Diễn đàn lý luận

“Diệu âm” – Đóa sen mừng Lễ Hội Quán Thế Âm

PGS, TS Đỗ Ngọc Thứ
Tác phẩm và dư luận 08:00 | 05/04/2026
Baovannghe.vn - Chào mừng ngày hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn chiều ngày 3/3/2026 (Nhằm ngày 16 tháng 2 năm Bính Ngọ), tại không gian chùa Quan Thế Âm, Ban trị sự chùa Quan Thế Âm đã long trọng tổ chức ra mắt tập sách “Diệu Âm” và “Hư ngôn giữa đất trời”.
aa

Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, diễn ra thường niên tại chùa Quán Thế Âm (Ngũ Hành Sơn) từ ngày 17-19/2 âm lịch (chính hội 19/2). Đây là lễ hội tâm linh lớn nhất Đà Nẵng, kết hợp hài hòa giữa nghi lễ Phật giáo và các hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc. Lễ hội là nơi hội tụ tinh hoa tâm linh, lan tỏa thông điệp tình thương yêu và cầu nguyện quốc thái, dân an, thu hút hàng vạn Phật tử, người dân và du khách.

Để chào mừng ngày hội lớn này, chiều ngày 3/3/2026 (Nhằm ngày 16 tháng 2 năm Bính Ngọ), tại không gian chùa Quan Thế Âm, Ban trị sự chùa Quan Thế Âm đã long trọng tổ chức ra mắt tập sách “Diệu Âm” (nhiều tác giả) và “Hư ngôn giữa đất trời” của Hòa thượng Thích Huệ Vinh (Thái Huyền). Buổi ra mắt hai tập sách đã thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, các đại biểu đến từ Hội Nhà Văn, Hội Mỹ thuật; Hội Âm nhạc, Hội Nhiếp ảnh; Hội Hán nôm...thành phố Đà Nẵng cùng các nhà văn, nhà thơ trên địa bàn miền Trung và Tây Nguyên. Hai tác phẩm “Diệu Âm” và “Hư ngôn giữa đất trời” nhằm gửi tới người đọc một thông điệp rằng, lịch sử văn hóa không chỉ để hoài niệm, mà để nhìn lại, để thấu hiểu, và để nhắc nhở con người hiện đại sống tử tế hơn, biết ơn nhiều hơn với những gì đã nuôi lớn tâm hồn mỗi con người. Trong khuôn khổ của bài viết này, tôi – người được Hòa thượng Thích Huệ Vinh (Trị sự chùa Quan Thế Âm) gửi tặng tác phẩm “Diệu Âm” và đề nghị viết lời cảm nhận, xin có đôi lời chia sẻ về “Diệu Âm”:

“Diệu Âm” là tác phẩm văn học được duy trì đều đặn hằng năm. Cho đến nay, đã 35 năm, “Diệu Âm” vẫn bền bỉ, đều đặn ra đời mỗi khi mùa lễ hội Quan Thế Âm về. Diệu Ân số 35 này tụ hội đầy đủ các bộ môn văn học nghệ thuật. Từ văn xuôi, thơ, âm nhạc cho đến hội họa. Tất cả đã tạo nên một bản hòa âm đầy sắc màu, đầy cung bậc cảm xúc. Đọc “Diệu âm số 35”, dễ nhận thấy, tác phẩm đã tụ hội được những cây bút có trái tim nhân hậu, đa tài, đa cảm và luôn nặng lòng với quê hương, xứ sở, với lễ hội Quan thế âm. 84 bài viết là 84 sợi chỉ mềm mại với 84 sắc màu đan vào nhau để tạo thành bức thảm ký ức thấm đẫm tình quê, tình người và cả nỗi niềm thao thức trước những đổi thay của cuộc sống. Dù mỗi bài viết mang một sắc thái, một cảm hứng riêng – một nỗi nhớ, một chiêm nghiệm hay một dòng hoài cảm… nhưng tất cả đều gặp nhau ở một điểm: Tình người toát lên từ những điều bình dị nhất nơi cõi phật.

“Diệu âm” – Đóa sen mừng Lễ Hội Quán Thế Âm
Ban trị sự chùa Quan Thế Âm đã long trọng tổ chức ra mắt tập sách “Diệu Âm” (nhiều tác giả) và “Hư ngôn giữa đất trời” của Hòa thượng Thích Huệ Vinh.

Ở phần văn xuôi, nếu như bài “Di tích Quốc gia Ngũ Hành Sơn” của Phan Thanh Đà Hải gắn với lễ hội văn hóa phật giáo đã cho đọc giả biết về sự tích núi Ngũ hành Sơn, từ xuất xứ đến tên gọi qua từng giai đoạn lịch sử; từ lý do có ngày lễ hội cho đến các nghi lễ của lễ hội Quan thế âm, thì bài “Xá Lợi, niềm tin và tâm thức cộng đồng” của Thích Nguyên Hiền và bài “Xá Lợi của Đức Như Lai – Biểu tượng của pháp giới thiêng liêng và vĩnh cửu” của Nguyên Giác lại cho chúng ta biết nguồn gốc của Xá Lợi, trả lời cho câu hỏi: Vì sao phải thắp lên ánh sáng niềm tin phật giáo. Tác giả khẳng định: “Nếu Xá Lợi là sự kết tinh của Giới, Định, Tuệ, là biểu tượng của sự thanh tịnh, là những ấn tượng tâm linh đang tồn tại trong tất cả cõi Phật, thì việc được đảnh lễ Xá Lợi là một phước báu, là khoảnh khắc tâm linh tuyệt vời trong cuộc sống bình sinh hãn hữu”.

Đọc Diệu Âm chúng ta sẽ hiểu rằng, Xá Lợi không phải ai cũng có, càng không thể tạo ra bằng tác động vật lý hay hóa học thông thường. Xá Lợi xuất hiện như một hiện tượng tâm linh, gắn liền với đời sống phạm hạnh, thanh tịnh và công phu thu tập lâu dài”. Đọc đến đây, tôi lại nhớ tới cuộc tự thiêu để phản đối chiến tranh, phản đối việc đàn áp phật giáo của chính quyền Ngụy Sài Gòn của Hòa thượng Thích Quảng Đức năm 1963. Tại sao một trái tim bị thiếu đốt ở hàng ngàn độ mà vẫn không cháy, Thiết nghĩ, trái tim đó không chỉ là Xá Lợi. Nó là một thông điệp đạo đức và lịch sử, gắn liền với tinh thần từ bi và bất bạo lực của phật giáo.

Với bài “Ngũ Hành Sơn – Danh thắng đa giá trị”, Võ Văn Thắng lại cho đọc giả hiểu rõ giá trị địa chất học, giá trị lịch sử, văn hóa cũng như sức sống đương đại. Võ Văn Thắng khẳng định: “Danh thắng Ngũ Hành Sơn là một điểm tựa cho cuộc sống dân cư tại đấy. Nó không chỉ là cái nôi của nghề khắc văn bia, điêu khắc đá mà còn là một chỗ dựa tâm linh của đông đảo dân cư trong vùng”.

Với bài “Sống trong pháp hoa, đương đạo Nguyến Thế Đăng cho độc giả một niềm tin rằng: “sống trong pháp hoa là sống trong thương yêu và vì Pháp Hoa là vô tận nên thương yêu cũng là vô tận”.

Bên cạnh đó, các bài viết như “Nhớ ôn” của Nguyễn Văn Nho; bài “Sơn đầu kim cô” của Thái Huyền, Hay bài “Thầy là võ sư- Sư phụ môn phái Thiếu lâm và những để tử học võ đầu tiên” của Đặng Tín, hoặc bài “Cảm niệm về Thầy hòa thượng Thích Huệ Hướng của Nguyễn Võ Biên lại thủ thỉ kể cho ta nhe những kỷ niệm, những ký ức đẹp về các bậc tu hành, thiền sư. Họ không chỉ là những người thông tuệ mà còn là những tấm gương sáng về lòng từ bi, bác ái và sự kiên trì đến kinh ngạc về sự rèn luyện dẻo dai.

Trong “Diệu âm” chúng ta còn gặp những bài viết mang sự nghiên cứu chuyên sâu. Nếu như bài “Lễ hội quan thế âm ở Ngũ Hành Sơn, linh khí giữa đất trời” của Nguyễn Đức Bá, và bài “Văn hóa đi chùa của người Việt, hành trình tìm về bình yên” của Giới Mãn đã cho đọc giả hiểu rằng, Lễ hội Quan Thế Âm không đơn thuần là sự tôn vinh một vị Bồ tát, mà còn là sự hòa quện giữa văn hóa tâm linh và di sản thiên nhiên. Nó nhắc nhở ta rằng, giữa nhịp sống hối hả, vẫn có những chốn bình yên để trở về. Vẫn có những giá trị vĩnh hằng về lòng từ bi và sự sẻ chia. Và có lẽ, sau những bộn bề lo toan, được đắm mình trong không gian lễ hội, lòng người lại nhẹ nhàng hơn như những đám mây trôi lơ lửng giữa đỉnh Ngũ Hành Sơn, tự tại và an nhiên”.

Đặc biệt, tôi rất tâm đắc với bài “Han Kang – Nhà văn của những chấn thương” của dịch giả bùi Xuân. Ở đó ta thấy một con người kiên định, một niếm tin sắt son với tu tập. Dù bị người thân, gia đình, bạn bè tìm mọi phương cách để ngăn cấm, nhưng Yeong Hya vẫn kiên quyết ăn chay, không ăn thịt để giữ trọn sự trung thành và niềm tin vĩnh cửu vào cái tốt đẹp của phật giáo.

Trong “Tiếng chuông thức tỉnh của mẹ thiên nhiên”, tác giả Quang Lộc lại cho đọc giả hiểu rõ một chân lý: rằng “Khi tất cả đều đứng trước hiểm nguy, con người nhớ ra rằng mình không thể sống một mình. Rằng giữa sinh tử và vô thường, chỉ có tình thương mới giúp ta nương tựa vào nhau. Chính tình người ấy đã trở thành ánh sáng le lói nhưng bền bỉ, giúp con người đứng vững giữa cuồng phong của đất trời.

Ở phần thơ, không ra sức tô vẽ, chỉ bằng những ngôn từ dung dị, đời thường và bằng tấm lòng chân thật, các tác giả thơ đã trân trọng, nâng niu và đưa vào trang viết từng cuộc đời, từng ký ức, từng suy ngẫm, từng thời đoạn lịch sử về ngôi chùa Quan Âm, với bao tình cảm, sự mến mộ và lòng tôn kính. Những trang viết về con người, cảnh quan hay sự việc diễn ra trên vùng đất tâm linh Ngũ Hành Sơn của các tác giả luôn giàu các chi tiết đắt giá, ám ảnh, có sức lôi cuốn sự tò mò của người đọc. Dưới ngòi bút của các thi nhân, Ngũ Hành Sơn, chùa Quan Âm hiện ra thật lung linh, rạng rỡ:

“Bước qua sông là trời xanh

Ngũ hành Non Nước long lanh mây trời

Chùa xưa bến cũ à ơi

Lời ru của mẹ diệu vời Quan Âm” (Vàng trăng Non Nước - Nguyễn Quang).

Hay: “Em hiện ra áo Lam chiều phai nhạt

Kinh nhiệm màu bí ẩn giữa môi thơm

Chợt nghe gió rung cây từng tiếng lạ

Mơ hồ thôi sao nặng trĩu linh hồn” (Bãi Bụt - Nguyễn Nhã Tiên)

Tôi thấy lý thú khi tất cả các danh lam, thắng cảnh ở Ngũ Hành Sơn, ở chùa Quan Thế Âm đều được các thi nhân nhắc tới với tất cả tình cảm chân thành, một tinh yêu cháy bỏng với nhiều góc độ quan sát khác nhau. Cũng những núi đá trong quần thể Ngũ Hành Sơn, cũng một ngôi chùa Quan Thế Âm tĩnh lặng, nhưng có thi nhân yêu nơi này vào mùa xuân, khi con sông Cổ Cò lững lờ trôi xuôi với những làn mưa xuân ấm áp. Có thi nhân yêu nơi nay vào mùa hạ với những trận mưa xối xả trong tiếng sấm rền vang. Lại có thi nhân yêu nơi này vào mua thu với heo may dào dạt trong gió ấm, lại có thi nhân yêu nơi này vào mùa đông với hiu hắt gió và những làn mưa bụi giăng giăng trên mái chùa:

Hãy là ngọn gió ru mùa xuân hương ngát

Mang yêu thương về với bao người

Hãy là hạt bùn đen nuôi cây đời hoa trái

Dẫu ngàn lần cay đắn sót xa đau” (Một tấm lòng - Nguyễn Đức Bá)

Hay: “Mùa phượng thả giọt nắng vàng đi qua

Tiến ve còn lại

Bâng khuâng bao đêm trăn trở

Thấy mình trôi nổi như mây” (Điểm danh - Dương Đăng Lợi).

Trong những bài thơ viết về Ngũ Hành Sơn, về chùa Quan Thế Âm, các tác giả còn thể hiện rõ sự ngưỡng mộ, sự tôn kính với các nhà sư:

Ngài Thái Huyền viết vần thơ

Qua bao thế hệ bên bờ tử sanh

Từng trang viết, từng ngọn ngành

Hiện lên muôn diệu, kết thành đài sen” (Tình Non Nước - Ông Kẹ).

Hoặc: “Tưởng bóng người xưa thoáng bên thềm

Mây vương vách núi khói chiều lên

Giọng cười sấm chẻ rền sông vắng

Vạt áo nâu xa quyện song dềnh” (Cuối năm về chùa Quan Thế Âm - Trần Phương Kỳ).

Hay: “Tri ân Đức phật Di Đà

Cho con thấm lẽ ta bà huyễn vi

Quan Âm Bồ tát Từ bi

Giúp con tỏ rõ đường đi, nẻo về” (Đường về cõi tịnh - Nguyễn Xuân Hoàng).

Bên cạnh niềm vui, nỗi buồn mang tính riêng tư, các thi nhân cũng luôn mang trong lòng những trăn trở, dằn vặt trước nỗi đau chung của phận người, để rồi viết ra những câu thơ mang đầy tính triết luận:

“Cuộc đời không có nỗi buồn, niềm vui mất đi ý nghĩa

Có nỗi buồn xa xăm, nỗi buồn vô cớ

Có nỗi buồn có tên, nỗi buồn không gọi thành tên

Có nỗi buồn cô đơn, có nỗi buồn mất mát” (Xin nhận những nỗi buồn - Lê Anh Dũng)

Hay: “Chúng tôi không cúi đầu trước nhau

Mà cúi đầu trước chữ

Trước tinh thần chữ trước hồn chữ hiện lên” (Thư Pháp - Nguyễn Nho Khiêm).

Hoặc: Muốn dâng đời một sắc hoa

Cũng qua gió dập mưa sa, bão bùng

Gần chưa? Mà cách muôn trùng

Mà ưu tư trải một vùng đớn đau (Khổ một đời mê đắm - Bùi Minh Vũ).

Thông thường, với dòng thơ thiền người ta hay vận dụng ngôn ngữ Phật học để nói về thiền, nói về sự an nhiên tự tại. Nhưng trong “Diệu Âm”, cảnh giới của thơ thiền dù không dùng quá nhiều đến ngôn ngữ thiền, không phải vận dụng thuật ngữ của Phật giáo nhưng hình ảnh trong thơ vẫn có chiều sâu của sự tỉnh thức. Ở đây, các nhà thơ viết bởi sự trải nghiệm, bằng sự lắng đọng qua những thăng trầm. Chất thiền đó là một hành trình chắt lọc cay đắng, ngọt bùi của kiếp nhân sinh mà các thi nhân đã sống và nghiền ngẫm. Nên dù là sỏi đá, cây cỏ vô tri cũng mang hương vị thiền trong đó:

“Giữa trưa đứng bóng

Người ấy nhìn thẳng vào mặt trời bằng đôi mắt thịt

Nhìn như thế đến cuối chiều, mắt vẫn sáng như thường

Ngược lại, mặt trời không chịu nổi

Phải tắt nắng và rụng xuống hoàng hôn” (Người chuyển hóa thời gian - Trần Phá Nhạc).

Rồi: “Ai về chốn cũ lòng hưu quạnh

Mắt nhìn ngơ ngác những vườn xanh

Rạ rơm vương mái đình rêu cũ

Mà nghe ly biệt chốn kinh thành” (Nghe Lũ lụt quê nhà - Mai Hữu Phước).

Hay: “Gió lùa khóm trúc reo như ngọc

Ánh nắng nghiêng nghiêng quyện gió lùa

Bóng của nhà sư ngồi bất động

Nghe từng hơi thở cổ gầy xưa” (Độc ẩm chiều mưa - Thích Như Giai)

Hoặc: “Tưởng bóng người xưa thoáng bên thềm

Mây vương vách núi khói chiều lên

Giọng cười sấm chẻ rền sông vắng

Vạt áo nâu xa quyện song dềnh” (Cuối năm về chùa Quan Thế Âm - Trần Phương Kỳ).

Rồi nữa: “Ai về chốn cũ lòng hưu quạnh

Mắt nhìn ngơ ngác những vườn xanh

Rạ rơm vương mái đình rêu cũ

Mà nghe ly biệt chốn kinh thành” (Nghe Lũ lụt quê nhà - Mai Hữu Phước).

Rồi : “Bão lũ tràn qua lệ xót rơi

Kịp thời cứu giúp khắp muôn nơi

Từ bi hành động không ngừng nghỉ

Sưởi ấm tình người giữa đất trời”. (Tổng kết năm - Thái Huyền)

Dường như tất cả cảnh quan, con người, sự việc diễn ra trên mảnh đất Ngũ Hành Sơn, trên chùa Quan Thế Âm đều được các thi nhân nâng lên tầm nghệ thuật, mang theo bao trăn trở, nghĩ suy. Thiết nghĩ, đó là minh chứng cho sức mạnh của văn chương viết về những điều bình dị, về những phạm trù phật giáo. “Diệu Âm” muốn gửi tới người đọc một thông điệp rằng, ký ức không chỉ để hoài niệm, mà để nhìn lại, để thấu hiểu, và để nhắc nhở con người hiện đại sống tử tế hơn, biết ơn hơn với những gì đã nuôi lớn ta. Những bài viết trong “Diệu Âm”, dẫu không ồn ào, thời thượng, vẫn đủ sức làm lặng lòng người đọc giữa thời buổi mà cảm xúc thật ngày càng khan hiếm.

Tuy khác nhau về đề tài và bối cảnh, nhưng mỗi bài viết trong “Diệu Âm” đều có cùng một mạch cảm xúc chung – đó là nỗi niềm hoài cổ, sự trăn trở về những giá trị xưa cũ đang dần mai một, và tâm thế chiêm nghiệm sâu sắc của một con người từng trải qua nhiều thăng trầm cuộc sống. Các bài viết đều mang đậm phong cách tự sự, lắng đọng, giàu suy tưởng. Mỗi bài viết trong “Diệu Âm” là một lát cắt về cuộc sống chân thực, dung dị mà đầy chiều sâu, mang tính nhân bản sâu xa.

“Diệu Âm” không chỉ là một tập sách mà là một hành trình trở về ký ức.Trong nhịp sống hiện đại ngày càng gấp gáp, giữa muôn vàn sự đổi thay, đôi khi con người ta lại chợt thèm một chút dư vị xưa cũ, tĩnh lặng nơi cửa phật.

Thước đo giá trị của “Diệu Âm” chính là sự bình dị của ngôn từ và sự chân thành của cảm xúc. Giữa muôn vàn phồn tạp của cuộc sống, “Diệu Âm” như hướng con người đến việc giữ trách nhiệm sống, luôn trăn trở, thao thức và trân trọng những tinh hoa của văn hóa dân tộc. Nó cho thấy khát vọng rất nhân văn: giữ lại bản sắc, tình người và sự tử tế giữa một xã hội đang dần thay đổi, và đặt ra câu hỏi lớn: liệu chúng ta có đang đánh mất những hương vị tinh thần của đời sống? Đây cũng chính là cái được của “Diệu Âm”: Không áp đặt, không giảng giải, mà để người đọc tự cảm, tự nghĩ, tự đối thoại với chính mình./.

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương khám bệnh miễn phí hưởng ứng ngày Sức khỏe Toàn dân

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương khám bệnh miễn phí hưởng ứng ngày Sức khỏe Toàn dân

Baovannghe.vn- Hưởng ứng ngày Sức khỏe Toàn dân, sáng 5/4, tại 58 điểm khám sức khỏe thuộc 64 phường, xã tại TP.HCM đã đồng loạt tổ chức khám, sàng lọc bệnh lý chuyên khoa cho hàng chục nghìn người dân.
Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Baovannghe.vn - Văn nghệ điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính: "Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng".
Đề xuất bổ sung MTTQ Việt Nam và các đoàn thể Trung ương vào diện thí điểm luật sư công

Đề xuất bổ sung MTTQ Việt Nam và các đoàn thể Trung ương vào diện thí điểm luật sư công

Baovannghe.vn - Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm chế định luật sư công đang chọn phạm vi áp dụng tại 8 bộ và UBND 10 tỉnh, thành phố trong thời gian từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028. Cách thiết kế này là thận trọng, nhưng nếu chỉ giới hạn trong khối hành pháp thì có thể chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu pháp lý của toàn bộ hệ thống chính trị.
Con gái người lính - Thơ Châu La Việt

Con gái người lính - Thơ Châu La Việt

Baovannghe.vn - Lính đảo xa gọi em là "Người không ngại sóng"/ Cấp chín cuồng phong vẫn rạng rỡ môi cười/ Tôi chỉ xin gọi em là người con gái/ Con gái một người lính - thế thôi!
Sao rãnh nước trong veo. Truyện ngắn của Võ Thu Hương

Sao rãnh nước trong veo. Truyện ngắn của Võ Thu Hương

Baovannghe.vn - Cơn mưa thật to và kéo dài tối qua bỗng tạo ra một rãnh nước bên hông nhà Lim. Hai chú cá nhỏ ham chơi mắc lại ở đó.