50 năm qua, đội ngũ văn nghệ sĩ từ nhiều vùng miền đất nước hội tụ nơi đây đã tạo nên một diện mạo văn học Thành phố sinh động, có sự tiếp nối của nhiều thế hệ. Giải thưởng 50 năm đối với các tác phẩm được tuyển chọn đã là một minh chứng cho vấn đề này. Có thể kể tới các tác phẩm: Ngoại vi thơ của Chế Lan Viên; Nhân có chim sẻ về của Chim Trắng; Bàn thờ tổ của một cô đào của Nguyễn Quang Sáng; Thì thầm với dòng sông của Hoài Vũ; Ở R - Chuyện kể sau 50 năm của Lê Văn Thảo, Mùa hè giá buốt của Văn Lê; Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn; Rừng thiêng nước trong của Trần Văn Tuấn; Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh... Những tác phẩm này đã phản ánh đa dạng, phong phú về hiện thực cuộc sống, con người của đất nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trên nhiều bình diện từ kháng chiến, đến hòa bình, dựng xây đất nước, và cả cuộc sống đời thường với những trăn trở, ưu tư và nghĩ suy.
|
Kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước, một số tuyển tập văn chương được ấn hành, như Ngôi nhà rường bản Trăng (tập truyện ngắn), Thành phố này tôi đến tôi yêu (tập thơ), Âm thanh và ký ức (truyện ký), Đổi mới và tiếp nhận Văn học nghệ thuật TP.HCM 1975-2025 (lý luận phê bình), đã khẳng định những thành tựu góp phần vào giá trị văn hóa của Thành phố trong suốt 50 năm qua. Đó cũng là những điểm son của văn học của một thành phố năng động, tiên phong mà thấm đượm nghĩa tình. Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ trong Ấm áp Mùa Xuân (tuyển tập truyện ký Âm thanh và ký ức) đã chia sẻ: “Nói đâu xa, chính tôi cũng đã rời miền Trung với dăm ba quyển sách là thứ gia tài độc nhất, vào đất này khi cuộc đời đã qua đi quá nửa. Vậy mà Sài Gòn đã nuôi tôi trong từng ngày chắt chiu, miệt mài với những con chữ của nghề viết văn, làm báo, và giúp tôi dạy dỗ, chăm chút con cái nên người.” Hay tâm tình của Huỳnh Như Phương trong Phú Nhuận đã thành quê: “Chợt nhớ 47 năm sống ở thành phố này, thỉnh thoảng gặp cơn gió lớn hay lốc xoáy, chứ chưa bao giờ chứng kiến một trận bão thật sự. Lòng thầm biết ơn những bậc tiền nhân linh thiêng đã chọn một cuộc đất an hòa, mong sao lòng người cũng được an hòa như đất.” Còn với Hoàng Đình Quang trong Phố tôi - Lương Nhữ Học thì: “Quận Năm, nơi tôi đã chào đón hai đứa con, và thêm nữa: một dâu, một rể và ba cháu nội… Quận Năm nơi lưu giữ phần đời tôi, mãi mãi!” Với Lê Thanh Huệ trong Những cảm nhận Sài Gòn thì: “Sài Gòn có nhịp biến động tự nhiên nhanh, cuộc sống khẩn trương giữa vùng đất đa dạng sinh học và nhiều miền văn hóa tụ về, nhưng con người hành xử với nhau luôn chân thật và hướng tới lâu dài làm ta cảm nhận được một xã hội thân thiện.”
Trên nền tảng những thành tựu của 50 năm miệt mài sáng tạo ấy, để văn học Thành phố Hồ Chí Minh bước tiếp một cách vững bền, khẳng định được vai trò tiên phong trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của hội nhập và phát triển, với xu hướng toàn cầu hóa xứng đáng với thành phố mang tên Bác, cũng cần có nghiên cứu những cách nghĩ mới, cách làm mới trong lãnh đạo, tổ chức hoạt động của văn học, nhất là sau khi thành phố đã được sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu. Bởi, không chỉ riêng Thành phố Hồ Chí Minh mà trên phạm vi cả nước, đội ngũ những người làm văn chương ngày càng đông và đang phát triển mạnh. Nhìn vào số lượng các tác phẩm xuất bản những năm gần đây trong đời sống văn học, chúng ta sẽ không khó để khẳng định điều đó. Song, có một thực tế chưa vui, đó là số lượng tác phẩm nhiều, nhưng chất lượng có chiều hướng giảm sút, mặc dù thời kỳ đổi mới và hội nhập cũng mở ra cho văn học nhiều cánh cửa để nhà văn thỏa sức sáng tạo.
Văn học Thành phố Hồ Chí Minh đứng ở đâu trong dòng chảy văn học hôm nay, và làm thế nào để phát huy được những thành tựu văn chương đã gặt hái được trong 50 năm qua - nhất là trong thời kỳ đổi mới - đồng thời khắc phục những mặt hạn chế trong hành trình sáng tạo văn học? Góp phần trả lời câu hỏi này, xin chia sẻ một số suy nghĩ như sau:
1. Sáng tạo văn học là một hoạt động đặc biệt trong lĩnh vực văn nghệ nên cần có sự quan tâm đặc biệt. Vì vậy, trong quản lý văn nghệ cần quan tâm tới sự sáng tạo của người nghệ sĩ, nhất là những sáng tạo mang tính thử nghiệm về thi pháp. Bởi, sáng tạo là một phẩm tính quan thiết của người nghệ sĩ. Đây không chỉ là phẩm tính mà đối với nhà văn nó còn là một nhu cầu tự thân, là niềm đam mê, là sự khẳng định cá tính sáng tạo và sự hiện hữu của mình trong đời sống văn học. Tất nhiên, sự sáng tạo ấy phải dựa trên nền tảng của bản sắc và môi trường văn hóa dân tộc - vượt ra khỏi cái ngưỡng văn hóa này mọi sáng tạo văn chương có thể trở nên “dị thường” và khó được người đọc tiếp nhận. Thế nên, các nhà văn cần phải mạnh dạn tìm tòi sáng tạo, để luôn làm mới văn chương mình nhưng phải luôn giữ được “giòng sinh mệnh văn hóa” dân tộc trong từng trang viết. Vì nếu không sáng tạo trên hướng phát triển như thế, sẽ tự đào thải mình trong thế giới văn chương.
2. Yếu tính của lao động nghệ thuật là sáng tạo, nên sản phẩm của văn chương luôn cần có sự phong phú và đa dạng. Nó ít chấp nhận hoặc không chấp nhận sự áp đặt từ những khuôn mẫu định sẵn, điều này đối với việc sáng tạo văn chương lại càng cấp thiết. Vì vậy, trong văn nghệ nói chung và văn học nói riêng, chúng ta cần tôn trọng sáng tạo của người nghệ sĩ. Bởi, chỉ có sự khác biệt mới thúc đẩy quá trình sáng tạo và làm nên sức sống, sự phong phú đa dạng của văn nghệ mà những sản phẩm văn chương của Thành phố 50 năm qua, đặc biệt là thành quả của văn học thời kỳ đổi mới là một minh chứng đầy thuyết phục cho quan điểm này.
Việc tôn trọng, phát huy năng lực, tâm lực của nhà văn - chủ thể sáng tạo nghĩa là chúng ta đã góp phần “Đổi mới và nâng cao hiệu quả các hoạt động công bố, giới thiệu, truyền bá các sản phẩm tốt phục vụ đông đảo nhân dân ở mọi miền đất nước” theo tinh thần Nghị quyết 23/NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, và điều có ý nghĩa lớn là mở ra cho văn học Thành phố những vận hội mới để hội nhập vào trào lưu chung của văn học thế giới trong thời kỳ toàn cầu hóa.
3. Một trong những vấn đề trung tâm của văn học không có gì khác chính là con người, không thể tách khỏi vận mệnh dân tộc. Bởi, là con người ai cũng sinh ra và lớn lên trong cộng đồng dân tộc, được tắm mình trong tình tự văn hóa dân tộc. Vì vậy, nhà văn phải gắn số phận mình với vận mệnh dân tộc. Đây là căn tính làm nên tính nhân bản của văn học, bởi, “Sứ mệnh sâu xa của nhà văn là gây dựng và duy trì tình tự dân tộc, truyền thống đất nước”. Đây cũng là điều mà Nghị quyết 80-NQ/TW năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa đã khẳng định. Và như vậy, ý thức của người nghệ sĩ trước sự tồn vong của dân tộc cũng là một chuẩn giá trị để người đọc đánh giá nhà văn. Những phẩm tính cao đẹp này thể hiện sinh động qua trang viết của các thế hệ nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh sau 50 năm mà chúng ta cần phát huy trong thời gian tới, để văn học Thành phố có những bước đi vững chắc trong tương lai.
Cuộc sống có quy luật riêng của cuộc sống, và nghệ thuật cũng vậy. Không có hiện thực đời sống đa dạng và phong phú, tất sẽ không có văn học, nghệ thuật. Đây cũng là một căn tố thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa văn học và đời sống đã được xác tín qua 50 năm văn học Thành phố Hồ Chí Minh, và cần tiếp tục được khẳng định trong hành trình bước tiếp đến mai sau.