Sáng tác

Một cái tên buồn cười cho con trai. Truyện ngắn của Claire Keegan

Claire Keegan
Văn học nước ngoài 10:31 | 06/03/2026
Baovannghe.vn- Tôi đã về quê để nói với anh. Tôi đã đi ngược về quá khứ của tôi, về những bộ quần áo giờ đã chật, về một câu chuyện trên một tờ tạp chí dành cho phụ nữ. Ồ, trước đó thì tôi đã có về, đã nhiều lần mua vé phà cho những bữa tiệc đính hôn, cho lễ rửa tội của cháu họ và cho những dịp Giáng sinh. Chính trong những buổi tiệc tùng đó mà tôi gặp anh.
aa
Một cái tên buồn cười cho con trai. Truyện ngắn của Claire Keegan
Minh họa Vũ Đình Tuấn

Anh bắt chuyện với tôi vào lúc khai vị, trét pa tê lên lát bánh mì nóng giòn khi chúng tôi đứng giữa một bà chủ tiệc lóng lánh váy kim tuyến và một người đàn ông bận đồ đen. Tôi là một phi vụ ái tình Giáng sinh của anh, kiểu như tiêu khiển cho đỡ chán trong những ngày lễ lạt, còn anh thì là phi vụ ái tình của tôi. Nhưng giờ thì những va li này đang chĩnh chiện trên nền nhà này, nơi tôi từng có thời chập chững tập đi. Biết đâu tôi lại chẳng về hẳn.

Các bà các dì tôi quây xung quanh tôi trong phòng ngủ, họ mang trà, mang cốc sứ và đĩa đựng cốc lục từ trong tủ buýp phê, tiếng cốc chén lách cách trên khay. Họ là những người đàn bà phốp pháp, chuyên mặc vải tuýt, những kẻ tự cho rằng họ đã dạy dỗ tôi biết phải trái, biết ăn ở và biết phẩm giá của lao động chăm chỉ. Những người đàn bà bụng phẳng, đồng bóng, những kẻ đã thôi mơ mộng và gọi thế là hạnh phúc. Chúng tôi xuất thân là những người đàn bà chuyên o bế đàn ông, mà đàn ông ấy mà họ chẳng phản đối chuyện đó bao giờ. Giờ thì họ đang rót đầy những cốc trà đẹp nhất, họ hỏi về tương lai của tôi, những câu “Cái việc mà cháu đang làm ấy, là gì vậy?” và “Bây giờ cháu đang làm gì?” tưởng giống nhưng chẳng phải một.

“Cháu sẽ viết sách.” Tôi nói. Một cuốn tiểu thuyết khiêu dâm, tôi muốn nói thêm, một thứ gì đó tục tĩu và dâm ô, tới mức đến Fanny Hill cũng chỉ như sách lễ trong nhà thờ. Nói thế thì thể nào cũng nhặt về một cái cười khinh bỉ. Câu trả lời hay đấy, nhưng việc gì mà buồn cười thế, đặc biệt ở tuổi tôi. Họ tính nhẩm tuổi tôi, cố nhớ xem hồi tôi sinh ra thì đã có ai qua đời. Họ cũng không chắc lắm nhưng tôi chẳng còn non tơ gì nữa. Đáng lẽ giờ tôi phải đang làm việc nào khác rồi ấy chứ, đang bấu lấy một gã trai tân nào đó thu nhập ổn định và một chiếc xe vừa mắt chẳng hạn.

“Cháu và mấy quyển sách của cháu.” Họ vừa nói vừa lắc đầu, vừa nặn hết chất trà ra khỏi túi lọc. Họ còn chưa biết đến một nửa trong số đó. Không biết những ngụy trang tôi đắp cho họ, không biết tôi đã xoá đi hai chục năm khỏi khuôn mặt lam lũ của họ, tẩy đi màu tóc nhuộm đã ngả óng trên đầu họ. Đã bứng họ đến một xứ sở khác và thay tên đổi họ cho họ. Đã lộn trái họ từ trong ra ngoài như một đôi tất cũ kĩ cáu bẩn. Họ không biết những lời dối trá tôi đã buông.

Tôi dỡ đồ ra khỏi va li và nghi thức bắt đầu. Người ngồi giường, người ngồi xô pha, người ngồi ghế, bọn họ nghiêng người về phía nhau mà bàn tán, mà thắc mắc tôi có đồ mới nào, liệu đôi giày tôi có phải da bóng, váy vóc tôi có lụa là. Họ rờ rẫm vải, xem váy lên gấu có rộng không, họ đọc nhãn hiệu, và rồi xôn xao:

“Cháu kiếm những của này đâu ra vậy?”

“Lạy Chúa, nhìn cái váy mini này!”

“Cháu có biết là váy ngắn đang quay lại mốt rồi không?”

“Chân nó đẹp mà.”

“Vải lanh thì đẹp đấy nhưng bố bảo tao cũng chẳng dám là.”

“Chỉ cần phơi khô đã phẳng rồi, thật á, không nói chơi chứ?”

“Cỡ bao nhiêu đấy? Có vừa với dì không? Cháu hình như béo ra một tí thì phải, nói thế đừng tự ái nhé. Nhưng mà cháu cao, nên chẳng sao.”

Tôi treo cái áo khoác bằng vải cốt tông mặc thường ngày, cái váy loe co giãn, lên mấy cái móc áo bằng kim loại, một bộ quần áo vét đen bằng vải len, một cái đầm vải cashmere. Đôi giày đi hàng ngày có thể giấu đi công việc của tôi. Một đôi cao gót lênh khênh đỏ chói có thể khiến họ lúng túng. Họ lục lọi xem xét hết các thứ của tôi, cố đoán xem tôi là kiểu người nào.

Cuối cùng, họ cũng rút vào bếp để nấu bữa tối. Sẽ có sáu người: đàn ông trong nhà sắp về rồi. Tôi nghe thấy tiếng khoai tây đổ vào chậu, tiếng loảng xoảng của vung xoong chảo và chẳng mấy chốc mùi củ cải đỏ đã lượn lờ lên tầng trên. Tôi quên mất những căn phòng phía sau trở màu vàng vọt thế nào vào những chiều muộn. Tôi ngồi dưới bậu cửa, khuôn mặt ẩn trong bóng đổ còn cuốn sách thì ở ngoài sáng, tôi băn khoăn không biết đọc thế, ở khoảng cách xa thế, thì có hại gì cho mắt hay không. Tôi đọc cuốn Lữ quán Jamaica1, cuốn đầu tiên ru quyến tôi vào cái ảo mộng này, và tôi nghĩ nếu là con gái thì đặt tên Daphne sẽ rất hay.

Tôi đã thu xếp để gặp anh ở Dublin. Anh trông đẹp trai và đi đôi ủng cao bồi trông anh cao ráo hẳn ra. Anh hôn chào tôi ở cổ, nhưng môi thì lạnh tanh. Và có một điều mà tôi trót quên mất, một cái đinh khuyên tai bằng vàng lấp ló ở dái tai trái của anh. Anh bảo tôi rằng chắc là tôi hợp với đất Anh quốc, rằng tôi trông đỏ lông đẹp da ra trông thấy.

“Chẳng biết em đã làm gì mình ở cái xứ ấy, nhưng trông em tươm lắm.” Anh nói như thể là đang mếch lòng.

Như thể con gái Ireland đáng lẽ ra phải ghét Anh quốc; đáng ra phải ở xó nhà và nuôi nấng bầy con trai của họ, phải vặt lông gà, phải ngắt hành ngò, phải chịu đựng những ồn ã inh ỏi của những trận đấu ngày Chúa nhật.

“Tôi làm gái, anh không biết à?”

“Chà, miệng lưỡi em chẳng thay đổi chút nào.” Anh cười phá lên rồi khoặc tay vào tôi, đưa tôi ra biển, tới Sandycove, tới mái vòm tháp Joyce như cái nấm nhô về phía mặt trời chiều lạnh lẽo.

“Ông ta toàn viết những cuốn nổi tiếng. Hình dung nổi không.” Anh nói. “Và đây là mặt biển xanh lè như nước mũi2.”

Mặt biển bẩn thỉu, một gợn sóng khẽ ấp vào những tảng đá trông ra bãi Quý Ông. Tôi nằm xuống và kéo áo khoác quanh mình. Cơn gió mặn sắc như dao, có thể cứa rời mông một cô thiếu nữ. Chúng tôi ngồi đó rất lâu mà không nói lấy một lời, mỗi người chĩa theo những suy nghĩ khác nhau.

Tôi nhớ câu chuyện một người phụ nữ trẻ ở đâu đó dưới miền tây. Người ta tìm thấy cô trong một căn chòi mà cha cô dựng lên, chỉ một gian đơn độc không ống khói. Trong một khu rừng mà ông ta giam cô ở đó và để mặc cô chết trước khi bất cứ người hàng xóm nào biết được. Tôi có thể hình dung ra những tấm ảnh: một cái cáng, trên cáng là một cái túi đựng xác, một tấm ảnh khác thì là cô ấy đang cười khi chụp cùng các bạn học, người ta khoanh tròn đầu đến vai cô.

Một con thuyền đánh cá bơi ngang, chẳng xa quá đỗi nên chúng tôi nghe được tiếng hát mấy người đàn ông trên đó: “Ơi! Ơi! Ơi! Deellilah!” Chúng tôi dõi nhìn họ đi ra vùng nước sâu tiến về Howth.

Anh nghĩ là buồn cười.

“Lũ ngốc.” Anh vừa nói vừa cười.

Anh lúc nào cũng háo hức trước thú vui của những người đàn ông khác, như thể mình cũng được một miếng nhỏ trong đó. Tôi hẳn cũng nghĩ là buồn cười đấy, nếu như tôi không biết những gì tôi đã biết bây giờ. Tôi từng nghĩ là mình sẽ không bao giờ biết được quá nhiều thứ. Hồi ở đại học, tôi không biết thế nào là đủ. Tôi chồng hết quyển nọ lên quyển kia trên mặt tủ đầu giường, đọc đến khuya và đọc xong thì đổi sang quyển khác như thể học hành là việc gì đó có thể làm cho xong. Nhưng giờ thì tôi đã biết quá nhiều; tựa hồ một kẻ nghe lén, tôi cảm thấy mình đã để lọt vào tai những chuyện vô phương chối cãi về chính bản thân, và bởi thế tôi phải thật từ tốn, phải giữ nó cho riêng mình tới chừng nào thật sẵn sàng. Giống như đang cầm trên tay một ly đầy, không thể cứ vậy mà đi, nếu không nước sẽ sánh ra ngoài.

Mưa liệng xuống dọc theo mũi đất; tôi nhìn thấy những mảng mưa xam xám, lưa thưa đang tha thẩn hướng về nam. Con mòng biển sà xuống và phóng uế lên đá ngay phía trước cơn mưa. Tôi có cảm giác đây sẽ là lần cuối cùng chúng tôi bên nhau như thế này. Mọi dan díu giữa chúng tôi rồi sẽ tắt ngấm tại đây.

“Phới đi uống cái gì thôi.”

Chúng tôi rời biển, vào trong thị trấn. Quán rượu tôi tối và ấm áp, trên tường, những bức ảnh nâu nâu đo đỏ kiểu cổ chụp những đội bóng gậy, những người đàn ông đứng hàng đầu thì quỳ gối trước ống kính. Anh tới xem xét quầy bar và tôi nhớ có một đám bạn nhậu mà anh đã nói tới nhưng chưa bao giờ giới thiệu với tôi. Ba người đàn ông trung tuổi đang ngồi ở quầy với tờ Evening Heralds, vây quanh mấy em nai tơ, đánh cược vào chó đua và bàn tán về tỷ lệ cược. Anh đem về hai vại bia tới một cái bàn giống như một gã đàn ông xách hai xô đầy nước và đổ ào vào một đám cháy trong chính cái chuồng của anh ta. Hối hả, nhấp nhổm muốn đi chuyến nữa.

Chúng ta ngồi trên những chiếc ghế bành đỏ trước lò sưởi và những đêm ấy ùa về trong tôi, những đêm giữa Giáng sinh và năm mới, sáu ngày sáu đêm trong ngôi nhà trống của mẹ anh, khi tôi chẳng mặc gì ngoài quần áo của anh, chiếc áo sơ mi cổ tàu của anh dài tới đầu gối tôi, đôi tất đá bóng dày dặn của anh có cái gót đã nâu xì. Chúng tôi ở trong nhà suốt và chỉ gọi đồ giao về: mì xào Trung Quốc, cá tuyết và khoai tây chiên, chẳng ai ăn thế vào Giáng sinh bao giờ. Tôi nhớ có lá cờ Nhật Bản treo trong góc phòng, vòng tròn trung tâm nhúng đỏ như một sự đình chiến đã bung ra thành máu đổ. Cái cách anh giật tung nó, để nó rơi xuống thân mình trần trụi của tôi trên chiếc giường cỡ lớn của mẹ anh. Lẽ ra tôi đã phải biết ngay từ lúc đó. Chúng tôi thường tỉnh dậy quãng nửa đêm và làm tình, rồi cà phê, và anh chẳng nói nhiều, nhưng chẳng sao. Tôi ngồi dậy và lắng nghe tiếng xe đi qua tuyết nhão, tiếng vài đoạn Đêm thánh ca từ một kẻ say sưa vui vẻ đang trở về nhà. Mưa phùn rơi trên kính làm nhoè vỡ khung cảnh những ngôi nhà kiểu Georgian.

Và giờ thì tôi băn khoăn không biết đó chính là điều anh mong đợi. Một chuyến phiêu lưu sáu ngày khác nữa? Tôi ngờ rằng anh cho tôi là kiểu đàn bà không có cái khôn ngoan của kẻ biết phẩy tay trước những thứ nhỏ nhặt như dành cả một tuần trên giường của mẹ anh.

“Quỷ tha ma bắt mất lưỡi của em đi rồi à?” Anh hỏi.

Và rồi mọi rào trước đón sau của tôi bay biến hết. Lời phóng ra thẳng băng, vô phương rút lại. Bàn tay anh nắm chặt lấy cái cốc. Tôi chờ xem anh nói gì. Tôi muốn anh nói anh yêu tôi, cho dù là tôi chẳng yêu anh. Như thế có khi lại kéo về chút cân bằng. Nếu tôi phải mang thai đứa trẻ thì việc tối thiểu nhất anh có thể làm là yêu tôi.

Khúc gỗ còn xanh rít lên trong lò sưởi, nhựa nó rỉ ra từ cái vỏ cây đã tẽ mình. Những tia lửa nhỏ li ti nối nhau thành hàng, mà bà tôi thường gọi là những chú lính lửa, đang hành quân qua mảng muội than, nhưng anh chẳng nói gì. Anh nói gì tôi cũng kham được hết. Tôi sẽ sống bằng nước lã và trông trời trông đất trông mây mà sống. Tôi sẽ học cách đoán mười lăm kiểu gió và biết mưa nặng nhẹ thế nào vào ngày mai, chỉ cần nghe tiếng những cây phong cựa mình. Sẽ lấy tầm ma làm súp, lấy bồ công anh nướng bánh mì, sẽ chẳng đòi hỏi gì hết. Và tôi sẽ không o bế anh. Tôi sẽ không phải là kiểu đàn bà bao dung lấy người đàn ông của mình như thể anh ta là một cậu bé. Cái phần người ấy của cánh chúng tôi, sẽ đến tôi thì chấm dứt.

Anh dõi nhìn hai người anh em ở quầy bar, những kẻ trai trẻ tuổi ngoài băm mặc áo khoác da, quần bò xanh, những kẻ không vướng bận. Anh có thể đứng dậy và đi về phía đó chỉ cần vung đôi ủng cao bồi dăm bảy bước. Anh uống bia cho đến tận khi bọt lưng chừng cốc. Tôi chăm chăm nhìn cục yết hầu dịch lên dịch xuống như một hòn đá trong cổ anh.

“Hừm, chuyện gì đến cũng đã đến rồi.” Anh nói.

Tôi với tay qua bàn và chùi đám bọt ở môi trên của anh, nhưng cái chạm ấy kéo kỉ niệm về sự đụng chạm nhau, và anh rụt lại.

“Anh thấy cái tên Daphne thế nào?”

Và chính tại đây, quyết định của tôi được gọi tên. Không chuyến chơi thuyền, không cuộn tiền 20 bảng, không phòng chờ trắng tinh bằng nước tẩy với những cuốn tạp chí chó tha gà mổ dành cho phụ nữ.

Anh ghé mắt nhìn vào cốc của mình.

“Một cái tên buồn cười cho con trai.” Anh nói.

Anh chành hai cái môi lạnh lùng của mình ra thành một nụ cười. Chẳng khác nào biểu cảm của những cầu thủ chơi bóng trên bức ảnh, và tôi đoán đó là niềm kiêu hãnh. Vì kiêu hãnh là thứ mà tôi biết. Đột nhiên tôi chẳng muốn anh, sẽ chẳng giữ anh tránh xa mấy cậu con trai và những đêm chơi bi-a mịt mù khói. Tôi sẽ uống vại bia tiễn biệt này, nhưng cuối đêm nay, tôi sẽ bắt tay anh. Tôi sẽ không sống nổi mất nếu tôi gài anh như gài một con sói, sống với anh theo cái kiểu này, nhìn vào mặt anh vào một đêm nào đó nhiều năm về sau và nhận ra một người đàn ông với nỗi tiếc nuối khủng khiếp nhất đời là sáu đêm lén lút trên giường của mẹ mình với một người đàn bà quen trong một buổi tiệc Giáng sinh. Đột nhiên, tôi chẳng biết vì sao mình lại tới chốn này.

“Uống hết đi.” Anh nói, chỉ vào cốc của tôi. “Một người con gái đang như em sẽ cần rất nhiều sắt.” Thế nên tôi uống cạn cốc bia Ireland của mình, cảm thấy dễ chịu vì anh đã gọi tên được cái khoáng chất chứa trong váng bọt trắng xoá.

Quế Chi

Dịch từ nguyên bản tiếng Anh

1. Tác giả là Daphne du Maurier.

2. Một diễn đạt của Joyce.

Phẩm giá của thơ trong thời đại AI

Phẩm giá của thơ trong thời đại AI

Baovannghe.vn - Chỉ cách đây ít lâu, thấy có người cho AI làm thơ và công bố thơ do AI làm, tôi đã nổi giận và xem đó là một hành vi đáng xấu hổ.
Ngày Thơ 2026 tại Quảng Ninh và thành phố Hồ Chí Minh

Ngày Thơ 2026 tại Quảng Ninh và thành phố Hồ Chí Minh

Baovannghe.vn - 2026 là năm thứ 24 Ngày thơ Việt Nam được tổ chức thành phong trào rộng khắp trên cả nước.
Ngày Thơ Hà Nội - Bữa tiệc của cảm xúc

Ngày Thơ Hà Nội - Bữa tiệc của cảm xúc

Baovannghe.vn - Trong chuỗi hoạt động của Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 trên cả nước, Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội, Hội Nhà văn Hà Nội đã tổ chức Ngày Thơ Hà Nội với chủ đề Vươn mình ra biển lớn.
Thủ tướng đề xuất sớm có giải thưởng "Phụ nữ tài năng, sáng tạo và cống hiến”

Thủ tướng đề xuất sớm có giải thưởng "Phụ nữ tài năng, sáng tạo và cống hiến”

Baovannghe.vn - Nhân kỷ niệm 116 năm Ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, kỷ niệm 1986 năm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sáng 6/3, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gặp mặt nữ lãnh đạo, quản lý các cơ quan Trung ương và trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025.
Bà Bùi Thị Minh Hoài: Nỗ lực cao nhất  hoàn thành trách nhiệm của người đại biểu dân cử

Bà Bùi Thị Minh Hoài: Nỗ lực cao nhất hoàn thành trách nhiệm của người đại biểu dân cử

Baovannghe.vn - Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài cam kết, nếu được cử tri tín nhiệm, bầu làm đại biểu Quốc hội khóa XVI, bà sẽ nỗ lực cao nhất để hoàn thành trách nhiệm của người đại biểu dân cử.