Sáng tác

Dăm tối cuối cõi đời - Truyện của Roberto Bolaño

Lê Minh Anh (dịch từ tiếng Anh)
Văn học nước ngoài 10:00 | 31/03/2026
Baovannghe.vn - Sự tình là thế này: B cùng cha sắp sửa đi nghỉ tại Acapulco. Họ dự định khởi hành từ rất sớm, sáu giờ sáng đã đi rồi. Đêm trước chuyến đi, B ngủ lại nhà bố.
aa

Y không mơ, mà nếu có mơ thì tỉnh giấc là y cũng quên ngay. Y nghe tiếng bố trong phòng tắm. Y nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy trời hãy còn tối. Y thay đồ mà chẳng buồn bật đèn lên. Lúc y ra khỏi phòng, ông bố đã ngồi bên bàn đọc mục thể thao trên tờ báo hôm qua, bữa sáng với cà phê cùng trứng rán kiểu Mễ thì đã sẵn sàng từ lúc nào. B chào bố một cái rồi bước vào phòng tắm.

Ông bố đi quả Ford Mustang đời 1970. Sáu giờ ba mươi sáng, họ lên xe di chuyển hướng ra khỏi thành phố. Ấy là thành phố Mexico, và vào năm 1975, B cùng bố rời thành phố đi nghỉ ngắn ngày.

Nhìn chung thì chuyến đi diễn ra suôn sẻ. Lúc mới ra ngoài thành phố, cả ông bố lẫn thằng con đều lạnh run, nhưng đến lúc vượt qua thung lũng cao rồi bắt đầu phi xuống bang Guerrero, nhiệt độ tăng dần, cả hai không những cởi áo len mà còn phải hạ cửa kính. B vốn thường u sầu (hay ít nhất là y thích nghĩ bản thân như vậy), ban đầu đắm chìm vào suy tư về cảnh vật, nhưng chỉ sau vài giờ, núi non, rừng rậm trở nên đơn điệu một màu, thế là y lại lôi sách ra đọc.

Dăm tối cuối cõi đời - Truyện ngắn của Roberto Bolaño
Nhà văn Roberto Bolaño - Ảnh: The Bookseller

Trước khi đến Acapulco, ông bố tấp xe vào trước một quán cà phê ven đường. Quán có món kỳ nhông. Thử phát không? Ông gợi ý. Những con kỳ nhông còn sống nhăn, hễ ông bố đến gần xem là bọn nó gần như bất động. B tựa vào chắn bùn của chiếc Mustang, quan sát bố. Ông bố gọi một phần kỳ nhông cho mình và một phần cho thằng con mà chẳng đợi câu trả lời. Chỉ lúc ấy B mới rời khỏi xe.

Y bước tới khu ăn uống ngoài trời, nơi có bốn chiếc bàn dưới mái che bằng vải bạt khẽ đung đưa trong làn gió thoảng, rồi ngồi xuống bàn xa đường cao tốc nhất. Ông bố gọi hai cốc bia. Cả bố lẫn con đều đã cởi cúc áo sơ mi, xắn tay áo lên. Hai người mặc áo màu sáng. Ngược lại, bồi bàn mặc áo sơ mi đen dài tay, chẳng hề tỏ ra khó chịu vì cái nóng.

Đi Acapulco à? Bồi bàn hỏi. Ông bố gật đầu. Cả quán chỉ có mỗi hai người là khách. Xe cộ vun vút lao qua trên con đường cao tốc sáng chói. Ông bố đứng dậy đi ra phía sau. B thoáng nghĩ bố đi vệ sinh, nhưng rồi y nhận ra ông vào nhà bếp để xem họ nấu món kỳ nhông thế nào. Người bồi bàn lặng lẽ theo sau. Rồi B nghe tiếng họ nói chuyện. Đầu tiên là giọng ông bố, tiếp theo là giọng người đàn ông, và cuối cùng là giọng một phụ nữ mà B không thấy mặt. Trán B lấm tấm mồ hôi. Kính y mờ đi vì vết cáu bẩn. Y tháo kính ra lau bằng vạt áo. Lúc đeo lại, y thấy bố đang nhìn mình từ trong bếp. Y chỉ thấy được khuôn mặt và một phần vai ông bố, phần còn lại bị tấm rèm đỏ chấm đen che mất, mà B thoáng có cảm giác rằng tấm rèm này không chỉ ngăn cách khu bếp với khu ăn uống mà còn tách biệt thời này với thời kia.

Thế rồi ánh mắt B quay đi nơi khác, trở lại cuốn sách nằm trên bàn. Một tập thơ. Tuyển tập các nhà thơ siêu thực Pháp, được nhà siêu thực Argentina Aldo Pellegrini dịch sang tiếng Tây Ban Nha. B đọc cuốn sách này được hai ngày nay rồi. Y thích lắm. Y thích ảnh các thi sĩ. Ảnh của Unik, Desnos, Artaud và Crevel. Cuốn sách dày, bọc nhựa trong suốt. Không phải B (y chẳng bao giờ bọc sách cả), mà là một người bạn đặc biệt cầu kỳ làm vậy. Thế nên B rời mắt khỏi ông bố, mở bừa một trang sách để rồi đối diện với Gui Rosey, ảnh của Gui Rosey cùng những bài thơ của ông. Đến khi ngẩng lên lần nữa thì y chẳng còn thấy đầu ông bố đâu cả.

Cái nóng càng lúc càng ngột ngạt. Được quay về thành phố Mexico là B vui lắm, nhưng y biết mình chưa về được, ít nhất là lúc này. Chẳng mấy chốc, ông bố đã ngồi xuống cạnh B, cả hai cùng ăn kỳ nhông với tương ớt và uống thêm bia. Người bồi bàn áo đen bật chiếc radio cầm tay lên, để giờ đây thứ nhạc nhiệt đới mơ hồ hòa lẫn với âm thanh từ rừng rậm và tiếng xe cộ lao vun vút trên đường cao tốc. Kỳ nhông ăn như thịt gà. Không hoàn toàn thấy thuyết phục, B cãi nó cứng hơn thịt gà. Ngon mà, ông bố bảo, rồi gọi thêm một phần nữa. Họ uống cà phê quế. Người bồi bàn áo đen mang kỳ nhông ra, nhưng cà phê thì lại do người phụ nữ từ trong bếp đem tới. Cô còn trẻ trạc tuổi B; cô mặc quần short trắng cùng áo cánh vàng in hoa trắng, hoa gì thì B không nhận ra, có lẽ vì nó còn chẳng có trên đời. Vừa nhấp ngụm cà phê là B nghe nhộn nhạo buồn nôn, nhưng y chẳng nói câu nào. Y vừa hút thuốc vừa nhìn mái che bằng vải bạt gần như bất động, như thể bị vũng nước mưa mỏng từ cơn bão mới qua đè nén. Nhưng không thể thế được, B nghĩ. Nhìn gì vậy? Ông bố hỏi. Mái che thôi, B đáp. Nó giống như mạch máu vậy. Nhưng y chỉ nghĩ mà không nói tí nào về mạch máu.

Chiều buông thì họ đến Acapulco. Hai người vòng xe qua lại một hồi những con đường ven biển, cửa sổ hạ thấp để gió mơn mái tóc. Họ đỗ lại trước một quán rượu rồi bước vào gọi đồ uống. Lần này ông bố gọi tequila còn B thì ngẫm nghĩ một thoáng rồi cũng gọi tequila luôn. Quán rượu này hiện đại, còn có cả máy lạnh. Ông bố trò chuyện với người bồi bàn, tiện hỏi luôn về mấy khách sạn gần bãi biển.

Lúc hai người trở lại chiếc Mustang thì vài ngôi sao đã lấp ló trên bầu trời, và lần đầu tiên trong suốt cả ngày trời ông bố trông tã tượi. Dẫu vậy, họ vẫn ghé qua vài khách sạn, nhưng vì lí do này lí do kia cả hai đều không ưng ý, mãi mới tìm được chỗ tạm ổn. Khách sạn đó tên La Brisa: nhỏ thôi, cách bãi biển vài bước chân, cũng có hồ bơi đấy. Ông bố thích chỗ này phết. B cũng thế. Không phải mùa du lịch nên khách sạn gần như vắng tanh, giá cả thì phải chăng. Khách sạn sắp cho họ phòng có hai giường đơn, một phòng tắm nhỏ với vòi sen. Phòng có độc một cửa sổ nhìn ra sân hiên, ngay chỗ có hồ bơi. Bố thì muốn phòng hướng nhìn ra biển hơn. Hai người sớm phát hiện ra máy lạnh bị hỏng. Nhưng cũng may phòng khá mát mẻ nên họ chẳng phàn nàn gì.

Họ sắp đồ như ở nhà: mỗi người đều mở vali, cất quần áo vào tủ. B để sách trên bàn đầu giường. Họ thay áo sơ mi. Ông bố tắm nước lạnh, còn B thì chỉ rửa mặt. Sẵn sàng một cái là họ đi ăn tối. Trực quầy lễ tân là một gã lùn với răng giống thỏ. Gã còn trẻ, cũng có vẻ thân thiện. Gã giới thiệu một nhà hàng gần khách sạn. Bố B hỏi gần đây có chỗ nào sôi động chút không. B hiểu ý bố nhưng gã lễ tân thì không. Nơi nào kịch tích một tí ấy, ông bố nói. Tức là tìm gái ấy ông ạ, B nói thẳng luôn. À, gã lễ tân thốt lên. Trong chốc lát, hai bố con cứ đứng đó mà chẳng nói năng gì. Gã lễ tân cúi xuống lúi húi sau quầy, rồi ngoi lên chìa ra một tấm danh thiếp. Bố B liếc nhìn tấm danh thiếp hỏi chỗ đó có uy tín không, rồi rút tờ tiền trong ví ra, gã lễ tân chộp nhanh như chảo chớp. Thế nhưng xong xuôi bữa tối rồi, họ lại về thẳng khách sạn.

Sáng hôm sau, B dậy rất sớm. Y tắm, đánh răng, mặc đồ bơi rồi ra khỏi phòng, cố nhẹ nhàng hết mức. Thấy phòng ăn khách sạn vắng tanh là B quyết định ra ngoài ăn sáng. Khách sạn này nằm trên con đường chạy thẳng xuống bãi biển, giờ không bóng người ngoài một thằng bé cho thuê ván chèo. B hỏi thuê một giờ giá bao nhiêu. Thằng bé đưa ra mức giá nghe chừng hợp lý, thế là B thuê một tấm rồi đẩy ra biển. Đối diện bãi biển là một hòn đảo nhỏ, y chèo ván thẳng ra đó. Lúc đầu, y còn vụng về, nhưng chẳng mấy chốc đã quen tay. Vào giờ này, mặt biển trong suốt như pha lê, trong đến mức B nghĩ có thể nhìn thấy phía dưới tấm ván những con cá đỏ dài chừng nửa mét, bơi về phía bãi biển trong khi y chèo ra phía đảo.

B chèo từ bãi biển đến hòn đảo mất đúng mười lăm phút. B không biết điều này vì chẳng đeo đồng hồ, và với y, thời gian như trôi chậm lại. Hành trình ấy dường như kéo dài vô tận. Vào phút chót, sóng bất ngờ dâng cao chặn y tiến tới. Cát ở đây khác hẳn so với cát ở bãi biển gần khách sạn; ở đó cát màu nâu nhạt ánh vàng, có lẽ do màu thay đổi theo thời điểm trong ngày (dù B không nghĩ vậy), còn ở đây cát lại mang màu trắng chói lóa, rực rỡ đến mức nhìn cũng đau hết cả mắt. B ngừng chèo, cứ ngồi yên trên ván, phó mặc hướng đi cho sóng; khi này sóng bắt đầu chầm chậm đẩy y ra xa hòn đảo. Đến khi y kịp phản ứng thì tấm ván cũng đã trôi được nửa đường về. Thấy vậy B quyết định quay về luôn. Chuyến về yên ả, chẳng có gì xảy ra. Khi B về tới bãi biển, thằng bé cho thuê ván tiến lại hỏi xem có vấn đề gì không. Không hề, B đáp. Một giờ sau, B trở lại khách sạn mà chưa ăn sáng. Y thấy bố ngồi trong phòng ăn, trước mặt ông là tách cà phê và chiếc đĩa còn vương vãi vài mẩu trứng với bánh mì nướng

Mấy giờ tiếp theo trôi qua trong mịt mùng. Họ lái xe lòng vòng vô định, từ trong xe ngắm dòng người qua lại. Thỉnh thoảng họ dừng xe ra ngoài uống ly nước lạnh hoặc ăn cây kem. Buổi chiều, trên bãi biển, trong khi ông bố ngả mình chợp mắt trên ghế xếp, B lại đọc tập thơ của Gui Rosey cùng tiểu sử về cuộc đời hay cái chết của ông.

Ngày nọ, một nhóm siêu thực đến miền nam nước Pháp. Họ cố xin thị thực sang Mỹ. Phía bắc và tây Pháp đã bị quân Đức chiếm đóng. Miền nam thì nằm dưới sự bảo trợ của Pétain. Lãnh sự quán Mỹ vẫn trì hoãn quyết định ngày này qua ngày nọ. Trong nhóm có cả Breton, Tristan Tzara, Péret, nhưng cũng có những gương mặt ít tiếng tăm hơn. Gui Rosey là một trong số đó. Trong bức ảnh, ông trông như nhà thơ hạng xoàng, B nghĩ. Mặt ông xấu xí nhưng ăn vận chỉn chu, giống công chức quèn hay giao dịch viên ngân hàng. Đến đây, tuy có vài điểm mâu thuẫn nhưng lại chẳng bất thường gì hết, B nghĩ.

Chiều chiều, các nhà siêu thực tụ lại họp tại một quán cà phê cạnh cảng. Họ lập kế hoạch và trò chuyện; Rosey luôn có mặt. Nhưng một ngày nọ (chắc cũng vào buổi chiều, B tưởng tượng vậy), ông không xuất hiện. Ban đầu chẳng ai để tâm. Ông chỉ là một nhà thơ hạng xoàng, mà là nhà thơ hạng xoàng thì ai bận tâm cơ chứ. Tuy nhiên, sau vài ngày, mọi người bắt đầu lo. Ở nhà trọ nơi ông ở, không ai biết chuyện gì xảy ra; vali và sách của ông vẫn còn đó, nguyên vẹn, nên rõ ràng không phải ông cố bỏ trốn để quỵt tiền (khách trọ ở Côte d’Azur hay làm vậy lắm). Bạn bè cố tìm kiếm ông. Họ đến mọi bệnh viện và đồn cảnh sát trong vùng. Chẳng ai biết gì hết. Sáng nọ, họ nhận được thị thực. Hầu hết lên tàu khởi hành sang Mỹ. Những người ở lại sẽ chẳng bao giờ có thị thực, họ cũng sẽ sớm quên đi Rosey cùng sự biến mất của ông; lúc nào chẳng có người biến mất, nhiều là đằng khác, mà họ thì còn phải tự lo thân.

Tối đó, sau bữa ăn ở khách sạn, bố B rủ rê y đi làm tí kịch tính. B nhìn bố. Ông tóc vàng (trong khi B lại tóc đen), mắt xám, dáng người vẫn còn săn chắc. Ông trông phấn khích, sẵn sàng cho cuộc vui. Kịch tính kiểu gì? B hỏi, dù y biết thừa ông bố đang nói gì. Như thường thôi, ông bố đáp. Men say, gái gú. B im lặng một lúc, như thể đang cân nhắc xem nên trả lời thế nào. Ông bố lại nhìn y, ánh mắt ấy có vẻ dò xét, nhưng thực ra chỉ là trìu mến mà thôi. Cuối cùng, B bảo giờ y không hứng tình lắm. Đá phò chỉ là một phần thôi, ông bố bảo, còn cả đi thăm thú, uống vài ly rồi vui vầy với bạn bè nữa cơ mà. Bè nào, B nói, mình chẳng quen ai ở đây cả. Cứ ra ngoài lóc cóc dạo chơi là sẽ có bạn thôi. Hai chữ “lóc cóc” khiến B nghĩ đến ngựa. Hồi y lên bảy, bố mua cho y một con ngựa. Ở đâu ra con ngựa của con thế? B hỏi. Câu hỏi làm ông bố ngỡ ngàng. Ngựa nào? Ông hỏi lại. Con ngựa bố mua hồi con còn bé ấy, B nói, ở Chile ý. À, con Hullabaloo, ông bố mỉm cười, nó từ đảo Chiloé, ông nói, rồi sau một thoáng trầm ngâm, ông lại thao thao bất tuyệt về nhà thổ, mà cách ông nói lại cứ như nói về sàn nhảy, B nghĩ. Xong cả hai cùng im lặng.

Tối đó, họ chẳng đi đâu cả. Trong lúc ông bố đang say giấc, B ra sân cạnh hồ bơi đọc sách. Chẳng có ai ngoài y. Sân sạch sẽ, vắng lặng. Từ bàn mình ngồi, B có thể thấy một phần sảnh chính/khu lễ tân, nơi gã lễ tân răng thỏ tối hôm trước đứng sau quầy, đọc gì đó hoặc xem sổ sách. B thì đọc các nhà siêu thực Pháp, đọc Gui Rosey. Thành thật mà nói thì y chẳng mấy hứng thú với Gui Rosey. Y quan tâm đến Desnos và Éluard hơn nhiều, ấy vậy mà cuối cùng y vẫn trở lại với thơ Rosey, ngắm bức ảnh ông - một tấm chân dung chụp trong studio mang dáng vẻ của một linh hồn cô độc, què quặt, với đôi mắt mở to, long lanh như thủy tinh cùng chiếc cà vạt tối màu như đang siết cổ ông. B đồ rằng ông đã tự sát. Ông biết mình sẽ chẳng bao giờ nhận được thị thực sang Mỹ hay Mexico, nên quyết định kết thúc đời mình ngay tại đó. B tưởng tượng, hay cố tưởng tượng ra, một thị trấn ở Côte d’Azur. Y chưa từng đến châu Âu. Y đã đi hết Mỹ Latinh, hay gần hết, nhưng vẫn chưa đặt chân đến châu Âu bao giờ. Vì vậy, y hình dung Acapulco ra sao thì một thị trấn Địa Trung Hải cũng như thế. Cái nóng, khách sạn nhỏ hẹp rẻ tiền, bãi biển cát vàng cát trắng. Tiếng nhạc nơi xa xa. B không nhận ra rằng bản nhạc nền của khung cảnh này thiếu một yếu tố cốt tủy: tiếng dây neo của những con thuyền nhỏ chen chúc khắp cảng trong các thị trấn dọc bờ biển Địa Trung Hải, đặc biệt là ở những thị trấn nhỏ. Tiếng dây neo ban đêm, khi mặt biển tĩnh lặng như mặt ao.

Đột nhiên, ai đó bước ra sân. Bóng dáng phụ nữ. Cô ngồi xuống bàn xa nhất trong góc, gần hai chiếc bình lớn. Một lát sau, gã lễ tân xuất hiện, mang đồ uống cho cô. Rồi, thay vì quay lại quầy, gã tiến đến chỗ B đang ngồi bên rìa hồ bơi, hỏi xem liệu hai bố con y vẫn đang tận hưởng kì nghỉ chứ. Vui lắm, B đáp. Thích Acapulco chứ? Gã lễ tân hỏi. Thích lắm, B nói. San Diego thì thế nào? Gã lễ tân hỏi. B không hiểu câu hỏi. San Diego là cái gì? Trong chốc lát, y nghĩ gã đang nói về chính cái khách sạn này, nhưng rồi chợt nhớ ra khách sạn mang tên khác. San Diego nào cơ? B hỏi. Gã lễ tân mỉm cười: Cái câu lạc bộ phò ấy. Lúc đó B mới nhớ ra tấm danh thiếp gã đưa cho ông bố. Chúng tôi đã đi đâu, y nói. Chỗ đó uy tín phết đấy, gã lễ tân bảo. B cử động đầu, cái kiểu cử chỉ hiểu sao cũng được. Chỗ đó ở đường Constituyentes, gã lễ tân nói. Trên đại lộ đó còn một câu lạc bộ khác nữa, tên Ramada, nhưng tôi khuyên hai người không nên đi. Ramada, B lặp lại, mắt dõi theo bóng hình bất động của người phụ nữ nơi góc sân, giữa hai chiếc bình khổng lồ đổ những cái bóng dài thắt hẹp dần dưới các bàn xung quanh, cùng ly nước dường như chưa động vào trước mặt. Tốt nhất là tránh xa Ramada ra nhé, gã lễ tân nói. Sao thế? B hỏi cho có vì chẳng định đến chỗ nào, cả Ramada lẫn San Diego. Không tín chứ sao, gã lễ tân đáp, hàm răng thỏ trắng lóa sáng lên trong bóng tối nhập nhoạng bất chợt bao trùm khoảng sân, như thể ai đó ở quầy lễ tân vừa tắt đi phân nửa số đèn. Gã lễ tân đi khỏi là B lại mở cuốn thơ, nhưng y chẳng đọc được chữ nào, bèn để sách mở trên bàn, nhắm mắt, tai không nghe thấy tiếng dây neo thuyền leng keng phía xa xăm, mà thay vào đó là âm thanh khí quyển, của tầng tầng lớp lớp không khí nóng nực trùm xuống khách sạn và những tán cây xung quanh. Y muốn nhảy ùm xuống hồ bơi. Trong thoáng chốc, y nghĩ mình sẽ làm thế thật. Rồi người phụ nữ ở góc sân đứng dậy bước về phía cầu thang dẫn từ sân ra khu lễ tân, nhưng mới đi được nửa đường đã dừng lại, như thể cô thấy không khỏe, phải tựa tay vào mép chậu hoa mà chẳng còn hoa, chỉ toàn cỏ dại.

B dõi theo cô. Người phụ nữ mặc chiếc váy hè rộng rãi, sáng màu, cổ khoét sâu, để lộ vai trần. Y chờ cô bước tiếp, nhưng cô vẫn đứng yên, tay bám mép chậu cây, mắt nhìn xuống, nên B bèn cầm cuốn thơ đứng dậy tiến đến chỗ cô. Điều đầu tiên khiến B ngạc nhiên là khuôn mặt cô. Bà chắc khoảng sáu mươi tuổi rồi, B đoán thế, dù từ xa, y không nghĩ bà quá ba mươi. Bà là người Bắc Mỹ, khi B đến gần, bà ngẩng lên mỉm cười với y. Chào buổi tối, bà nói bằng tiếng Tây Ban Nha, nghe hơi gượng gạo. Bà ổn chứ? B hỏi. Người phụ nữ không hiểu, nên B phải hỏi lại bằng tiếng Anh. Tôi chỉ đang nghĩ ngợi thôi, bà nói, miệng vẫn nở nụ cười. Trong vài giây, B ngẫm nghĩ điều bà vừa nói. Nghĩ, nghĩ, nghĩ. Đột nhiên, y cảm thấy lời nói ấy che giấu một mối đe dọa. Một thứ gì đó đang từ biển cả tiến đến. Thứ gì đó phăm phăm nối bước những đám mây đen vô hình đang băng băng qua Vịnh Acapulco. Nhưng y lại không động đậy, cũng chẳng cố phá vỡ thứ bùa mê dường như đang giam cầm mình. Thế rồi người phụ nữ nhìn cuốn sách trên tay trái y hỏi y đang đọc gì, B đáp: Thơ. Tôi đang đọc thơ. Người phụ nữ nhìn vào mắt y, gương mặt vẫn vương nụ cười ấy (nụ cười vừa rạng rỡ vừa nhạt nhòa, B nghĩ, cảm thấy càng lúc càng bất an), nói thêm rằng bà từng thích thơ, xưa rồi. Bà thích nhà thơ nào? B hỏi, vẫn tuyệt đối bất động. Giờ tôi không nhớ nổi nữa, bà nói, và lại lần nữa đắm chìm vào suy tư về thứ chỉ mình bà thấy. B đoán bà đang cố nhớ ra nên lặng lẽ chờ đợi. Một lúc sau, bà nhìn y lần nữa, nói: Longfellow. Rồi ngay lập tức, bà bắt đầu đọc những dòng thơ với nhịp điệu đều đều, B thì nghe như bài đồng dao - khác một trời một vực với những nhà thơ y đang đọc. Cậu biết Longfellow chứ? Bà hỏi. B lắc đầu, dù thực ra y từng đọc một chút Longfellow rồi. Trước chúng tôi học Longfellow ở trường, bà nói, nụ cười vẫn không suy chuyển. Rồi bà thêm: Nóng quá, cậu có thấy thế không? Nóng thật, B thì thầm. Có thể sắp có bão đấy, bà nói. Giọng bà có gì đó rất dứt khoát. Lúc này, B ngẩng lên trời: y chẳng thấy một ngôi sao nào hết. Nhưng y lại thấy ánh đèn trong khách sạn. Từ cửa sổ phòng y, một bóng người đang nhìn họ khiến y giật mình, như thể bị những giọt đầu tiên của cơn mưa nhiệt đới bất ngờ quất trúng. Y sững sờ trong giây lát. Đó là ông bố đứng phía bên kia mặt kính, quấn quanh mình chiếc áo choàng tắm màu xanh mà chắc hẳn ông mang theo (B chưa thấy nó bao giờ và chắc chắn nó cũng không phải của khách sạn), ông nhìn họ chằm chằm, dù thấy B nhận ra là ông bố lùi lại, co rúm như bị rắn cắn, khẽ vẫy tay ngại ngùng, rồi biến mất sau rèm cửa. Bài ca Hiawatha, người phụ nữ nói. B nhìn bà. Bài ca Hiawatha, bài thơ của Longfellow ấy. À, vâng, B nói. Rồi người phụ nữ chào tạm biệt, đoạn từ từ quay đi: đầu tiên bà bước lên cầu thang đến quầy lễ tân, nơi bà chuyện trò dăm ba câu với một người B không thấy, rồi, bà lặng lẽ bước qua sảnh khách sạn, dáng người bà mảnh mai thu trọn vào những khung cửa sổ liên tiếp, cho đến khi rẽ vào hành lang dẫn đến cầu thang bên trong. Nửa giờ sau, B trở về phòng thì thấy bố đã say giấc. Trong vài tích tắc trước khi vào phòng tắm đánh răng, B đứng thẳng ngay đuôi giường nhìn bố, như thể dồn ép tinh thần cho một cuộc chiến. Chúc bố ngủ ngon, y nói. Ông bố không mảy may tỏ vẻ có nghe thấy.

Ngày thứ hai đi nghỉ ở Acapulco, hai bố con đi xem người ta lặn vách đá. Họ có hai lựa chọn: xem từ bục ngoài trời hoặc vào quán rượu kiêm nhà hàng khách sạn, hướng nhìn ra vách đá. Ông bố hỏi giá vé. Người đầu tiên ông hỏi không biết. Ông vẫn kiên trì hỏi cho bằng được. Cuối cùng, một cựu vận động viên lặn vách, già khú đế, đang lảng vảng quanh đó mà chẳng làm gì, cũng nói cho ông biết giá: xem từ quán rượu thì đắt gấp sáu lần nhé. Vào quán rượu đi, ông bố nói không do dự. Xem ở đó thoải mái hơn chứ. B theo sau ông. Trong quán toàn khách du lịch Bắc Mỹ hoặc Mexico, ăn vận rõ là kiểu đồ đi nghỉ mát; B và ông bố nổi bật giữa đám đông. Hai người họ ăn mặc như người thành phố Mexico, trong bộ quần áo như thuộc về giấc mơ kéo dài miên man. Đám phục vụ để ý ngay. Họ biết loại khách này, không có hy vọng gì được boa ngon nghẻ, nên phục vụ cứ chậm rề chậm rà thôi. Đã thế, hai bố con ngồi đây còn gần như chẳng xem được tí nào từ màn trình diễn. Đáng lẽ ra xem ở bục ngoài trời có phải ngon hơn không, ông bố nói. Dù sao thì ở đây cũng không đến nỗi tệ, ông thêm vào. B gật đầu. Khi phần lặn kết thúc, cũng là lúc cả hai nốc mỗi người hai ly highball, bàn xem từ đó cho đến hết ngày thì sẽ làm gì. Trên bục gần như chẳng còn ai, nhưng ông bố nhận ra lão già cựu vận động viên đang ngồi trên trụ đá, liền tiến đến cạnh bên. Lão thấp người, có tấm lưng rất rộng. Lão đang đọc một cuốn tiểu thuyết cao bồi, chẳng hề ngẩng lên cho đến khi B cùng bố đứng bên cạnh. Lão nhận ra họ, hỏi họ thấy buổi biểu diễn thế nào. Xem cũng ra gì, bố B nói, tuy với các môn thể thao đòi hỏi độ chính xác như thế này thì có kinh nghiệm mới đánh giá tử tế được. Có vẻ ông từng là vận động viên nhỉ, tôi đoán đúng chứ? Lão già hỏi. Bố nhìn lão vài giây rồi đáp: Nói vậy cũng được. Lão đứng dậy làm một động tác đầy năng lượng, như thể đang ở rìa vách đá ngày nào. Ông này chừng năm mươi tuổi, B nghĩ, không hơn bố mình là bao, nhưng những nếp nhăn trên mặt, như sẹo, khiến ông trông già hơn tuổi nhiều. Hai vị đang đi nghỉ à? Lão già hỏi. Bố B gật đầu mỉm cười. Cho phép tôi hỏi ông chơi món gì được không? Quyền anh, ông bố đáp. Thật sao, lão nói, vậy chắc ông từng là võ sĩ hạng nặng chứ nhỉ? Bố B nở nụ cười rạng rỡ đáp: Đúng vậy đấy.

Trước khi kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, B thấy mình cùng bố và lão già cựu vận động viên lặn vách đang bước về phía chiếc Mustang, rồi cả ba lên xe, B nghe giọng lão già chỉ đường cho bố như từ radio phát ra. Xe lướt dọc đại lộ Miguel Alemán một lúc rồi rẽ, hướng vào nội địa, và chẳng mấy chốc, khách sạn và nhà hàng du lịch nhường chỗ cho khung cảnh thành phố bình dị, phảng phất hơi thở nhiệt đới. Xe tiếp tục leo dốc, rời xa vòng cung vàng của Acapulco, chạy dọc những con đường chưa lát hoặc chỉ lát cẩu thả, cho đến khi tấp vào vỉa hè bụi bặm trước một quán ăn rẻ tiền, kiểu phục vụ cơm suất (dù quán này to quá cho kiểu đó, B nghĩ vậy). Lão già và bố B ngay lập tức nhảy ra khỏi xe. Họ tán chuyện suốt dọc đường, lúc đứng chờ y trên vỉa hè thì họ vẫn tiếp tục trò chuyện cùng những cử chỉ khó hiểu. B thong thả bước ra khỏi xe. Ta ăn ở đây nhé, ông bố nói. Hẳn là vậy rồi, B đáp.

Bên trong quán tối om, chỉ một phần tư không gian quán là có bàn ghế. Phần còn lại trông như sàn nhảy, với sân khấu cho ban nhạc, bao quanh là lan can dài bằng gỗ thô. Lúc đầu, B chẳng thấy gì, cho đến khi y quen mắt với bóng tối. Thế rồi y thấy một người đàn ông tiến đến chỗ lão già cựu vận động viên. Trông họ hao hao giống nhau. Người lạ đó chăm chú lắng nghe lời giới thiệu mà B không nghe rõ, bắt tay ông bố, rồi vài giây sau quay sang B. B vươn tay ra bắt. Người lạ nói tên, và cái siết tay của ông ta, chắc chắn muốn tỏ ra thân thiện, nhưng bảo là chặt thì không phải, thô bạo thì đúng hơn. Ông ta không cười. B cũng quyết định chẳng cười lại. Bố và lão già đã yên vị bên bàn. B ngồi xuống cạnh họ. Người lạ hao hao lão già cựu vận động viên hóa ra là em trai lão. Ông ta đứng ngay bên cạnh như chờ ai bảo phải làm gì. Vị này từng là nhà vô địch quyền anh hạng nặng ở quê nhà, lão nói. Vậy mấy người là người nước ngoài hả? Ông em hỏi. Chúng tôi người Chile, bố B đáp. Ở đây có cá hồng không? Lão già hỏi. Có chứ, ông em nói. Vậy mang ra đây một con đi, cá hồng làm kiểu Guerrero ấy, lão bảo. Và bia cho tất cả nữa nhé, ông bố nói, cho cả anh nữa đấy. Cảm ơn, ông em lẩm bẩm, đoạn lấy sổ tay trong túi ra cẩn thận ghi lại món, mặc dù theo B từng ấy thứ thì đứa trẻ cũng dễ dàng nhớ được. Ngoài bia ông em còn mang ra thêm ít bánh quy mặn để nhấm nháp cùng ba bát hàu nho nhỏ. Hàu tươi phết đấy, lão già nói, tay rưới tương ớt lên cả ba bát. Buồn cười thật, lão nói thêm, chỉ tay vào cái lọ đầy ự tương tương ớt đỏ tươi, thứ này gọi là chili, giống tên nước các anh là Chile ấy. Phải, ảo thật đấy, ông bố nói. Như cái cách chili thì cay nóng mà chilly lại lạnh giá ấy. B nhìn bố, vẻ mặt lồ lộ hoài nghi. Họ xoay qua tán gẫu mãi về quyền anh và lặn vách cho đến khi ông em mang món cá hồng ra.

Xong xuôi, hai bố con rời quán. Thời gian cứ trôi mà họ chẳng hay, đến khi leo lên chiếc Mustang thì cũng đã bảy giờ tối. Lão già cựu vận động viên lại đi cùng. Trong thoáng chốc, B nghĩ họ sẽ chẳng bao giờ thoát được lão, nhưng xe đến trung tâm Acapulco là lão bước xuống trước quán bi-a. Ông ta đi rồi bố B mới khen dịch vụ ở quán ăn và cả mức giá của món cá hồng. Nếu ăn ở đây, ông nói, chỉ tay về phía những khách sạn dọc đại lộ ven biển, chắc bị bóp cho lòi kèn ấy chứ. Về đến phòng là B mặc đồ bơi ra bãi biển luôn. Y bơi một lúc, rồi cố đọc trong ánh sáng đang phai dần. Y đọc các nhà thơ siêu thực và thấy hoang mang lạc lối. Một người đàn ông cô độc, bình thản bên bờ vực chết chóc. Hình ảnh, vết thương. Đó là tất cả những gì y thấy. Và những hình ảnh ấy tan biến dần, từng chút từng chút một, như mặt trời khuất bóng, chỉ để lại vết thương. Một nhà thơ hạng xoàng biến mất trong lúc chờ thị thực đến Tân Thế giới. Một nhà thơ hạng xoàng biến mất không dấu vết, mắc kẹt trong vô vọng ở thị trấn nào đó vùng Côte d’Azur. Chẳng có cuộc điều tra nào cả. Cũng chẳng có thi thể nào hết. Đến khi B chuyển sang đọc Daumal thì màn đêm đã trùm xuống bãi biển; y đành gấp sách lại rồi chậm rãi quay về khách sạn.

Sau bữa tối, ông bố rủ B ra ngoài làm tí vui vẻ kịch tính. Y từ chối, bảo bố cứ đi một mình đi, rằng y không có hứng, chỉ muốn ở phòng xem phim trên tivi. Đếch thể tin nổi, ông bố nói, mày mới tí tuổi đầu mà cư xử cứ như ông già! B nhìn ông bố mới tắm xong còn đang mặc quần áo sạch mà cười khằng khặc. Trước khi bố ra ngoài, B còn dặn ông chơi bời cho cẩn thận. Ông bố đứng ở ngưỡng cửa ngoái nhìn y, nói rằng chỉ đi làm vài ly thôi. Con cũng cẩn thận nhé, ông nói, rồi khẽ khép cửa lại. Giờ chỉ còn một mình, B cởi giày, tìm bao thuốc lá, bật tivi lên rồi thả mình xuống giường. Y thiếp đi từ lúc nào mà chẳng để ý. Y mơ mình đang sống (hay chỉ ghé thăm) thành phố của những Người Khổng Lồ. Giấc mơ ấy chỉ độc một cuộc lang thang bất tận qua những con phố thênh thang tăm tối, gợi nhớ tới những giấc mơ khác. Thái độ của y lúc tỉnh thế nào thì y biết lúc mơ nó khác hoàn toàn: đối diện những tòa nhà đổ bóng đồ sộ bóng này va bóng nọ, y nếu không phải can đảm thì cũng không hề nao núng, thậm chí còn thờ ơ. Một lúc sau, ngay lúc chương trình tivi kết thúc là B giật mình tỉnh giấc, và, như thể đáp lại lời hiệu triệu nào đó, B tắt tivi hóng ra cửa sổ. Trên sân, người phụ nữ Bắc Mỹ ngồi nửa ẩn nửa hiện trong góc tối đêm trước, trước mặt là một ly cocktail hay nước trái cây gì đó. B dửng dưng quan sát bà, rồi bước ra xa khỏi cửa sổ, ngồi xuống giường, mở cuốn thơ siêu thực. Y cố đọc, nhưng không vào đầu được chữ nào. Thế là y cố suy nghĩ, mà muốn thế thì lại phải nằm xuống giường, dang rộng cánh tay, nhắm mắt nghiền. Trong thoáng chốc, y nghĩ mình lại sắp thiếp đi. Y thậm chí còn thoáng thấy một con phố từ thành phố trong mơ. Nhưng y nhanh chóng nhận ra mình chỉ đang nhớ lại giấc mơ, nên mắt lại mở, nằm đó một lúc nhìn chăm chăm lên trần nhà. Rồi y tắt đèn đầu giường, chân bước lại bên cửa sổ. Người phụ nữ Bắc Mỹ vẫn ở đó, bất động. Bóng của những chiếc bình lớn đổ dài, va vào bóng các bàn xung quanh. Không như mảnh sân u tối, khu lễ tân lại sáng rực, phản chiếu trên mặt hồ bơi. Đột nhiên, một chiếc xe dừng lại cách lối vào khách sạn vài mét. Chắc là con Mustang của bố, B nghĩ. Nhưng rất lâu sau mà chẳng ai xuất hiện ở cổng, nên B đồ rằng mình đã nhầm. Rồi y nhận ra bóng dáng ông bố leo lên cầu thang. Trước hết là quả đầu, rồi đôi vai rộng, rồi đến phần còn lại của cơ thể, và cuối cùng là đôi giày, đôi moccasin trắng mà B vẫn thường thấy hết sức kinh tởm, nhưng giờ nó lại gợi lên cảm giác gì đó dịu dàng. Cái điệu bộ ông bước vào khách sạn, B nghĩ, cứ như thể ông đang nhảy múa. Cái cách ông xuất hiện, như thể vừa dự đám tang về, vô thức vui mừng mình còn sống. Nhưng điều kỳ lạ nhất là, sau khi thoáng xuất hiện ở khu lễ tân, bố y quay lại hướng ra sân: ông xuống cầu thang, đi quanh hồ bơi, ngồi xuống một bàn gần người phụ nữ Bắc Mỹ. Thế rồi khi gã lễ tân mãi cũng mang ly rượu ra, ông bố trả tiền, rồi còn chẳng chờ cho gã đi khuất mà ông đã đứng dậy, ly trên tay, tiến đến bàn người phụ nữ Bắc Mỹ, đứng đó một lúc, khua tay múa chân, làm ngụm rượu, cho đến khi bà ngỏ lời mời thì ông ngồi xuống cạnh bên. Bà ta quá già so với bố, B nghĩ. Rồi y trở lại giường, nằm phịch xuống, sớm nhận ra mọi cơn buồn ngủ đè nặng y ban nãy đã tan biến đi đâu mất. Nhưng y lại không muốn bật đèn (dù đang có hứng đọc sách); y không muốn bố nghĩ (dù chỉ một thoáng thôi) rằng mình đang theo dõi ông. Y nghĩ về phụ nữ; y nghĩ về chuyện đi đây đi đó. Cuối cùng, y cũng chợp mắt. Trong đêm, y giật mình tỉnh giấc hai lần, đều không thấy ông bố nằm trên giường. Lần thứ ba thì trời hửng sáng, y đã thấy lưng bố: ông đang ngủ say. B bật đèn, nằm trên giường một lúc, vừa hút thuốc vừa đọc sách.

Sáng hôm đó, B ra bãi biển thuê một tấm ván chèo. Lần này, y đến được hòn đảo mà chẳng gặp khó khăn gì. Ở đó, y làm ly nước ép xoài, bơi một lúc ngoài biển, một mình. Rồi y quay về bãi biển gần khách sạn, trả ván cho thằng bé, nó cười với y, xong y đi đường vòng trở lại khách sạn. B thấy bố đang uống cà phê trong nhà hàng. Y ngồi xuống cạnh ông. Bố mới cạo râu, cơ thể tỏa ra mùi kem dưỡng rẻ tiền mà B lại thấy dễ chịu. Trên má phải ông có vết xước từ tai xuống cằm. B định hỏi chuyện tối qua, nhưng rồi lại thôi.

Dăm tối cuối cõi đời - Truyện của Roberto Bolaño
Ảnh minh họa: Tranh của họa sĩ Jakub Schikaneder

Phần còn lại của ngày trôi qua trong mơ hồ. Một lúc nào đó, B cùng bố dạo bước dọc bãi biển gần sân bay. Bãi biển rộng lớn, hàng hàng lớp lớp những túp lều mái lá nơi ngư dân cất giữ đồ nghề. Biển động; hai bố con ngắm nhìn sóng xô vào vịnh Puerto Marqués mất một lúc. Có ngư dân bảo trời hôm nay không đẹp nên đừng có bơi. Hẳn vậy, B nói. Ấy vậy mà ông bố vẫn nhảy xuống bơi. B ngồi trên cát, co gối, nhìn ông lao vào lớp lớp sóng. Ngư dân đưa tay lên che bóng mắt, nói gì đó B nghe không thủng. Trong khoảnh khắc, y mất dấu đầu và cả cánh tay ông bố vung về phía biển xa. Giờ có thêm hai đứa trẻ đi ra cạnh người đánh cá. Tất cả đều đứng nhìn ra biển, còn B thì vẫn ngồi. Một chiếc máy bay xuất hiện trên bầu trời, mà kỳ lạ thay, nó lại chẳng phát ra âm thanh gì. B ngừng nhìn về phía biển, ánh mắt quay qua dõi theo máy bay cho đến khi nó khuất sau ngọn đồi tròn phủ trọn màu xanh. Y nhớ lại buổi sáng ấy khi thức giấc, đúng một năm trước, ở sân bay Acapulco. Y trở về từ chuyến đi Chile một mình, và máy bay dừng ở Acapulco. Y vẫn nhớ khi bừng tỉnh, y thấy ánh sáng cam xen sắc xanh hồng, như màu phim cũ nhạt nhòa theo thời gian, đủ để biết theo một nghĩa nào đó, rằng mình đã về Mexico, bình an vô sự. Đó là năm 1974, B chưa đầy hai mươi mốt. Giờ y đã hai mươi hai, còn ông bố thì chắc khoảng bốn mươi chín. B nhắm mắt lại. Tiếng gió thổi át hẳn đi tiếng la lối đánh động của người đánh cá và bọn trẻ. Mặt cát lạnh tanh. Mở mắt ra, y thấy bố từ mặt biển bước lên. Y nhắm mắt lại, chẳng buồn hé mở cho đến khi cảm nhận được bàn tay hộ pháp ướt át nắm lấy vai, tai nghe giọng bố rủ đi ăn trứng rùa. Có những điều ta có thể nói được với người khác, có những điều thì không, B sầu não nghĩ ngợi. Từ khoảnh khắc này, y biết tai họa đang đến gần. Dẫu vậy, bốn mươi tám tiếng đồng hồ tiếp theo trôi qua trong trạng thái mơ mơ tỉnh tỉnh mà mà ông bố cho là “Đi nghỉ thì Phải Thế chứ” (B không rõ ông nghiêm túc hay chỉ cợt nhả mà thôi). Họ ra biển, ăn ở khách sạn hoặc một nhà hàng giá cả phải chăng trên đại lộ López Mateos. Chiều nọ, họ thuê một chiếc thuyền, thuyền nhựa nhỏ xíu thôi, rồi lướt dọc bờ biển gần khách sạn, theo cùng là những người bán rong rao hàng, họ cứ dạt trôi từ bãi này sang bãi khác, đứng thẳng trên ván chèo hoặc trong chiếc thuyền đáy phẳng, nom như người đi trên dây hoặc bóng ma thủy thủ chết đuối. Trên đường về, họ gặp tai nạn. Ông bố chèo thuyền thế nào mà đi quá gần tảng đá khiến thuyền lật úp. Mỗi vậy thôi thì chuyện này cũng chẳng có gì kịch tính. Cả hai đều bơi khá giỏi, thuyền thì người ta thiết kế sao cho khi lật sẽ dễ nổi, nên lật rồi lại trèo lên cũng chẳng mấy khó khăn. Và hai bố con B làm y vậy. Chẳng nguy hiểm gì sất, B nghĩ. Nhưng rồi, khi cả hai đã trèo lại được lên thuyền, ông bố nhận ra cái ví đã đi đường nào rồi. Tay ông vỗ vỗ vùng ngực, miệng thì nói: Ôi chết rồi cái ví, rồi không chút do dự, ông lại nhảy ùm xuống nước. B không nhịn được cười, nhưng rồi, lúc nằm dài trên thuyền nhìn xuống, y mất dấu ông bố, mà trong thoáng chốc, y tưởng tượng ra cảnh ông lặn xuống, mắt mở trừng trừng, hoặc tệ hơn là chìm nghỉm như hòn đá ném vào rãnh sâu, mà thằng con phía trên mặt nước, trong con thuyền chòng chành, tắt ngúm điệu cười chuyển sang lo lắng. Rồi B ngồi dậy nhìn quanh phía bên kia thuyền, mắt không thấy ông bố đâu là y nhảy xuống nước, và thế là: khi B mắt mở to lặn xuống, thì ông bố mắt cũng mắt mở to lại đang ngoi lên (họ suýt chạm nhau), tay phải cầm ví tiền. Họ lướt qua nhau, nhìn nhau nhưng không thể đổi hướng, ít nhất là ngay lúc ấy, nên ông bố tiếp tục lặng lẽ ngoi lên, còn B cứ im lìm mà lặn xuống. Với cá mập, thực ra là với hầu hết loài cá (trừ cá bay), thì mặt biển chính là địa ngục. Còn với B (và nhiều thanh niên cùng tuổi khác, thậm chí có lẽ còn với hầu hết đám ấy), thì địa ngục đôi khi lại mang hình dáng đáy biển. Y cảm thấy phải theo bố, nhưng lại theo ngược hướng thật là lố bịch. Dưới đáy không có cát, hệt như y chẳng rõ lí do mà hình dung rằng, nơi đây chỉ có đá chồng chất lên nhau, như thể phần bờ biển này là dãy núi ngầm mà y thì đang gần trên đỉnh, còn chưa bắt đầu lặn xuống. Rồi y ngoi lên nhìn con thuyền dập dềnh lúc trồi lên lúc chìm xuống, y thấy ông bố ngồi ngay chính giữa, tay cố châm điếu thuốc ướt nhẹp. Thế rồi bầu không khí ảm đạm chấm dứt, bốn mươi tám giờ đồng hồ ân sủng mà hai bố con đến đủ các quán rượu ở Acapulco, nằm trên bãi biển, ngủ nghê, ăn uống, thậm chí còn cười đùa, đã đi đến hồi kết, nhường chỗ cho giai đoạn băng giá, một giai đoạn có vẻ bình thường nhưng bị những vị thần băng giá cai trị (dù họ cũng chẳng làm dịu đi cái nóng bao trùm Acapulco), giai đoạn kéo dài hàng giờ đồng hồ mà xưa kia, khi B còn là thiếu niên, có lẽ y sẽ gọi là buồn chán, dù giờ chắc chắn y sẽ không dùng từ ấy nữa, mà thay vào đó là từ thảm họa, một thảm họa với chỉ mình y, thứ chẳng làm gì nhiều ngoài đục nên vết đứt gãy giữa B và bố. Nó chính là một phần cái giá họ phải trả để tồn tại trên cõi đời.

Mọi chuyện bắt đầu khi lão già cựu vận động viên lặn vách quay lại, B lập tức nhận ra lão đến tìm mỗi ông bố, chứ không phải cả hai bố con, như cách người ta gọi một gia đình. Bố B mời lão uống một ly trên sân khách sạn. Lão già nói lão biết có chỗ hay ho hơn. Ông bố nhìn lão, mỉm cười đồng ý. Họ ra đường là trời bắt đầu nhá nhem. B cảm thấy đau như bị đâm mà chẳng hiểu tại sao, y nghĩ có lẽ mình nên ở lại khách sạn, để bố muốn làm gì thì làm. Nhưng đã quá muộn. Chiếc Mustang lao lên đại lộ Constituyentes, ông bố lấy trong túi ra tấm danh thiếp mà gã lễ tân đưa cho vài ngày trước. Quán đêm tên San Diego, ông nói. Theo lão già thì chỗ đó đắt lòi. Tôi thì đầy tiền, ông bố nói; tôi sống ở Mexico từ 1968, đây là lần đầu tôi đi nghỉ. B ngồi cạnh bố, cố nhìn mặt lão già qua gương chiếu hậu, nhưng chẳng thấy gì. Thế là đầu tiên họ đến San Diego làm vài ly, nhảy vài điệu với mấy cô gái. Nhảy bao nhiêu điệu là họ phải đưa cô gái bấy nhiêu tấm vé mua trước từ quầy rượu. Ban đầu, ông bố chỉ mua ba vé. Hệ thống này có gì đó cứ ảo ma thế nhỉ, ông nói với lão già. Nhưng rồi ông lại mê đến nỗi mua cả xấp vé. B cũng vào nhảy. Bạn nhảy đầu tiên cùng y là một cô gái mảnh khảnh với nét thổ dân. Người tiếp theo là một phụ nữ ngực bự, có vẻ bồn chồn hay bực dọc mà B chẳng bao giờ biết nguyên do. Người thứ ba phôm phốp, vui vẻ, mới nhảy được một lúc mà cô đã thì thầm vào tai B rằng cô đang phê. Phê cái gì cơ? B hỏi. Nấm ma thuật, cô nói, B nghe thì cười sằng sặc. Trong khi đó, ông bố nhảy với một cô gái trông như thổ dân, còn B thì thi thoảng vẫn liếc nhìn bố. Thực ra cô nào cô nấy đều trông giống thổ dân hết cả. Cô nhảy với ông bố được cái có nụ cười xinh. Họ nói chuyện (thực ra là nói không ngừng) mà B chẳng nghe lỏm được gì. Rồi ông bố lặn mất tăm, B bèn đến quầy rượu với lão già. Họ cũng bắt đầu tán phét. Về ngày xưa. Về lòng can đảm. Về vách đá nơi con sóng xô vào. Về cả đàn bà. Toàn những chủ đề B chẳng mấy hứng thú, ít nhất là lúc này. Nhưng họ vẫn nói không ngừng.

Nửa giờ sau ông bố mới trở lại quầy rượu. Mái tóc vàng của ông vẫn còn ướt, cũng mới chải thôi (bố B luôn chải tóc ngược ra đằng sau), mặt thì đỏ bừng. Ông mỉm cười, chẳng nói gì; B quan sát ông, cũng không nói gì. Đi ăn tối thôi, ông bố nói. B cùng lão già cựu vận động viên theo ông ra chỗ chiếc Mustang. Họ ăn đủ loại hải sản trong một quán vừa dài vừa hẹp như quan tài. Trong lúc ăn, ông bố cứ dò xét B như muốn tìm kiếm câu trả lời. B nhìn lại luôn, ý muốn gửi một thông điệp thầm lặng: Câu hỏi sai thì không có câu trả lời. Hỏi thì rõ ngu mà còn đòi trả lời à. Rồi, trước khi kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, B đã lại ở trong xe với bố và lão già, họ cứ nói mãi về quyền anh suốt đường đến một nơi ở vùng ngoại ô Acapulco. Ở đó có một tòa nhà bằng gạch và gỗ, không cửa sổ, bên trong có máy hát tự động chơi nhạc của Lucha Villa và Lola Beltrán. Đột nhiên, B thấy buồn nôn. Y bỏ bố và lão già lại, lao đi tìm nhà xí, sân sau, hay thậm chí cửa mở ra đường, rồi nhận ra mình uống quá nhiều thì cũng đã muộn. Y cũng nhận ra những bàn tay có vẻ thiện ý đã vịn y lại không cho ra ngoài. Họ không muốn mình thoát, B nghĩ. Rồi y nôn mấy bãi ở sân sau, giữa hàng chồng két bia, dưới ánh mắt một con chó bị xích. Đến lúc nhẹ cả người, B mới ngước nhìn lên bầu trời sao. Một phụ nữ bỗng xuất hiện bên cạnh y. Bóng ả còn tối hơn cả bóng đêm. Nếu không vì chiếc váy trắng thì B cũng khó mà nhận ra ả. Làm phát thổi kèn không cu? Cô ả hỏi. Giọng cô trẻ, khàn khàn. B nhìn ả, không hiểu gì hết. Ả điếm quỳ xuống kéo khóa quần y. B cũng hiểu ra rồi để cô tiếp tục. Xong xuôi, y thấy lạnh. Ả điếm đứng dậy, y ôm lấy ả, cùng nhau ngắm bầu trời đêm. B nói sẽ về bàn của bố nhưng cô ả không theo. Đi nào, B nói, nhưng cô cự lại. Rồi y nhận ra mình còn chưa thấy rõ mặt ả. Vậy càng tốt. Mình đã ôm cô ấy, y nghĩ, nhưng cô ấy trông thế nào mình lại chẳng biết. Trước khi vào trong, y ngoái lại, thấy cô ả bước tới vuốt ve con chó.

Bên trong, ông bố đang ngồi với lão già cựu vận động viên cùng hai gã khác. B tiến đến sau lưng ông thì thầm vào tai: Đi thôi bố ơi. Ông bố đang chơi bài. Đang thắng đây, ông nói, đi gì tầm này. Bọn này sẽ lột sạch tiền của chúng ta mất thôi, B nghĩ. Rồi y nhìn mấy người phụ nữ, họ cũng nhìn hai bố con với ánh mắt thương hại. Họ biết điều gì sẽ xảy ra với chúng ta, B nghĩ. Mày say à? Ông bố hỏi, tay bốc lấy lá bài. Không, B đáp, con tỉnh rồi. Hay mày chơi đồ hả? Bố y hỏi tiếp. Không, B đáp. Thế là ông bố mỉm cười, gọi một ly tequila. B đứng dậy ra quầy rượu, ở đó, y dò xét toàn cảnh tội ác với đôi mắt cuồng loạn. Giờ thì B đã rõ rồi: y sẽ không bao giờ đi nghỉ cùng bố nữa. Y nhắm mắt lại; rồi y mở mắt ra. Mấy con phò cứ tò mò nhìn y; một ả mời y uống nhưng B ra đò từ chối. Nhắm mắt vào là y lại thấy bố mình, hai tay hai súng, bước qua cánh cửa nằm ở vị trí phi thực. Ông bước vào, bất khả, khẩn nguy, mắt xám sáng quắc, tóc tai bù xù. Đây là lần cuối cùng chúng ta đi cùng nhau, B nghĩ. Chỉ có thế thôi. Máy hát tự động chơi nhạc Lucha Villa, làm B nghĩ về Gui Rosey, nhà thơ hạng xoàng mất tích ở miền nam nước Pháp. Ông bố chia bài, cười cợt, kể chuyện, rồi nghe mấy thằng cha chơi cùng kể chuyện, chuyện thì càng lúc càng tởm lợm. B nhớ lại hồi mới từ Chile về năm 1974, lúc y qua nhà ông bố. Ông gãy chân, phải nằm liệt giường đọc tạp chí thể thao. Chuyến đi thế nào? Ông hỏi, rồi B kể lại cuộc phiêu lưu của mình. Chỉ là một chương trong biên niên sử của những cuộc cách mạng thất bại ở Mỹ Latinh. Suýt nữa thì con tiêu đời, y nói. Ông bố nhìn y mỉm cười. Mấy lần? Ông hỏi. Ít nhất là hai lần, B đáp. Giờ thì ông bố đang cười oang oang, còn B cố nghĩ cho thông. Gui Rosey tự sát, y nghĩ, hoặc bị sát hại. Thi thể ông chôn vùi dưới đáy biển sâu.

Cho một ly tequila nhé, B gọi. Người phụ nữ đưa y một ly vơi một nửa. Đừng say nữa đấy, nhóc ạ, cô ta nói. Không, giờ tôi ổn rồi, B đáp, y thấy hoàn toàn tỉnh táo. Rồi hai người phụ nữ khác tiến lại gần y. Mấy cô muốn uống gì không? B hỏi. Bố cậu thật dễ thương, cô trẻ hơn, tóc đen dài, nói. Có lẽ là chính cô ta đã thổi kèn cho mình, B đoán. Và y nhớ (hay cố nhớ) những mảnh kí ức dường như rời rạc: lần đầu tiên y hút thuốc trước mặt bố; sáng hôm đó lạnh buốt, y thì mới mười bốn, hút điếu Viceroy, lúc họ đợi trong xe tải của bố trước một đoàn tàu chở hàng. Súng, dao, cả những câu chuyện gia đình. Đám phò uống tequila pha Coca-Cola. Mình đã nôn ngoài kia bao lâu? B tự hỏi. Nãy cậu có hơi hoảng đấy, một ả điếm nói. Muốn làm tí không? Tí gì? B hỏi. Y run rẩy, da lạnh như băng. Cỏ chứ còn gì, người phụ nữ chừng ba mươi, tóc dài như người kia nhưng nhuộm vàng, nói. Acapulco Gold hả? B hỏi, nhấp ngụm tequila, còn hai cô gái thì tiến đến gần hơn, vuốt ve cả lưng lẫn chân y. Hẳn rồi, làm tí là thư giãn ngay, ả tóc vàng nói. B gật đầu, và chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì đã thấy một đám khói tỏa ra giữa hai bố con. Cậu thương bố lắm phải không, một cô ả hỏi. Thường thì cũng không đến mức ấy, B đáp. Ý cậu là gì cơ? Ả tóc đen hỏi. Bà cô phục vụ quầy rượu cười lớn. Qua làn khói, B thấy bố quay đầu nhìn y một thoáng. Ánh mắt nghiêm túc trí mạng, y nghĩ. Thích Acapulco không? Ả tóc vàng hỏi. Lúc này B mới nhận ra quán gần như chẳng còn ai. Một bàn có hai người đàn ông lặng lẽ nốc rượu, bàn khác là bố y, lão già cựu vận động viên, cùng hai gã lạ mặt đang chơi bài. Tất cả các bàn khác trống trơn. Cửa ra sân mở toang, người phụ nữ váy trắng xuất hiện. Đây rồi, người đã thổi kèn cho mình đây rồi, B nghĩ. Ả trông chừng hai mươi lăm, nhưng có lẽ trẻ hơn nhiều, chắc chỉ mười sáu hoặc mười bảy thôi. Ả cũng để tóc dài như hầu hết đám điếm kia, chân đi giày gót rất cao. Khi ả băng qua quán (hướng về nhà vệ sinh), B nhìn kỹ đôi giày: trắng, hai bên lấm bùn. Ông bố cũng ngẩng lên, dò xét ả một lúc. B quan sát ả điếm mở cửa nhà xí, rồi hướng ánh mắt sang bố. Y nhắm mắt rồi lại mở mắt ra thì ả đã đi đâu mất, ông bố cũng đã quay lại tập trung vào ván bài. Tốt hơn hết là cậu nên đưa bố cậu ra khỏi đây ngay đi, một ả thì thầm vào tai y. B gọi thêm ly tequila nữa. Lực bất tòng tâm, y nói. Ả luồn tay xuống dưới lớp áo Hawaii rộng thùng thình của y. Chắc cô ta kiểm tra xem mình có mang vũ khí không thôi mà, B nghĩ. Ngón tay ả trườn lên ngực, siết lấy núm vú trái. Này này, B nói. Cậu không tin tôi à? Ả hỏi. Sắp có chuyện gì vậy? B hỏi. Chuyện xấu, cô nói. Xấu đến đâu? Chịu, nhưng tôi mà là cậu, tôi sẽ té khỏi đây ngay. Lần đầu B nhìn vào mắt ả, mỉm cười: Đi với chúng tôi đi, y nói, miệng nhấp ngụm tequila. Mơ đi nhé, ả đáp. Rồi B nhớ bố từng nói với y, trước chuyến đi Chile: “Con là nghệ sĩ còn bố là công nhân.” Ông ấy có ý gì nhỉ? Y tự hỏi. Cửa nhà vệ sinh mở toang, ả điếm váy trắng bước ra, đôi giày giờ sạch không tì vết, ả tiến đến bàn chơi bài, đứng cạnh một gã lạ mặt. B hỏi, Sao chúng tôi phải đi? Cô ả liếc nhìn y qua khóe mắt, không nói không rằng. Có những điều có thể nói được với người khác, B nghĩ, có những điều thì không. Y nhắm mắt lại. Mơ mơ màng màng, y quay lại sân sau. Ả gái tóc vàng nắm tay y dắt đi. Mình đã ra sân rồi mà, B nghĩ, mình say rồi, mình sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi đây được nữa. Vài hành động lặp lại y sì: cô ả ngồi trên cái ghế ọp ẹp kéo khóa quần y, màn đêm như thứ khí chết chóc lơ lửng giữa hàng chồng két bia rỗng. Nhưng lại thiếu mất vài cảnh: con chó biến mất là một, hai là, trên bầu trời, hướng đông, nơi mặt trăng ban nãy còn treo, thì giờ vài tia sáng đã báo hiệu bình minh. Họ hành sự xong là con chó xuất hiện, có lẽ nó bị tiếng rên của B thu hút. Nó không cắn đâu, cô ả nói, trong khi con chó đứng nhe răng cách đó chỉ vài mét. Ả đứng dậy vuốt váy cho thẳng thớm. Lông trên lưng con chó dựng đứng, mõm nó lủng liểng vệt nước dãi trong mờ. Yên nào, Fang, yên, cô nói. Nó cắn đấy, B nghĩ, cả hai lùi về phía cửa. Những gì xảy ra sau đó rối mù: ở bàn ông bố, các bài thủ đứng hết dậy. Một gã lạ mắt la lối om sòm, B sớm nhận ra gã đang xúc phạm ông bố. Để đề phòng thì B gọi ở quầy chai bia, tu ừng ực đến nỗi suýt sặc, rồi tiến đến bàn chơi bài. Ông bố trông có vẻ bình tĩnh. Trước mặt ông là một đống tiền giấy, ông nhặt từng tờ bỏ vào túi. Mày đừng hòng mang được đống tiền ấy ra khỏi đây, gã lạ mặt hét tướng lên. B nhìn lão già cựu vận động viên, cố đoán qua nét mặt xem ông ta sẽ đứng về phía nào. Chắc là phía gã lạ mặt rồi, B nghĩ. Dòng bia chảy tong tỏng xuống cổ, lúc này y mới nhận ra thân mình nóng ran. Ông bố đếm xong tiền, mắt nhìn ba người đàn ông trước mặt và cô gái váy trắng.

Thôi nhé các ông, chúng tôi té đây, bố B nói. Con, lại đây. B đổ phần bia còn lại xuống sàn, tay nắm cổ chai. Con làm gì vậy? Ông bố hỏi. B nghe thấy mùi trách móc. Cứ điềm tĩnh mà đi, ông bố nói, rồi ngoái lại hỏi đám phụ nữ xem nợ bao nhiêu. Người phụ nữ ở quầy rượu nhìn một mẩu giấy, đọc lên con số cũng khơ khớ. Ả tóc vàng, đứng đâu đó giữa bàn chơi và quầy rượu, lại nói một con số khác. Ông bố cộng cả hai, lấy tiền ra đưa cho ả tóc vàng: Tiền nợ và tiền nước nhé. Rồi ông nhét thêm vài tờ: Tiền boa nữa. Giờ thì đi được rồi đấy, B nghĩ. Hai gã lạ mặt đứng chặn lối ra. B không muốn nhìn ả váy trắng nhưng y lại cứ nhìn: ả ngồi xuống cái ghế trống, dò xét những lá bài lăn lóc trên bàn, lấy đầu ngón tay chạm vào từng quân. Đừng cản đường tao, bố y lầm bầm, phải mất một lúc B mới nhận ra ông đang nói với mình. Lão già cựu vận động viên đút tay vào túi. Thằng cha ban nãy la hét lại bắt đầu xúc phạm bố B, bảo ông quay lại bàn chơi tiếp. Nước mắt tuôn rơi, trò chơi kết thúc, ông bố nói. Trong thoáng chốc, B nhìn người phụ nữ váy trắng (giờ đây, lần đầu tiên, y thấy ả rất đẹp), y nghĩ về Gui Rosey, người biến mất khỏi mặt đất này, lặng lẽ như cừu non, tuyệt không dấu vết, trong khi khúc ca Đức Quốc xã vang rộn bầu trời đỏ như máu, rồi y thấy mình là Gui Rosey, một Gui Rosey chôn dưới ô đất trống nào đó ở Acapulco, tan biến mãi mãi, nhưng rồi y nghe tiếng ông bố đang buộc tội lão già điều gì đó, và nhận ra, y không như Gui Rosey, y không hề cô đơn. Đoạn bố y bước về phía cửa, lưng hơi khom xuống. B né sang một bên nhường đường. Mai chúng ta đi, mai là được về thành phố Mexico rồi, B vui mừng nghĩ. Và rồi cuộc ẩu đả bắt đầu.

Mời quý vị đón đọc báo Văn nghệ số 15/2026

Mời quý vị đón đọc báo Văn nghệ số 15/2026

Baovannghe.vn - Báo Văn nghệ số 15 ra ngày 11/4/2026 có các nội dung sau đây:
5 nhiệm vụ trong tâm trong triển khai Nghị quyết  Đại hội XIV của Đảng

5 nhiệm vụ trong tâm trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Baovannghe.vn - Sáng 08/4/2026, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cho các cơ quan báo chí, xuất bản và đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức.
Bà Lâm Thị Phương Thanh giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Bà Lâm Thị Phương Thanh giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Baovannghe.vn - Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã phê chuẩn bổ nhiệm bà Lâm Thị Phương Thanh giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Thống nhất Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam

Thống nhất Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam

Baovannghe.vn - Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/NQ-CP về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam.
“Cánh rừng nhiều đom đóm bay”  và hồn thơ Nguyễn Đức Mậu

“Cánh rừng nhiều đom đóm bay” và hồn thơ Nguyễn Đức Mậu

Baovannghe.vn - Tuyển tập thơ Nguyễn Đức Mậu (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, tháng 12/2023) dày 500 trang gồm 273 bài. Một khối lượng thơ đồ sộ. Đây gần như là toàn bộ gia tài thơ Nguyễn Đức Mậu hơn bốn chục năm sáng tác.