Anh hãy đọc sẽ biết. Hữu Thỉnh gọi điện, danh sách đã khóa, tổ chức đã chốt, nhưng trường hợp này không thể không mời. Giấy mời đến tay, đích thân chủ tịch hội văn nghệ tỉnh cùng đôi người đến nhà báo tin và giúp làm các thủ tục cần thiết. Nhưng Thúy bỏ lỡ cơ hội, không đi được.
|
Chừng nửa năm tạp chí Văn nghệ Quân đội mở trại viết, Thúy tham gia. Từ đó Thúy xuất hiện đều đều trên Văn nghệ Quân đội, Văn Nghệ Trẻ… Thành phố như một giấc mơ đi cùng với những bài thơ đầu tiên ra đời: “thành phố nằm nghe đêm hát lời tự tình bên ngực trái/ cậu bé có đôi mắt sâu thẳm lang thang mang nỗi nhớ ngơ ngác vào đời/ vén bờ môi, thành phố bồng bềnh trôi/ dòng sông vẫn chảy, đôi cánh thuyền lạc ở phía khơi xa/ không người dẫn hướng/ những con sóng dập dềnh/ cạn/ vơi…/ thành phố nối những chuyến đi hờ hững và khôn nguôi/ nắng cháy rồi đêm tóc bạc/ thành phố hát cho đất, cho cây, cho bầu trời cho mỗi đôi chân/ duy nhất một bài ca rực khát/ đen đúa/ những nét cười/ trần trụi”… Tên bài thơ báo hiệu cái gì đó rất lạ, không như các bài thơ thường thấy. Cốt lõi của hiện đại xuất hiện ngay những bài thơ đầu tiên, khác những bài thơ mà chúng ta hay gặp: nhặt lên từ buổi sáng/ tấm toan trắng được căng sẵn/ trong ngăn kéo những tuýp màu sụp đổ/ và cây cọ cong queo/ được mở khóa bằng trí nhớ.
Tôi nghĩ già hay trẻ không tính theo nhịp sinh học. Người trẻ có khi cảm xúc chín chắn, đi trước những điều mà các cây bút lâu năm nhiều khi không có được. Thúy bảo thôi thì cứ viết còn thơ là cái của thơ, giống như “nhặt lên con đường đất sét trong bàn tay/ người thợ gốm/ tôi bỏ vào bức tranh đang vẽ dở” (bức tranh vẽ dở). Tính riêng lẻ đã định hình trong mỗi bước đi của Thúy. Các bài thơ gửi đến người đọc một thông điệp duy mĩ, cấu trúc mới mẻ, giàu suy tư không giống ai. Tâm hồn và tư tưởng tác giả ẩn trong ngôn ngữ hình ảnh làm nên chính bài thơ.
Mỗi bài thơ cũng là “bức tranh thì thầm với nhau bằng ngôn ngữ nguệch ngoạc/ cái bóng của chiếc ghế trượt hẳn ra mép cửa/ tới nơi có nguồn sáng/ từng đường nét bị xé đi rồi” (hêy, rốt cuộc thì). Thúy làm chúng ta hồi hộp qua từng hình ảnh, biểu cảm, có cái gì đó vừa chênh vênh vừa vững chãi. Bài thơ nào cũng ở cái thế không đứng yên, luôn ở trạng thái chuyển động kiểu bức tranh mới phác thảo xong đã xóa đi rồi vẽ lại cho tới khi nào định hình được mới thôi: ngôi nhà cài chùm hoa giấy/ tím trên mái ngói/ bốn ô cửa sắt hay người đàn bà ngồi chải tóc bằng mưa/ …/ quán cà phê lạ thừa một chỗ trống/ ta quen ta trọn kiếp trong hình hài rỗng (từ một chỗ trống).
Nếu tìm một nghĩa nào đó trong mấy câu thơ trên thật vô ích. Nhưng đọc lên cứ bâng khuâng. Hình ảnh quán cà phê thừa một chỗ trống, ám ảnh nỗi đơn chiếc của người đàn bà. Từ “hay” xuất hiện tưởng như thừa trong câu thơ, nhưng không phải, đó là phép so sánh. Cánh cửa sắt (khô khan) đã khóa người đàn bà? Chỗ trống càng thêm trống khi “trọn kiếp trong hình hài rỗng”. Thơ giãi bày cái cần giãi bày, thuyết phục được người nghe. Đọc Thúy, hiểu thêm tâm lý con người ta ai cũng khát khao mơ mộng. Nhưng giới tính, hoàn cảnh buộc người phụ nữ không thể vượt qua chính mình.
Thúy là Thúy, nhiều lúc ngơ ngác như cánh chim bay lạc vào thế giới thi ca. Thơ tự nhiên, giọng điệu không trau chuốt. Thấy gì nói nấy. Lơ ngơ. Tưởng chừng chẳng biết sắp xếp sao cho câu thơ chỉnh chu nằm đúng vị trí trong bài: “Em thấy một dãy sợi xích đang tróc vảy/ quanh cổ những con thuyền là vết xước copy từ đôi mắt buồn/ ngôi nhà chúng ta mặc chồng thêm lớp áo trái cà/ buổi chiều em không đoán được mặt trời ngủ ở đâu?/ rừng hôm qua cháy trên tivi/ sáng nay, giữa trang báo in hình ‘biển chết’/ hàng trăm cánh buồm kề vai nhau lãng đãng soi bóng dài câm nín” (buổi chiều, không buổi chiều đôi lứa).
Ấy là thơ của một tâm hồn trong veo trước biến cố. Vùng biển bị ô nhiễm. Tâm hồn ấy sớm đau nỗi đau thời cuộc khi nhìn thấy vệt biển kéo dài bị bức tử: “không có con sâu nào hết/ hai cột đèn đường đã kịp thỏa hiệp với chiêm bao/ anh à,/ em trở về mang theo buổi chiều không buổi chiều đôi lứa/ mang theo dấu vết đôi mắt buồn giấu trong ngực chiếc thuyền thủy tinh”. Thúy không làm thơ theo kiểu làm thơ. Thúy viết tự lòng mình. Viết cho nỗi vui buồn của một thân phận đang quăng quật với những bước đi đầu tiên trên con đường văn học và cuộc sống mà mình đã dấn thân. Nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng, thực ra không phải cái gì đó xa lạ. Thơ không chối bỏ hiện thực mình đang trải và dấn thân. Nhưng nghệ thuật có cách nhìn và mê lộ của nó. Tắm mình trong cuộc sống, nghệ thuật tạo nên bức tranh khác với cuộc sống. Có thế cuộc sống mới phát triển ngày một cao hơn đẹp hơn chính nó.
Chức năng cứu rỗi của thơ là thế. Thúy làm điều đó bằng cách tạo cho mình một tình yêu nhất quán không cầu kỳ, câu nệ gì cả. Thơ Thúy gần gũi như cơm ăn nước uống, khí thở hàng ngày. Viết vừa là nhu cầu của ký ức bên trong ghi găm bao kỷ niệm vừa là cái để chia sẻ với cộng đồng quanh mình. Vì vậy tất cả những bài ấy được cất lên bởi trái tim chân thành và đam mê. Thật khó để tìm ra những gì to tát, kiểu tráng ca nơi Thúy. Thúy hiển lộ cái thường thấy. Đó là cái lung linh đạt tới sáng tạo nghệ thuật. Nó không phải là nó, nhưng chính nó.
Nhập vào thế giới hiện tại khi Thúy là cây bút đang còn trẻ (sinh năm 1992). Những bức bách trước mưu sinh của cuộc sống là nền tảng giúp Thúy có cái nhìn chững chạc. 39 bài thơ trong tập được chia làm ba phần: họa tiết nỗi buồn, buổi sáng bình phương gió, ngược vào bên trong là 39 bông hoa thanh bạch nói với độc giả thơ vẫn đứng đây, trên đôi chân người làm ra để tạo lập cái đẹp, dâng cho đời mùi hương riêng có trong vườn thơ ca.
Đọc Thúy khó có thể so sánh với ai. Cái độc lập ấy là chỗ đứng trong khởi nghiệp. Văn chương phủ nhận các trò chơi tập thể, bắt chước nhau. Văn chương càng cá nhân bao nhiêu thì làm giàu cho vốn liếng văn hóa con người cao lên bấy nhiêu. Hoàng Thúy làm được điều ấy: “một mảnh thời gian đang rơi/ từ vết sẹo dưới ngực/ chiếc kim đồng hồ nhỏ xíu biến mất thật/ em nghe được lời bài hát từ bên kia cánh cửa/ ai đó quên gài” (thời gian đang rơi); “đứng nơi này nhìn ra/ thành phố bên kia sông chỉ còn thấy những căn nhà mái nghiêng/ một ô cửa rất trống trôi theo cùng tiếng vọng/ sẽ bùi ngùi nhận ra trong hẻm ngực kỉ niệm/ khói thời gian đổ lênh láng khắp người/ rồi triệu hạt mưa tạt vào khoảng giữa của bóng tối/ phần đầu tiên của chiếc cầu làm bằng ánh sáng mọc lên/ một cái tên bị cắt giảm bởi sóng/ & muối/ lẻn vào từng sợi tóc để tan thêm” (chợt nghĩ về cô đơn).
Ý nghĩ ấy chống lại sự khép kín nhàm mòn của thơ viết theo lối cũ, thiết lập cho Thúy cách nhìn, nghĩ, cảm khác biệt. Thúy là gương mặt nữ quyền dấn thân vào con đường đã chọn với trái tim nồng nhiệt. Sự hư cấu, trí tưởng tượng của Thúy không nhằm thỏa thuận với thực tại. Người đọc bằng lòng hay không là một chuyện, còn thơ là chuyện khác. Có khi những biểu đạt tưởng như phi lý, lại mang một triết lý khác.
Các bài thơ “gia tài dưới ngực”, “treo vào đêm tháng bảy”, “một bài thơ vô lý”, “tháng hai lạnh và bản phác thảo thô”, hay ở những bài “không tên phút 59”, “buổi sáng bình phương gió”, “ngọn lửa nói tiếng tự do”, “mùa đông dậy thì trong im lặng”, “đêm của ngọn đèn thiếu ngủ” có chung một mẫu số ngôn ngữ biểu trưng mơ hồ. Đan cài giữa hội họa và thơ là phương cách của Thúy. Có lúc thơ là bức tranh siêu thực “sau giấc ngủ vuông/ mặt trời vàng giữa ngày sắp hết/ cưỡi trên lưng mùi thơm khô/ chiếc lá hóa thân thành thủ lĩnh vương quốc Gió”. Có khi bức tranh trừu tượng hóa bài thơ chưa viết: “em tin vào những viên đá dưới chân hơn bất cứ lợi danh nào/ ngọn lửa nói tiếng tự do” (ngọn lửa nói tiếng tự do).
Không có câu thơ hoa mỹ ở nơi Thúy. Thúy lập một giọng điệu bản năng tự nhiên. Hơn hết, hãy để các bài thơ tự nói điều cần nói lúc này. Và có lẽ vì thế mà người đọc yêu thích đón nhận, đó là thành công đáng quý của nhà thơ trẻ này.