìm lên gian gác nhà Ánh, nhưng Ánh đều kiếm cớ tránh mặt. Những cô gái mới lớn nhìn Ánh bằng cặp mắt ngần ngại, có cả tò mò. Các bà hàng nước, chị đan len chép miệng, bĩu môi khi thấy Ánh phóng xe đạp qua. Chỉ riêng đám khách hàng quen thuộc của ông thợ may là vẫn lượn qua phố, huýt sáo. Không ai hiểu hết tâm trạng Ánh. Nhìn những giọt nước mắt, nghe những lời kể lể của mẹ, Ánh cũng mủi lòng. Nhìn các bạn cùng lứa tuổi cắp sách đến trường phổ thông, đại học, sinh hoạt ở một cơ quan, Ánh thèm muốn, ghen tị. Nhưng tiếp theo đó là một sự vui chơi, một mái tóc uốn kiểu mới, một buổi hò hẹn lôi cuốn. Kèm theo đó còn là nỗi uất ức, tủi thân muốn khiêu khích, muốn được trả đũa lại những gì mình không có, không được.

Một hôm ông thợ may bị mất mấy thước vải của khách đưa và một số tiền khá lớn. Bao nhiêu nghi ngờ, tội lỗi đều dồn vào đứa con gái hư hỏng. Suốt buổi chiều, các gia đình trong dãy nhà nghe tiếng roi, tiếng Ánh kêu thét qua ô cửa sổ nhỏ. Nhưng không một ai lên can. Những trận đòn không phải hiếm, có điều trận đòn này dữ dội, kéo dài hơn. Chiều tối mỏi tay, mệt người, ông thợ may trói con gái vào chân tủ bằng sợi dây da tháo từ bàn máy, rồi quay ra quát mắng bà vợ vừa sụt sịt khóc vừa dọn lại mâm cơm đã để nguội.

Ánh nhịn bữa chiều. Chín giờ tối, nhân lúc chồng bắt đầu mải mê vào những chồng vải khác vừa đưa đến, bà mẹ xúc cơm, đổ thức ăn vào ca rồi cởi trói cho con; không dám để con ăn ở nhà, bà dắt con xuống dãy nhà ngang, và bà nghĩ đến anh thợ xây đứng đắn, hiền lành ở cuối dãy mà chồng bà cũng có chút vị nể. Đã lâu lắm Ánh mới bước vào liên gian buồng của Việt ở (Ngày trước, hồi còn đi học, thỉnh thoảng Ánh vẫn vào phòng anh Việt để mượn sách truyện về đọc). Gian buồng rộng mười hai thước, ngoài chiếc giường và chiếc tủ nhỏ đóng lấy đựng quần áo trên đặt giá sách như cũ, giờ có thêm hai chiếc ghế mây và tấm bảng vẽ sơ đồ kết cấu bê-tông cốt sắt của bài giảng Việt đang theo học buổi tối. Thật ra Ánh không nhìn thấy những biến đổi đó. Mệt, đói, hai mắt đã khô nước mắt. Không ăn thì thiệt vào thân…Cô nghĩ thế và cầm lấy ca cơm mẹ mang xuống. Lát sau, ăn hết ca cơm, Ánh ngẩng lên thấy anh Việt đang chăm chú nhìn mình. Cô không ngượng, thậm chí theo thói quen đã tập được, cô còn đưa ngón tay út uốn cong khẽ gạt mấy sợi tóc mai và mỉm cười với anh nữa.

- Lúc chiều ông cụ quát thét, bà cụ xuống đây khóc mãi.

- Nhưng em có lấy đâu chứ — Ánh uất ức — ông cụ để quên đâu. Hay có thằng khách nào tiện tay nhón đi mất. Ông ấy đối xử với em như thế...

- Có thể Ánh không lấy. Nhưng tôi nghĩ, khi người ta nghi ngờ ai điều gì đều dựa trên những điều người ta đã biết về người đó. Nhất là bố con trong gia đình...

Im lặng.

- Ánh định sống mãi thế này sao? Anh chị em thanh niên chung quanh...

Anh Việt rót một chén nước, nhưng chưa đưa cho Ánh.

- Không. Em sẽ lấy chồng.

Ánh đột ngột quay phắt lại.

- Lấy ai?

Việt ngạc nhiên.

- Anh tưởng em sẽ lấy những thằng ăn diện, đang vây quanh, theo đuôi em à - Ánh cười nhạt. Đôi mắt của cô gái trở nên dữ tợn, đanh ác. Lấy chúng nó để rồi ngồi nhà ôm con cho chúng nó đi theo tán đứa khác, về nhà đánh chửi mình. Em sẽ lấy một thằng nào thật đụt, thật ngù ngờ. Thằng đó chỉ biết có mình, sợ mình, làm nô lệ cho mình. Nó không dám khinh mình. Còn những người tử tế đứng đắn khác ư?...

Ánh bần thần nhìn chén nước bốc khói trước mặt. Cô nói như thủ thỉ:

- Những người như thế họ phải tránh xa em chứ!

Và thật bất ngờ, Ánh ngẩng phắt lên nhìn Việt, đôi mắt cô càng lóng lánh quái ác:

- Như anh Việt ấy... Em thử hỏi... Anh có dám lấy những đứa hư hỏng như em làm vợ không?

Hai tiếng hư hỏng Ánh dằn mạnh, như muốn nghiến nó trong miệng.

Việt chớp mắt, hơi ngạc nhiên vì thái độ đó của Ánh. Nhưng Việt không lảng tránh cái nhìn của cô gái đáng tuổi em anh này. Một lát sau, anh nói với Ánh bằng giọng hết sức ôn tồn điềm tĩnh:

- Tôi không coi Ánh là hoàn toàn hư hỏng, không thể thay đổi được. Nhưng tôi nghĩ... sẽ đến một lúc mà nghĩ về một người nào đó người ta không thể nương nhẹ vì hoàn cảnh xấu ảnh hưởng, làm hư hỏng người đó. Vì đến khi ấy chính người đó đã làm ảnh hưởng, làm hư hỏng sang những người khác rồi.

Ánh đưa hai tay ôm lấy mặt, gục xuống bàn, bật khóc. Tiếng khóc nức nở. Lồng ngực, đôi vai cô gái rung bần bật. Hình như bao nhiêu nỗi tủi thân, uất ức, giận dỗi ngấm ngầm, bấy lâu tích nén trong người giờ vỡ thành những giọt nước mắt, tràn ra.

Thường thì hai người yêu nhau khi thấy có những suy nghĩ, tình cảm hòa hợp. Nhưng có khi người ta thấy một người đánh giá đúng về mình, thẳng thắn nói ra những điều ẩn kín trong tâm tư, suy nghĩ của mình và mình thì chợt nhận thấy cái khoảng cách xa vời giữa mình và người đó. Khoảng cách đó làm nên lòng kính phục, dẫn đến tình yêu.

Ông thợ may thật sự vui mừng khi thấy đứa con gái mình gắn bó với anh công nhân đứng đắn. Dẫu sao đây cũng là một người biết xét đoán con người qua công việc làm chứ không phải qua những bộ quần áo mà chính tay ông may cắt. Khi hai người làm lễ cưới, ông cho hẳn con gái cái máy Xanh-gie mới và chuẩn bị chuyền cho con may những loại quần áo đắt công nhất mà ông nhận cắt.

Nhưng Việt không nhận món quà đó. Sáu tháng sau khi cưới, Việt trả lại gian nhà cuối dãy cho phòng nhà cửa khu phố, anh xin đổi lên một công trường xây dựng ở vùng trung du và mang vợ đi cùng.

Từ đó đến nay vợ chồng Việt đã qua nhiều công trường xây dựng lớn nhỏ. Khi về công trường thủy điện này, Việt là đội trưởng đội bê-tông, còn Ánh đã là thợ xây bậc bốn trên dàn giáo cao...

Tuấn ngừng kể, xòe diêm châm một điếu thuốc mới.

- Mỗi khi viết bài về công trường Thác Bà - Tuấn nói tiếp - Tôi lại nghĩ đến cặp vợ chồng Ánh, đến cái buổi tôi gặp cô đầu tiên ở trên dàn giáo, đến đứa con trai của họ, về vui sướng của Ánh khi ướm chiếc áo sơ-mi rất đẹp do ông bố giờ làm trong hợp tác xã may mặc ở Hà Nội cắt, anh chồng phải chờ đợi vất vả để mang lên cho vợ. Nhưng tôi không làm sao kể lại hết được những điều như trong lòng mình muốn kể. Có lẽ vì tôi không có tài. Cũng có thể vì những chuyện đó không dính líu nhiều đến việc đánh chìm một diện tích lớn, đắp kè, lập nhà máy phát điện, công suất đường dây cao thế... của công trường thủy điện, mà hễ nhắc đến Thác Bà người ta phải kể đến…

Anh phóng viên lại ngừng lời, hút thuốc lá liên tiếp. Những sợi khói thuốc xanh lam bay lơ lửng trong ánh trăng đục mờ, như hắt từ dưới mặt sông lên.

- Viết đi. Một chủ đề rất hay. Anh thợ xây không những xây dựng nên những công trình cho đất nước, mà còn xây dựng nên những con người, những con người mới...

Anh bạn khảo cổ học cũng nhổm dậy châm thuốc. Anh chêm vào lời Tuấn với vẻ vừa cười cợt, vừa thật nghiêm trang.

Chúng tôi im lặng.

Tuấn húng hắng ho. Điếu thuốc trong tay anh lóe đỏ, rồi bay vồng rơi xuống mặt sông. Ngẫm nghĩ một tý, anh như bù sông thêm vào câu nói của anh bạn khảo cổ:

- Không phải chỉ biết xây dựng nên những con người mới, mà là biết xây dựng nên hạnh phúc đẹp đẽ của chính bản thân mình. Các anh đã dự buổi đổ bê-tông nền đập chắn nước lớn của công trường. Một trong những người phụ trách mẻ bê-tông quan trọng đó là Việt. Nguyễn Đình Việt. Còn người cầm cây cờ đỏ đứng trên dàn cao điều khiển để các bộ phận trong đội bê-tông, đội thợ xây phối hợp công việc đó là Ánh, vợ anh.

Chúng tôi im lặng.

Qua một mảng mây trắng xám, mặt trăng vừa đột ngột nhô ra chếch trên đỉnh đầu. Ánh trăng bừng sáng trên bãi cỏ. Ánh trăng bừng sáng trên mặt sông.

Bên kia sông có tiếng máy ca-nô bật nổ. Con phà đã mắc dây cáp, theo đà ca-nô dắt đang quay mũi ì oạp rẽ sóng sang bờ bên này đón xe.

7-1971

Văn nghệ, số 431/1971
Người dùng nói về VinFast VF MPV 7: Đi đường dài nhàn hơn, cả nhà yên tâm hơn

Người dùng nói về VinFast VF MPV 7: Đi đường dài nhàn hơn, cả nhà yên tâm hơn

Baovannghe.vn - Cảm giác chắc chắn khi vận hành, không gian thoải mái cho cả nhà cùng chi phí sử dụng hợp lý giúp VinFast VF MPV 7 trở thành người bạn đồng hành được nhiều gia đình tin tưởng.
VinFast Amio S: Xe điện đầu đời cho con vào lớp 10, giá sau ưu đãi chỉ 11,6 triệu đồng

VinFast Amio S: Xe điện đầu đời cho con vào lớp 10, giá sau ưu đãi chỉ 11,6 triệu đồng

Baovannghe.vn - Nhỏ gọn, không yêu cầu bằng lái và có tốc độ phù hợp với lứa tuổi học trò, VinFast Amio S đáp ứng đúng những tiêu chí phụ huynh đặt ra cho chiếc xe đầu đời của con. Mẫu xe còn ghi điểm nhờ bộ bàn đạp dự phòng, pin LFP bền bỉ và giá lăn bánh sau hỗ trợ chỉ khoảng 11,6 triệu đồng.
Hội diễn Đàn, Hát dân ca 3 miền năm 2026, được tổ chức tại thành phố Huế

Hội diễn Đàn, Hát dân ca 3 miền năm 2026, được tổ chức tại thành phố Huế

Baovannghe.vn - Hội diễn Đàn, Hát dân ca 3 miền năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 4 - 8/7/2026 tại thành phố Huế với sự tham dự của 27 đoàn Nghệ thuật quần chúng (NTQC) thuộc Trung tâm Văn hóa các tỉnh, thành phố trên cả nước.
Chuyến đò đã qua. Truyện ngắn của Trần Đình Nhân

Chuyến đò đã qua. Truyện ngắn của Trần Đình Nhân

Baovannghe.vn - Nhận quyết định nghỉ hưu. Lẽ ra với một công việc, lương hưu còn cao hơn đi làm, ở độ tuổi của Hường được nghỉ phải vui mới đúng! Đằng này, lòng chị lại châng lâng, ruễnh roãng như phải đối mặt với điều quá khó khăn...
Tổ chức Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ

Tổ chức Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ

Baovannghe.vn - Theo kế hoạch của Cục Điện ảnh, (Bộ VHTT&DL) Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ sẽ diễn ra từ ngày 21/7/2026 đến 28/7/2026 trên phạm vi cả nước.