So thế hệ thứ nhất Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng với “thơ ngăn kéo,” thế hệ thứ hai với Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Mai Văn Phấn…tuy không có sự “bất bình tắc minh,” nhưng có ý thức tự giác và khát khao đổi mới. Họ xuất hiện ở những thời điểm khác nhau trên tiến trình đổi mới và đóng góp của họ cũng ở những cạnh khía khác nhau. Trong số này, Nguyễn Linh Khiếu như một hiện tượng đột xuất, tuy anh làm thơ đã lâu.
|
Có thể nói, Hoa Linh Thảo là một tập đại thành của thơ Nguyễn Linh Khiếu. Các tập thơ trước đó đều chứa đựng một yếu tố thiêng liêng: Chùm mơ TIÊN CẢM, Mùa THIÊNG, Hoa LINH, Linh hương, Dòng THIÊNG... Sau đó, cái thiêng này tác động đến vạn vật, tạo ra sự sinh sôi nảy nở. Từ Sa hồng đến Phồn sinh, sự sinh sôi nảy nở đã được nâng lên thành một luận thuyết, một triết lí, một triết học. Cuối cùng là thể thơ. Nguyễn Linh Khiếu bắt đầu với thơ trữ tình (Chùm mơ tiên cảm), chuyển qua trường ca, từ ngắn (Ban mai Diêm Điền, Lá non mùa Hà Nội) đến dài (Linh hương), từ dài đến đồ sộ (Phồn sinh, Hoa Linh Thảo), sau đó là thơ văn xuôi/văn xuôi thơ mà tác giả gọi là tùy văn (Beijing - Lá phong vàng, Chân mây, Hoa khởi trinh). Như vậy, về thể loại thơ Khiếu cũng có sự triển nở từ ngắn đến dài, từ quy chuẩn đến tự do, từ đơn giản đến phồn tạp, từ đơn tuyến đến đa tuyến, thậm chí đa hệ. Hoa Linh Thảo là một tích hợp và nâng cao của thơ Nguyễn Linh Khiếu, một thế giới nghệ thuật của anh.
Hoa Linh Thảo là một trường ca lớn, và hoàn chỉnh nhất, nên trước khi đi vào nội dung, tôi sẽ nói qua về thể loại. Trường ca xuất hiện vào thời cuối kháng chiến chống Pháp với Đi! Đây Việt Bắc của Trần Dần, và đặc biệt nở rộ trong chiến tranh chống Mĩ. Trường ca thuộc bộ phận văn học bị/được sử thi hóa. Sử thi vừa theo nghĩa đồ sộ, hoành tráng vừa theo nghĩa anh hùng ca thời cổ. Với một thái độ kính ngưỡng, trường ca thời chống Mĩ chuyên nói về những vấn đề lớn, những “đại tự sự” của dân tộc như chiến tranh, xây dựng xã hội chủ nghĩa, người anh hùng… Trường ca bập bênh giữa tự sự và trữ tình. Những tác phẩm đầu tiên nghiêng về tự sự, như Bài ca chim Chơ-rao của Thu Bồn. Đến giữa chừng với Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, Đêm trên cát của Thanh Thảo bắt đầu có sự cân bằng giữa tự sự và trữ tình. Đến Trần Anh Thái, trường ca hậu chiến nghiêng lệch hẳn về cực trữ tình. Trường ca Nguyễn Linh Khiếu ở Phồn sinh và Hoa Linh Thảo nổi bật ở tính trữ tình, tính dân dã, và, do vậy, thoát được tính sử thi vốn là bản mệnh của thể trường ca thời chống Mĩ. Có thể nói, Phồn sinh và Hoa Linh Thảo là một bước phát triển khác, một khúc rẽ, của trường ca Việt. Và chính ở đây là chỗ đóng góp riêng của Nguyễn Linh Khiếu cho thơ Việt đương đại.
Cũng như “lá diêu bông” của Hoàng Cầm, “hoa Linh Thảo” của Nguyễn Linh Khiếu không phải là loài hoa có thật trong tự nhiên, mà chỉ là một “Ta đã định danh một loài hoa trên thế gian/ có phải những bông hoa Linh Thảo Kolkata chờ đợi ta đã lâu lắm rồi không.” Ở lời tựa trường ca Hoa Linh Thảo, tác giả đã hé lộ về cách đặt tên loài hoa này, rằng nó được bắt đầu từ một câu chuyện hư ảo khi anh còn nhỏ. Khi đó anh và người bạn của mình đã gặp loài hoa ấy nở dọc triền đê biển trong một đêm trăng non đầy ma mị. Đến năm 1995, anh đã viết bài thơ Hoa Linh Thảo. Thế rồi, trong chuyến thăm Ấn Độ, khi vừa bước ra cửa sân bay thì nhà thơ đã được một nữ thi sĩ sở tại xinh đẹp choàng lên cổ một tràng hoa. Anh không biết đấy là hoa gì, và cái tên hoa Linh Thảo chợt xuất hiện trở lại. Thế là từ đó, với anh, hoa nào cũng là hoa Linh Thảo, hương thơm nào cũng là hương hoa Linh Thảo, nhan sắc nào cũng là vẻ đẹp hoa Linh Thảo… Loài hoa này vốn tồn tại âm thầm trong vô thức nhà thơ bỗng bùng nở trong cõi hữu thức.
|
Hoa Linh Thảo, bởi thế, là một biểu tượng nhiều mặt. Bông hoa này tượng trưng cho một quan niệm thơ khá mới mẻ của Nguyễn Linh Khiếu. Anh đi nhiều, trải nghiệm lắm, nhưng không làm thơ để phản ánh các cảnh tượng bên ngoài, hay phong cảnh nội tâm, mà để phát hiện ra “những điều mới mẻ kì lạ vốn ẩn giấu thầm kín trong ta” (Hoa Linh Thảo, tr.12). Kho báu đó không chỉ kì lạ với người ngoài, với thế giới bên ngoài, mà kì lạ cả với chính chủ nhân của nó, nhà thơ. Mà “mở kho báu của chính mình nghĩa là nhà thơ phải tự tìm con đường riêng của chính mình”. Con đường riêng ấy của Nguyễn Linh Khiếu chính là làm thơ.
Hoa Linh Thảo là biểu tượng của phồn sinh. Trước hết là phồn sinh người. Con người cần đông đàn dài lũ để duy trì chủng loại, để lấy nhân lực chống ngoại xâm nội địch. Trong nhiều chuyến đi Ấn Độ, Nguyễn Linh Khiếu bị hấp dẫn bởi văn hóa Ấn Độ. Ngắm các phù điêu ở đền thờ Hindu giáo, nhà thơ chợt ngộ: “những thiếu nữ dáng hình mê hoặc phô bày kho tàng khoái lạc/ quanh năm bận mải giao phối và sinh con/ không có gì quan trọng bằng hành vi giao phối/ không có gì vĩ đại bằng hành vi sinh sản/ đó là hành vi khởi sinh vĩ đại/ đó là hành vi gieo mầm sống thiêng liêng.” Trở về Việt Nam, một xứ sở nhiệt đới gió mùa, một hệ sinh thái tiền sử phồn tạp, một sự cạnh tranh sinh tồn khốc liệt, nên đâu đâu cũng thấy phồn thực phồn sinh. Đó là phồn sinh động vật và thực vật, nhất là hành vi sinh đẻ. Nguyễn Linh Khiếu ngoại hiện hóa một cách tinh tế cái hành vi vừa trần tục vừa linh thiêng này: “hạt mầm cựa quậy dưới đất nâu/ trứng hồng loay hoay tách vỏ/ ấu trùng tinh tường xoay xở lột xác/ con đực kho tàng đầy căng giống/ cái kho tàng đầy căng trứng đỏ.” Như vậy, với Nguyễn Linh Khiếu, con vật nào đang ở trạng thái sinh nở cũng đều là một vật linh. Nó có sứ mệnh duy trì nòi giống, kéo dài đời sống của chủng loại. Mà đời sống của loài thì bao giờ cũng quan trọng hơn đời sống của mỗi cá thể. Đó là chiến lược truyền sinh của vạn vật. Nguyễn Linh Khiếu, thậm chí, ca ngợi hoa cứt lợn đẹp hơn hoa hồng, bởi hoa cứt lợn ở đâu cũng sống được, chỉ hôm trước đến hôm sau là đã um tùm. Cái nhìn truyền sinh, như vậy, đã làm đảo lộn thẩm mĩ thông thường.
Hình như tín ngưỡng phồn thực không ảnh hưởng gì đến triết luận phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu. Mà, nếu có, cũng chỉ là gián tiếp qua sự di truyền của các cổ mẫu. Trực tiếp hơn, có lẽ, là vùng quê anh sống suốt thời thơ ấu. Đó là đất Thụy Anh, Thái Ninh, nơi dừng chân trước biển của châu thổ sông Hồng. Bao sinh lực của phù sa, của giun dế, của cá tôm, của chim chóc dồn lại ở cửa sông Trà Lý, ở bãi biển Diêm Điền. Những câu thơ phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu bắt đầu từ đó. Có điều chỉ mãi sau này anh mới cầm bút viết: “là nhà thơ ta thấm đẫm cội rễ của mình/ bến bờ quê hương cánh đồng lam lũ/ trong tâm hồn ta náo động tiếng vỗ cánh hân hoan/ của chim chóc và côn trùng mùa hôn phối/ ta đồng nghĩa với tung tăng tôm cá hòa thuận/ ta đồng nghĩa với lũ cào cào châu chấu lanh chanh/ tưng bừng áo xanh áo đỏ/ ta đồng nghĩa với lũ còng còng nhút nhát càng xanh/ càng đỏ hồn nhiên rong chơi trên bãi bồi phù sa/ ta đồng nghĩa với lũ giun đất lấm lem/ lầm lũi miệt mài cao thượng/ ta đồng nghĩa với lũ lươn chạch suốt đời vùng vẫy/ trong bùn nhưng thi thoảng đập đuôi xao động vầng trăng xanh biếc/ ta đồng nghĩa với bầy sáo đen mỏ vàng tha rác làm tổ/ trên những ngọn đa làng cất tiếng ca ngợi những ban mai/ thiên đường những đứa con đông đúc” (Ban mai Diêm Điền).
|
Từ ngón chân út châu thổ sông Hồng, Nguyễn Linh Khiếu vươn lên tầm nhìn toàn cảnh sông Mẹ. Sông Hồng vốn có tên là sông Cái, tức sông Lớn, sông Mẹ. Đây là xứ sở phồn sinh cho tất cả con người, động vật, chim muông, tôm cá ở nơi đây: “ta ra đi từ châu thổ sông Hồng/ miền lúa nước huy hoàng/ miền trâu nước hùng vĩ/ miền chim nước sặc sỡ/ miền nhân nước phì nhiêu/ miền thủy sinh phi thường miền lưỡng cư mộng mị/ nơi thần tình yêu ngự trị.”
Sông Hồng chính là nguyên lí Mẹ, là thiên tính nữ của dân tộc Việt Nam, của văn hóa Việt Nam. Con sông đã chảy từ huyền sử sang lịch sử. Lạc Long Quân và Âu Cơ là cặp đôi huyền thoại, một sự kết hợp các mẫu gốc. Núi và Nước, Tiên và Rồng, Âm và Dương… Nhờ đó mà một sự “sinh nở thần kì” đẻ ra một bọc trăm trứng, nở ra thành một trăm chàng trai khỏe mạnh, thông minh. Dòng giống của dân tộc Việt Nam đông đàn dài lũ bắt nguồn từ biểu tượng Trời Đất giao hòa qua những hạt nước linh thiêng này: “những đêm thiêng châu thổ sông Hồng/ chỉ mấy hạt nước đầu tiên rơi xuống/ trời đất vỡ tan ra hàng trăm ngàn mảnh/ bồng bềnh chao đảo chung chiêng.”
Không phải ngẫu nhiên mà vào đêm giã đám của những hội làng ven sông, trai gái đem nhau ra bờ sông, bờ đê bắt chước các hành vi khởi nguyên của Đất Trời này để tạo ra bản Hồng ca nhân phồn. Cũng chính ở nơi các dòng sông hội tụ các cặp đôi truyền thuyết của dân tộc gặp nhau: “Sơn Tinh gặp Mị Nương/ Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung/ Khâu Đà La gặp Man Nương/ Triệu Đà gặp Trình Thị/ Mỵ Châu gặp Trọng Thủy/ Từ Thức gặp Giáng Hương.” Đấy là huyền thoại, một huyền thoại luôn luôn được/bị lịch sử hóa. Hoặc là những cặp đôi lịch sử bị huyền thoại hóa. Bởi vậy, cả huyền thoại lẫn lịch sử ở Việt Nam đều được dôi thêm chiều kích, đều dôi thêm ý nghĩa. Đó là nơi chứa đựng nhiều bí ẩn của phồn sinh. Nhưng Nguyễn Linh Khiếu chú tâm hơn vào thứ lịch sử của đời thường: “nơi ông gặp bà nơi bác gặp bá nơi cha gặp mẹ nơi chú gặp cô nơi cậu gặp mợ nơi dì gặp dượng nơi anh gặp chị nơi ta gặp nhau/ trời đất mang mang/ sông nước mang mang/ (…) những mối tình bất tử.”
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử: “dòng nước lạnh lẽo kia chẳng nói năng gì/ Kỳ Cùng mùa đông tiếng thở dài vô bờ bến/ những gì đã mất thỉnh thoảng đời ta lại mất.”
Nguyễn Linh Khiếu đã đúng, để bảo vệ được phồn sinh, thì phải có tự do. Trước hết là tự do cho dân tộc, sau đó là tự do cho cá nhân, nhất là cho các nhà thơ. Tự do không chỉ là điều kiện của sáng tạo mà còn là mục đích của sáng tạo: “không có tự do mọi sáng tạo thi ca chỉ là văn tế/ mọi sáng tạo văn chương chữ nghĩa chỉ là điếu văn/ mọi sáng tạo âm nhạc chỉ là nhạc hiếu/ mọi sáng tạo điện ảnh chỉ là trình diễn nghi lễ cầu cúng nghĩa địa.”
Như vậy, từ cảnh tượng phồn sinh, nhà thơ đã nâng cấp lên thành triết lí phồn sinh, cuối cùng thành triết học về sự sống. Tạo lập được tư cách nhà thơ - triết học. Sự sống ở châu thổ sông Hồng là một phồn sinh mạnh mẽ. Nhưng một khi nó đã đạt đến đỉnh điểm, đến viên mãn, thì nó phải thoái lùi, tự đánh vỡ mình theo một chu kì bí ẩn nào đó của vũ trụ. Nạn vỡ đê, nạn châu chấu làm hại mùa màng. Chiến tranh, dịch bệnh làm thiệt hại nhân mạng. Thời tiết nóng quá hoặc lạnh quá làm hại gia súc, gia cầm… Để có thể khắc phục được mặt trái của phồn sinh này, người Việt đã kiến tạo một minh triết cho sự sống, đúng hơn sống sót. Tôi gọi đó là Đạo Sống.
Trong Hoa Linh Thảo, Nguyễn Linh Khiếu đã cho thấy một “sự sống không bao giờ chán nản” (tên bài thơ Xuân Diệu) của con người, của động vật và của cây cối. Đạo Sống hoặc con đường để sống sót, để vượt qua những rào cản sống, đó là tiếng cười. Tiếng cười làm cho ta quên hết mọi sự trên đời, đặc biệt sự cực nhọc, cực khổ. Tiếng cười dễ lây lan trong đám đông, trong cộng đồng. Có thể nói, người Việt là người cười. Trong lời ăn tiếng nói thường ngày có nhiều cách nói, cách sử dụng câu chữ gây cười. Tiếu lâm/rừng cười có nghìn lẻ một câu chuyện cười. Rồi đố tục giảng thanh, đố thanh giảng tục. Rồi các loại hề của lễ hội dân gian, sân khấu dân gian, như hề chèo, hề gậy, chú Tễu… Có điều đặc biệt ở đây là tiếng cười cất lên, thốt ra từ niềm vui sống, từ bản chất của đời sống. Nó ca ngợi sự sống, sự sinh sôi nảy nở, đồng thời có châm biếm, chế giễu những rào cản sự sống, để đảm bảo cho dòng sống tuôn chảy liên tục, tự nhiên. Tiếng cười này, do vậy, mang tính chất nội bộ, xây dựng cho đối tượng bị cười cợt cốt tiến bộ lên, nhằm đảm bảo sự cố kết cộng đồng. Sau này, khi xã hội phân hóa thành các đẳng cấp, giai cấp, có sự bất bình đẳng về quyền lợi, thì mới xuất hiện tiếng cười đả kích. Cười để xóa bỏ, để thủ tiêu đối tượng. Trong Hoa Linh Thảo của Nguyễn Linh Khiếu có cả hai loại cười này. Nhưng tiếng cười chế giễu, hài hước, tự trào vẫn là âm điệu chủ đạo. Những nụ cười mỉm thấp thoáng đâu đó trong ngôn từ, hình ảnh, câu thơ.
Tuy nhiên, triết học về sự sống của văn hóa Việt Nam nói chung và của thơ Nguyễn Linh Khiếu nói riêng sẽ hoàn chỉnh hơn nếu đối trọng với triết học về sự sống có triết học về sự chết. Có lẽ người Việt Nam luôn sống bên bờ vực của sự sống sót, nên họ ngoảnh mặt đi không dám nhìn vào vực thẳm của cái chết. Thậm chí, người Việt tránh gọi tên cái chết, mà dùng rất nhiều uyển ngữ như: về trời, hai năm mươi, khuất núi, băng hà… Không như Nhật Bản và đặc biệt Ấn Độ, họ chấp nhận cái chết, coi nó là một giai đoạn trong tiến trình sống, thậm chí sự khởi đầu cho một kiếp sống khác, cho sự tiếp diễn và nâng cao của sự sống. Có lẽ ít nhiều thức nhận được sự thống nhất và chuyển hóa không ngừng của các mặt đối lập như Phồn Sinh và Tàn lụi, sống và chết, nên kết thúc trường ca Hoa Linh Thảo, Nguyễn Linh Khiếu đã viết: “ta đã đến và ta đã hát/ khúc Phồn Sinh thăm thẳm một cõi người/ ta đã yêu và ta đã buồn/ ta đã sinh ra và ta đã hủy diệt/ một thế giới Phồn Sinh bạt ngàn Hoa Linh Thảo/ bạt ngàn ta bạt ngàn thi nhân bạt ngàn sự sống. ”
Nguyễn Linh Khiếu là một nhà thơ rất có ý thức về công tác thơ của mình, về sứ mệnh thơ ca của mình. Ở anh có một sự phân thân triệt để giữa nhà chính trị và nhà thơ cùng tồn tại trong con người Nguyễn Linh Khiếu. Mỗi nhà đó có một phận sự, một mục tiêu, một nhân cách khác nhau, không lẫn lộn với nhau. Nhờ đó, anh không bị rối loạn đa nhân cách như một số nhà thơ thế hệ tiền bối. Nhưng cũng có thể ở Nguyễn Linh Khiếu con người nhà thơ và con người chính trị hòa trộn vào nhau, trở thành một, vô phân biệt. Hoặc có một cái gì đó đứng cao hơn cả hai con người này. Có lẽ, đó là Phồn Sinh, là Linh Thảo. Quả là con Khiếu rất linh: “nhà thơ sinh thành chính mình/ nhà thơ chỉ khi là mình/ mới chính là con người/ mới chính là quê hương/ mới chính là dân tộc/ mới chính là đất nước/ chính là Tổ quốc/ chính là nhân loại.” Từ đó, Nguyễn Linh Khiếu xác định mình là “nhà thơ độc quyền hát bản Hồng ca mùa màng sinh sôi nảy nở.” Và, do đó, anh trở thành “giáo chủ Phồn Sinh giáo.” Anh là người được chọn của và do sông Hồng: “Sông Hồng chọn ta là nhà thơ xứ sở/ trong các nhà thơ của châu thổ sông Hồng/ Sông Hồng trao sứ mệnh độc quyền phát ngôn xứ sở Phồn Sinh.”
Do ý thức được như vậy, Nguyễn Linh Khiếu đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh được giao. Nhà thơ đã tạo nên một chính thể thơ ca vừa chặt chẽ vừa xộc xệch, vừa xuyên suốt vừa nhiều đường ngang ngõ rẽ, vừa chắt lọc vừa xô bồ, vừa bác học vừa dân dã… Đây là kiểu tư duy thơ vượt gộp theo nguyên lí bổ sung của Heisenberg, một kiểu tư duy Phồn Sinh. Tư duy phồn sinh, trong thơ Nguyễn Linh Khiếu, một mặt như dòng sông Mẹ trên hành trình ra biển, tạo ra các chi lưu, các ngã ba sông, kết nối với các nhánh sông khác hình thành nên một lưu vực phủ nước một lãnh thổ lớn. Điều này đưa đến một tầm nhìn châu thổ, một nền văn minh châu thổ sông Hồng, cái nôi của văn minh Việt; mặt khác cũng khiến cho thơ anh trong các tập Phồn sinh và Hoa Linh Thảo có rất nhiều yếu tố trở đi trở lại, từ ý tưởng, hình ảnh, các phát triển câu thơ, ý thơ. Bạn đọc chưa có cái nhìn tổng thể hẳn có cảm giác khó chịu, thậm chí là lỗi dư thừa. Nhưng trong ngôn ngữ cũng như trong nghệ thuật, đó là sự dư thừa cần thiết nhằm phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả. Còn nếu là lỗi thì là lỗi phong cách, tức không phải là lỗi (Chomsky). Cái chính là tư duy phồn sinh đã mang lại cho Nguyễn Linh Khiếu một thể loại thơ đặc biệt, trường ca phi trường ca và tùy văn đứng giữa thơ văn xuôi và văn xuôi nghệ thuật, một phong cách thơ dài rộng, thơ ngây nhưng sâu sắc. Đó là sự đóng góp của Linh Khiếu/Khiếu Linh cho thơ hiện đại Việt Nam.