Trải qua hàng nghìn năm, đất nước Việt Nam đã mang nhiều quốc hiệu gắn với các giai đoạn lịch sử khác nhau, như Xích Quỷ, Văn Lang (Hùng Vương); Âu Lạc (An Dương Vương); Vạn Xuân, Đại Cồ Việt (nhà Đinh); Đại Việt (Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn); Đại Ngu (nhà Hồ); rồi Việt Nam, Đại Nam (thời Nguyễn); đến các tên gọi thời hiện đại như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay. Những quốc hiệu này phản ánh sự hình thành và phát triển của quốc gia dân tộc qua các giai đoạn, từ thời kỳ sơ khai đến khi đất nước thống nhất, là di sản văn hóa mà mỗi người Việt đều nên biết.
Xích Quỷ (赤 鬼) là quốc hiệu trong truyền thuyết về nhà nước sơ khai đầu tiên của người Việt, được thành lập bởi Kinh Dương Vương - Đức Thủy tổ khai sinh của dân tộc Việt Nam. Vốn là con thứ của Đế Minh (cháu ba đời của Thần Nông) tên là Lộc Tục, thuộc thời kỳ Hồng Bàng. Kinh Dương Vương lên ngôi vua vào năm 2879 TCN, lập lên Nhà nước Xích Quỷ (tên một vì sao Sắc đỏ trong số 28 vì sao sáng trên bầu trời) - nhà nước sơ khai độc lập có chủ quyền đầu tiên của dân tộc ta [1], trải dài từ phía Nam Trung Quốc đến Bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay, trước khi đổi thành Văn Lang thời Hùng Vương. Dù không có bằng chứng khảo cổ xác thực, truyền thuyết này xuất hiện trong sách sử Việt Nam, liên quan đến thủy tổ người Việt.
Văn Lang (文郎) là quốc hiệu của nhà nước sơ khai đầu tiên của Việt Nam thời các Vua Hùng. Kinh Dương Vương kết duyên với Thần Long sinh ra Lạc Long Quân (tên húy là Sùng Lãm). Hùng Vương đời thứ nhất là con trưởng của Lạc Long Quân đi theo mẹ lên núi, đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang, chia đất nước thành 15 bộ, gọi tướng văn là Lạc Hầu, tướng võ là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ đạo. Nhà nước Văn Lang truyền được qua 18 đời, đều gọi là Vua Hùng [2]. Thời gian tồn tại của nước quốc hiệu Văn Lang khoảng từ thế kỷ I TCN đến thế kỷ III TCN.
Âu Lạc (甌貉) là quốc hiệu nhà nước cổ của người Việt, hình thành từ sự liên minh giữa hai bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt, kế thừa từ nhà nước Văn Lang. Năm Giáp Thìn (257 TCN), Thục Vương đã lấy được nước Văn Lang, đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê [3].
Vạn Xuân (萬春) là quốc hiệu của nước ta trong một thời kỳ độc lập dưới thời nhà Tiền Lý và nhà Ngô. Mùa Xuân năm 542, Lý Bí khởi nghĩa, đánh đuổi quân Lương, giải phóng được lãnh thổ. Tháng Giêng, mùa Xuân, năm Giáp Tý (544). Lý Bôn tự xưng là Nam Việt đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, có ý mong xã tắc lâu dài đến muôn đời [4]. Chính quyền Lý Bí tồn tại không lâu, từ năm 602 nước ta rơi vào vòng đô hộ của các triều đại Trung Quốc và được khôi phục sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán bằng chiến thắng Bạch Đằng năm 938.
Đại Cồ Việt 大瞿越 là quốc hiệu nước ta tồn tại trải qua bảy vị vua trị vì thuộc ba triều đại: nhà Đinh (968-979), nhà Tiền Lê (980-1009) và đầu thời nhà Lý (1010-1054) [5].
Đại Việt (大越) là quốc hiệu nước ta thời nhà Lý, nhà Trần. Tháng 10 năm Giáp Ngọ (1054), Thái tử Nhật Tôn lên ngôi, đổi lại niên hiệu (Lý Thánh Tông), đổi quốc hiệu là Đại Việt [6] và quốc hiệu Đại Việt được giữ nguyên đến hết thời Trần.
Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu nước ta thời nhà Hồ (1400-1407). Mùa xuân, tháng 2, năm Canh Thìn (1400), Quý Ly truất phế vua Trần Thiếu Đế lập ra nhà Hồ, tự xưng Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu là Đại Ngu và đổi họ mình là họ Hồ [7]. Chữ "Ngu" có nghĩa là yên vui, quốc hiệu Đại Ngu đã tồn tại cho đến khi giặc Minh đánh bại triều Hồ (tháng 4 năm 1407).
Đại Việt (大越) là quốc hiệu nước ta thời kỳ Hậu Lê (1428-1787) và nhà Tây Sơn (1788-1802). Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi toàn thắng. Ngày rằm tháng tư, mùa hạ năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi ở điện Kính Thiên, xưng là Thuận Thiên thừa vận duệ văn anh vũ đại vương, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, quốc hiệu là Đại Việt [8].
Việt Nam (越南) là quốc hiệu nước ta thời Nhà Nguyễn. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua và sau đó vào ngày Đinh Sửu, tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà vua ban chiếu đặt quốc hiệu là Việt Nam, đem việc cáo Thái Miếu. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài [9].
![]() |
| Nhà vua ban chiếu đặt quốc hiệu là Việt Nam vào ngày Đinh Sửu, tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804) - Nguồn: Quốc sử quán triều Nguyễn, "Đại Nam thực lục chính biên", Đệ nhất kỷ, quyển 23, trang 12-13 |
Đại Nam (大南) là tên nước ta từ thời vua Minh Mệnh nhà Nguyễn, ngày Giáp Tuất, tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) nhà vua ban chiếu cho định quốc hiệu là nước Đại Nam [10]. Quốc hiệu này tồn tại 107 năm từ năm 1838 đến năm 1945. Tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), bắt đầu khắc ấn Đại Nam thiên tử (ấn hình vuông mỗi chiều 2 tấc 9 phân, dày 1 tấc 2 phân, 3 li, cao suốt 2 tấc, 4 phân) [11]. Các hình dấu có mang tên nước Đại Nam, như Đại Nam thiên tử chi tỉ, Đại Nam Hoàng đế chi tỉ được đóng trên công văn về ngoại giao gửi các nước Thủy Xá, Hỏa Xá, Cao Miên, Pháp [12]...
![]() |
![]() |
![]() |
| Mặt, núm, hình dấu Đại Nam Thiên tử chi tỉ 大南天子之璽 - Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Kim ngọc bảo tỉ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam, H, 2009 |
![]() |
| Bản truyền thị ngày 27 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) của tỉnh Long - Tường cho Thự Tri phủ phủ Hoằng An kiêm lý viên huyện huyện Tân Minh về việc quy định sử dụng quốc hiệu - TTLTQG I, "Châu bản triều Nguyễn" |
![]() |
| Bản tấu của Bộ Lễ về việc đóng dấu Đại Nam Hoàng đế chi tỉ ở đầu đề thư và dòng ghi niên đại của thư gửi quốc trưởng Phú Lang Sa (Pháp) - Nguồn: TTLTQG I, "Châu bản triều Nguyễn" |
Việt Nam (越南) là một trong những quốc hiệu chính thức của nước ta thời nhà Nguyễn, được vua Gia Long đặt năm 1804, mặc dù sau đó vua Minh Mệnh đã đổi thành Đại Nam năm 1838. Ngày mồng 7 tháng 12 năm Tự Đức thứ 30 (1877), Viện Cơ mật tấu xin đề nghị đổi quốc hiệu là Đại Hóa để không quên nguồn gốc, gồm cả âm thanh nước Nam, và Thanh Hóa là nơi xuất phát điềm lành, hơn nữa Thuận Hóa là nơi mở ra cơ nghiệp, nên chữ Hóa bao hàm được cả hai nghĩa [13]. Tuy nhiên, trên thực tế tên gọi Đại Hóa không được phê chuẩn sử dụng, vì vậy dưới triều Nguyễn, quốc hiệu nước ta vẫn được sử dụng là Việt Nam
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc hiệu Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945-1975). Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, đã lật đổ hoàn toàn ách thống trị phong kiến và thực dân, mở ra một kỷ nguyên mới. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được khẳng định trong Hiến pháp năm 1946.
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc hiệu Việt Nam từ năm 1976 sau khi đất nước thống nhất đến nay. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước được thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, toàn thể Quốc hội đã nhất trí lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
![]() |
| Mẫu Quốc huy Việt Nam được ban bố theo Sắc lệnh số 254-SL ngày 14 tháng 1 năm 1956 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nguồn: TTLTQG III, Công báo năm 1956 |
Tên nước là niềm tự hào và biểu tượng của nền độc lập, đồng thời khẳng định chủ quyền của quốc gia mà bao thế hệ đã phải hy sinh, đấu tranh mới giành lại được.
[1] Nội các quan bản, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB Khoa học - Xã hội, H, 1998, tr.132.
[2] Nội các quan bản, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB Khoa học - Xã hội, H, 1998, tr.133.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 1, NXB Giáo dục, H, 1998, tr.7.
[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 1, NXB Giáo dục, H, 1998, tr.49.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 1, NXB Giáo dục, H, 1998, tr.81.
[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 1, NXB Giáo dục, H, 1998, tr.133.
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 1, NXB Giáo dục, H, 1998, tr.324.
[8] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 1, NXB Giáo dục, H, 1998, tr.393.
[9] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 1, NXB Giáo dục, H, 2007, tr.627.
[10] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 5, NXB Giáo dục, H, 2007, tr.282.
[11] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 5, NXB Giáo dục, H, 2007, tr.486.
[12] TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn.
[13] TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn.