![]() |
| Minh họa Ngô Xuân Khôi |
Họ được đưa về cù lao sinh sống. Cuối năm ngoái, Lâm Sơn theo đoàn công tác của Lục Hai về đây đào mương, lên đê bao, dựng nhà tạm bằng cây bương và lá dừa nước, giường nằm cũng chôn bốn cọc bương, rải cây bương lên tạm bợ, chuẩn bị đón dân Campuchia. Những người tị nạn được chính quyền địa phương cấp cho sáu tháng gạo ăn, dụng cụ lao động như leng, phảng…
Dáng người thấp đậm của Lâm Sơn bước lò dò theo dọc bờ rạch. Hắn bận nguyên chiếc quần xà lỏn, phơi nước da nâu bóng và cái đầu tóc xoăn lấm tấm mồ hôi. Hai tay nâng tấm lưới chài, một nửa vòng chì vắt trên khuỷu tay trái, một nửa thu gọn trong bàn tay phải. Đôi mắt sâu và sáng, quét dọc sát bờ rạch. Nước đứng đã lâu, rục rịch chuyển sang nước ròng, có thể nhìn thấy đám bọt bong bóng nước đùn lên từ chỗ lũ cá đối kiếm ăn. Lâm Sơn đứng lại, nghiêng người chuẩn bị. Thoáng thấy bóng người dưới mặt nước, lũ cá đối lập tức quay đầu phóng đi. Lâm Sơn nhìn rõ những vạch nước lao vun vút ra giữa dòng, khéo léo tung tấm chài đón đầu, để một lát rồi thong thả thu lưới. Có những tiếng rung động truyền theo dây chài, lên bàn tay. Vô rồi! Dưới nước lũ cá đối đang cuống cuồng vùng vẫy tìm lối thoát. Tấm lưới được kéo lên bờ, phía trên mắc ngang đám cá chốt nhỏ bằng ngón tay. Tụi này đem kho tiêu ăn cũng đưa cơm, mà gỡ chúng ra khỏi lưới rất mệt. Ba cái ngạnh tua tủa răng cưa mắc vô lưới thì vô phương gỡ, có nước dùng tay bẻ gãy ngạnh mà lấy cá ra. Lâm Sơn không chú ý vụ cá chốt, mà nhìn vô mấy con cá đối lấp lóa vảy trắng, nằm chịu trận dưới đáy chài. Bảy con cá đối với gần hai chục cá chốt. Đủ một nồi kho. Lâm Sơn vắt tấm lưới lên vai, đi về. Qua bến nước, nơi có chiếc thang gỗ dài bắc từ bờ xuống lòng rạch, anh thấy bà Hai liệu đang u ơ chửi lũ con nít. Chửi không được, bà chắp tay vái tụi nó, tha cho tao còn câu cá kiếm bữa ăn. Chiếc cần câu vừa cầm lên tay, tụi nhỏ la:
- Thả xuống!
Bà Hai liệu miệng nói theo:
- Thả xuống!
Rồi lật đật thả lưỡi câu xuống nước. Vừa lúc tụi nhỏ lại hét lên:
- Giựt!
Bà Hai liệu giựt cần câu lên, miệng cũng hô:
- Giựt!
Mông bà trượt khỏi khúc củi kê làm ghế, rớt cái ạch, lấm lem bùn đất. Ba thằng quỷ sứ chừng mười tuổi, nhảy cà tưng, hò reo. Lâm Sơn nhìn cảnh đó, biết tụi nhỏ phá không cho bà Hai câu cá. Trời hành bà Hai có bệnh “liệu”, cái bệnh nghe ai biểu gì làm nấy. Đàn ông bị bệnh đã khổ, huống chi phụ nữ.
- Lũ quỷ kia! Sao phá bà già hoài vậy?
- Ai biểu bả câu hết cá đối của tụi con!
- Zô! Chim trời cá nước mà, ai bắt được nấy ăn chớ! Mấy đứa còn phá nữa, tao uýnh…!
Ba cặp chân lấm láp, guồng chạy lên bờ bao, tiếng cười như thủy tinh bể. Có ba người phụ nữ xách thùng nhựa đi ra phía rạch.
- Tâu na?
Lâm Sơn hỏi. Cô gái đi đầu chỉ xuống rạch, cười nói:
- Tâu lênh!
Hừ! Đi bắt cá thì nói đi bắt cá, bày đặt nói đi chơi!
Ba người đó ở trong xóm tị nạn, có mười sáu hộ với hơn năm chục nhân khẩu, đều là người Campuchia, chạy nạn diệt chủng của chính quyền Pol Pot sang Việt Nam. Họ được đưa về cù lao sinh sống. Cuối năm ngoái, Lâm Sơn theo đoàn công tác của Lục Hai về đây đào mương, lên đê bao, dựng nhà tạm bằng cây bương và lá dừa nước, giường nằm cũng chôn bốn cọc bương, rải cây bương lên tạm bợ, chuẩn bị đón dân Campuchia. Những người tị nạn được chính quyền địa phương cấp cho sáu tháng gạo ăn, dụng cụ lao động như leng, phảng… Trong sáu tháng đó, họ có gạo ăn, rồi khai phá ruộng rẫy, trồng lúa. Đồ ăn thì đầy nhóc dưới kênh, rạch, chỉ cần xách thùng đi một lát là kiếm được mấy con cua, dăm con cá thòi lòi, còn cá kèo, ba khía thì một trời. Ai siêng, chờ nước ròng, lội xuống rạch mò bắt tôm, cá ngát. Phần nhiều, bà con ưa chài lưới, câu bắt cá đối. Mà sao ông trời thương người ta, cho con rạch Sáu Hẩm rất nhiều cá đối, nên mới có tên Sóc cá đối, từ khi dân tị nạn về đây. Không riêng gì người Khmer bên kia biên giới chạy sang, cũng có mấy chục người Việt bên An Giang chạy qua, tránh súng đạn Pol Pot, toàn người già, trung niên và con nít. Mấy người này cũng được hưởng chế độ hỗ trợ như người Campuchia, cũng lao động tự kiếm sống, nhưng cách sinh hoạt ồn ào, phóng khoáng hơn.
Lục Hai năm mươi hai tuổi, da đỏ hườm, mái tóc bạc như cước, là người phụ trách nông trường Sóc cá đối. Ông có tên thiệt là Trầm Kim Hai, một người Việt gốc Khmer. Trong kháng chiến chống Mỹ, Lục Hai công tác trong ban Khmer vận, nên giờ được tin tưởng trao cho trọng trách quản lý, điều hành nông trường. “Một mớ lộn xộn xà bần” như ông thường than. Bữa nay cũng vậy, vừa ra khỏi căn nhà gỗ lợp tôn nhỏ duy nhất, là nơi làm việc của Ban chỉ huy nông trường, thì dưới khu người Việt có tiếng chửi lộn ầm ĩ.
- Mầy chạy xuống coi vụ gì Lâm Sơn!
Lục Hai hối.
Vừa dạ dứt miệng, chân Lâm Sơn đã chạy tới dãy nhà cuối đê bao. Anh Ba vồ mặt mũi sừng sừng men rượu, đang vung tay chửi lộn với bà Tư cơm cháy:
- Con đĩ ngựa! Có tin là tao ném mầy xuống sông không?
Người đàn bà nhỏ thó, mặt nhăn nheo khó đoán tuổi, xỉa xói vô mặt Ba vồ:
- Má mầy! Có ngon thì nhào vô! Tao đi xin cơm cháy ăn, chớ xin xương cốt tía mầy sao, mà đuổi tao như đuổi chó vậy?
- Ừa! Chó già làm biếng! Ráng mần kiếm gạo mà ăn, chớ bữa nào cũng tới nhà người ta xin cơm cháy là sao?
Bà Tư sống một mình, nên được sao hay vậy. Vì không chịu lao động, nên bà thiếu cơm dài dài. Tới bữa, bà thường ghé bất tử nhà ai đó.
- Còn cơm cháy cho xin miếng coi!
Cơm nấu bếp củi, nồi nào không có cháy. Không lẽ còn miếng cơm cháy đáy nồi mà nỡ không cho. Bà Tư sáp vô, nạy vầng cơm cháy, xin thêm chút mắm bò hóc hay kho quẹt, ngồi nhai ngon lành. Bữa no, bữa đói, cũng do nồi cơm cháy bữa đó nhiều hay ít. Riết rồi bà Tư có cái tên “Tư cơm cháy”. Bà không thấy phiền, mà còn thích cái tên đó, mặc nhiên tới nhà ai là bước tới dòm đáy nồi, xem chừng cơm cháy còn không, nạy một miếng chà bá, ăn ngon lành. Bữa nay, xui xẻo bà Tư vô nhằm nhà Ba vồ, chả đi nhậu mút mùa lệ thủy, trưa trật mới về. Con vợ ghét, cạo sạch nồi cơm không chừa một hột. Đang chửi vợ, Ba vồ thấy bà Tư thò cái mặt choắt vô xin cơm cháy. Vậy là chửi lộn.
Lâm Sơn vừa xử xong vụ bà Tư cơm cháy, hỉ hả quay về. Tới đầu xóm thì đụng Sáu cụt quậy bà Hai liệu. Thằng chả chắc cũng mới nhậu xong, ở trần khoe con đàn bà trần truồng xăm trước ngực. Bà Hai liệu câu được mớ cá, về tới cửa lán thì gặp Sáu cụt. Cánh phải cụt mất bàn tay, chỉ còn cái cẳng loi choi thọc vô bụng bà già.
- Ô em Hai! Câu được nhiều cá hông?
Bà Hai lắc đầu. Sáu cụt sáp vô, nhún nhảy:
- Nhảy chút cho vui đi Hai! Sáng ăn cơm sườn, chiều ăn nước tương. Chủ nhật em đái hai lần. Chát xình! Chát xình xình! Vô!
Bà Hai liệu buông cần câu, miệng hét:
- Vô!
Rồi cũng rậm rựt nhảy theo Sáu cụt. Thằng đàn ông trung niên đang sung sức, lại có chút men, nên nó nhảy tưng bừng. Bà Hai liệu gần sáu mươi tuổi, người ốm tong teo, lại đang đói bụng, chịu gì nổi. Bà vừa nhảy vừa năn nỉ:
- Mầy tha cho tao đi Sáu! Chắc tao xỉu quá!
Sáu cụt cười hô hố, càng nhảy hung hơn. Cẳng tay cụt khua khoắng thấy ghét. Khi bà Hai mệt quá, phải vịn vô cái cột lán, bỗng Sáu cụt la lên:
- Đứa nào vậy? Thả tao ra!
Lâm Sơn đã đứng phía sau, ôm ghì hai tay Sáu cụt:
- Đủ rồi nghe anh Sáu! Bà Hai sắp xỉu đó!
- Má mầy nhen Sơn! Mầy biết tao là bộ đội đặc công mà!
Tiếng Lục Hai trầm đục:
- Kêu tổ bảo vệ, lôi nó lên nhà chỉ huy, trói lại! Đặc công gì thứ đó!
Ông tới phía sau, theo dõi vụ việc từ lúc nào và ra quyết định đúng lúc.
Sáu cụt bị trói vô cột nhà, vừa vùng vẫy, vừa chửi. Từ ngày trôi dạt về đây, Sáu cụt một thân, một mình, không vợ con. Gã lúc nào cũng khoe là thương binh, là lính đặc công, nhưng không có giấy tờ gì chứng minh. Ban chỉ huy nông trường xếp gã ở cùng xóm với dân chạy nạn. Sáu cụt như một thứ công thần ảo, mặc sức hù dọa bà con, tới bữa nay thì bị Lục Hai ra tay trừng trị.
Những người Khmer tị nạn đã bắt đầu lao động, sau hai tháng nghỉ ngơi. Lâm Sơn dẫn họ ra phía rừng đã đắp đê bao, đào kênh xả phèn, phát hoang lấy đất trồng lúa. Những cây bần, đước trước đó đã được đốn xuống, cưa thành củi xếp gọn gàng trên bờ rạch. Những bãi hoang chằng chịt dây mắm, đước, ô rô, cóc kèn cần được phát quang, tạo thành từng công đất màu mỡ. Lâm Sơn đóng một chiếc thước hình chữ A để đo đất. Lội lõm bõm giữa sình lầy, mắt dõi theo những tấm thân trần nâu bóng, lòng đầy cảm thương. Họ đã thoát được chết chóc, đày đọa và đang tự mình tạo dựng cuộc sống mới. Những lưỡi phảng sáng loáng vung lên, những chiếc cù nèo hối hả móc, kéo. Có vài tổ kiến vàng bị chém bể, hàng vạn con kiến túa ra, bu kín trên lưng trần, cắn điên loạn. Mấy người đàn ông lao xuống rạch, nhờ nước cuốn trôi bầy kiến hung dữ, xong rồi leo lên, vung phảng làm tiếp. Khi những cây nọc cắm xuống bùn, mở lối cho cây lúa bám rễ, nụ cười an nhiên đã tỏa sáng trên các khuôn mặt sạm đen, khắc khổ. Hai khu nhà cách biệt giữa người Campuchia tị nạn và người Việt tản cư đã xích gần lại với nhau. Một bà già Khmer sõi tiếng Việt, ngồi tám chuyện với nhóm bà Tư cơm cháy.
- Tụi Ăng ca ác lắm, đập đầu giết người như giết gà. Mỗi ngày nó cho ăn hai chén cháo thôi, mà bắt làm muốn chết!
Là bà kể về tội ác của chế độ Khmer đỏ, diệt chủng. Bà Tư cơm cháy nhổ nước quết trầu, chửi thề:
- Đ.m! Tụi nó càn qua đây cũng vậy! Ác hơn thú dữ. Báo hại tụi tui bỏ nhà cửa, chạy tuốt xuống đây! Thôi ở lại đây cho vui, về bển làm chi!
Bà già gật đầu, nhưng ánh mắt đục lờ nhìn xa xăm.
Lâm Sơn lại vắt lưới trên tay, lò dò dọc bờ kênh. Tiếng cười con gái phía sau làm cậu phân tâm, ném chài trễ một chút. Lũ cá đối rẽ nước chạy ra xa. Lưới kéo lên, chỉ có mấy con cá chốt và con rắn nước.
- Côn ây? Côn ây? (Con gì?)
Lâm Sơn nhìn lên, thấy hai cô gái da ngăm đen, giống nhau như đúc. Một cô chỉ tay vô con rắn, hỏi. Chắc cổ muốn hỏi tiếng Việt, đây là con gì. Lâm Sơn túm cổ con rắn, giơ lên:
- Con rắn! Rắn nước.
Hai cô gái sợ hãi lùi lại, miệng nói theo:
- Con răng! Pu tức!
Mấy bữa sau, khi theo Lục Hai xuống thăm xóm người Campuchia, Lâm Sơn mới biết đó là Solima và Solimê, chị em sinh đôi. Lục Hai cười nói oang oang, động viên những người tị nạn:
- Bà con qua tới đây là an toàn rồi! Ráng làm ăn, đừng lo sợ chi hết!
Bà mẹ của hai cô gái song sinh chắp tay, cúi đầu, luôn miệng:
- Khnhâm đâng! Khnhâm đâng! (Con biết rồi ạ!)
Cô chị Solima nhìn Lâm Sơn, nụ cười ướt át. Lâm Sơn gật đầu, không dám nói chi. Lục Hai đập lên vai Lâm Sơn:
- Muốn vợ hả? Thích đứa nào? Tao cưới cho!
Ông quay sang phía bà già, nói một tràng tiếng Khmer. Hai cô gái bưng mặt cười khúc khích.
Một buổi chiều, mặt trời trốn vô đám mây đen rầm, làm dịu đi cái nóng hầm hập. Bất chợt luồng gió mát lạnh thổi qua Sóc Cá Đối. Trời sắp mưa rồi. Lâm Sơn vội bắt con gà nòi, nhốt lại.
- Mầy ở yên trong chuồng, đừng xớn xác chạy xuống rạch là chết nhen con!
Con gà vươn cái cần cổ trụi lông, đỏ au, miệng cục cục đáp lời.
Bỗng Lâm Sơn nghe tiếng kêu cứu vang trời từ khu lán người Việt.
- Bớ người ta! Cứu với!
Lâm Sơn không chờ lệnh Lục Hai, liền chạy gấp xuống. Đằng sau anh, mấy người đàn ông từ khu lán Khmer cũng hấp tấp chạy theo. Người ta xúm đông đen trước lán nhà má con bà Bảy Sài Gòn. Bà Bảy cùng cô con gái chừng mười tám, mở quán bán cà phê cho cư dân nơi đây. Hằng tuần, cô con gái phải ngồi đò khách cả buổi, sang tuốt bên Ngan Rô mua cà phê và đường về. Hai má con sống khỏe, nhờ những đồng tiền lẻ của người trong Sóc Cá Đối. Bữa nay cô con gái tự dưng làm siêng, lội ra bãi bắt được mớ còng, hái đọt cây mắm về giã nấu canh chua với trái bần. Món canh nuốt khỏi họng một lúc, thì con gái bà Bảy ôm bụng kêu la, rồi ói ra mật xanh, mật vàng. Bà Bảy cuống quýt vỗ lên lưng con gái, pha nước đường cho uống, nhưng uống vô tới đâu, ói ra tới đó. Tới lúc cô con gái thều thào kêu “Má ơi!” xong thì nằm vật ra, sùi bọt mép trắng xóa. Bà Bảy kêu cứu ầm ĩ, khi có người chạy tới thì bà cũng nôn ói dữ dội, ói đã đời rồi nằm vật ra.
Chiếc xuồng ba lá chạy máy coler kéo theo chiếc vỏ hobo, một loại tàu tuần tra nhỏ của Mỹ ngày trước. Trên sàn chiếc vỏ là hai má con bà Bảy nằm sõng sượt. Lục Hai quyết định cử người chở hai má con tới trạm y tế xã gần nhất. Nói là gần, chớ xuồng máy chạy cũng hơn tiếng đồng hồ. Những người phụ nữ trong xóm, cả người Việt lẫn người Khmer đều khóc vì thương và lo. Bà Tư cơm cháy khóc lu loa:
- Chết chắc rồi chị Bảy ơi! Tui còn thiếu nợ chị mấy đồng tiền cà phê. Giờ biết làm sao đây?
Mấy người phụ nữ đang khóc, cũng phải phì cười.
- Khùng! Nếu bả chết, đem tiền đó tới cúng nhang là được chớ gì!
Nhưng má con bà Bảy mạng lớn, không chết. Trạm y tế đổ nước, tẩy ruột kịp thời, nên cứu được cả hai. Ông trạm trưởng nhỏ người, giọng the thé:
- Trời đất ơi! Mấy người thành phố ẩu thiệt! Còng nấu với đọt mắm, ăn vô chưa chết là hên.
Mùa lúa chín. Không ai còn nhận ra bãi hoang xưa rậm rạp ô rô. Phù sa đất mới vun bồi cho cây lúa vươn lên, khỏi cần phân bón. Những bông lúa vừa dài vừa mập trĩu nặng. Lúa cắt tới đâu, được vò bằng chân trên những tấm bạt trải ngay tại ruộng, đổ vô bao vác về phơi tràn trên mặt đê bao. Xôn xao tiếng người, tiếng cười. Tiếng Việt lẫn trong tiếng Khmer. Mùa đầu tiên trúng đậm, mỗi công thu tới hai chục giạ lúa. Ghe thương lái từ đâu ghé bến, không cần ai kêu. Những xấp tiền rưng rưng cầm trên tay. Lục Hai hối Lâm Sơn:
- Có tiền rồi! Mầy có muốn cưới con Solima không?
Lâm Sơn ôm con gà nòi trên tay, đứng như trời trồng.
- Con đâu còn ba má! Ai đi cưới cho Lục ơi!
- Ủa! Bộ Ban chỉ huy không cưới cho bay được hả!
Không khí vui vẻ như ngày tết Chol Chnam Thmay, trùm khắp nông trường. Ngoài cửa vàm sông cái, xình xịch tiếng máy đò Thanh Hiền, rộn rã tiếng cười nói. Người ta kéo nhau đi chợ huyện mua sắm đồ dùng, nhu yếu phẩm. Lẫn trong từng thùng hàng mắm muối là những thùng bia “con cọp”, nước ngọt và vài can rượu đế. Đầu xóm, cuối xóm, đám đàn ông đã gầy những cuộc nhậu tưng bừng. Mặc kệ con rạch nước lớn, nước ròng ngày hai buổi, với tiếng kêu giục giã bíp bíp của lũ bìm bịp, những trận nhậu ngả nghiêng vẫn tiếp tục, cả xóm Khmer và xóm Việt. Bà Tư cơm cháy là phụ nữ nhưng cũng ham nhậu, quên cả những bữa đi xin cơm cháy. Hôm đó nhậu đã đời, bà Tư cơm cháy còn cởi cả áo, đứng giữa xóm hát “Nếu biết rằng, tình là dây oan. Nếu biết rằng, yêu là đau khổ… thì nhân gian đừng có chung tình…” Cặp vú già lõng thõng nhăn nheo trước ngực, làm lũ con nít vỗ tay reo hò. Sáu cụt bỗng trở nên hiền lành, cầm chiếc can rỗng, uốn éo nhảy điệu saravan truyền thống, cánh tay cụt gõ từng nhịp lên chiếc can. Anh Ba vồ mặt đỏ tía, cười hắc hắc:
- Thằng Sáu mày vô kéo bà Hai liệu ra nhảy cho vui!
Nhịp nhảy bỗng chững lại, Sáu cụt nhăn nhó:
- Đang vui, đừng nhắc lại ba vụ đó chớ cha nội!
Chắc anh buồn vì nhớ lại bữa bị Lục Hai trói trên nhà chỉ huy.
Cả Sóc Cá Đối vui rộn rã, chỉ mình Lâm Sơn ôm tấm lưới chài, lò dò theo bờ rạch nước vừa chớm ròng. Mấy người đàn ông kêu vô nhậu miết không được, chửi:
- Đù tía con cua! Thằng này khùng rồi!
Không ai biết Lâm Sơn đang ráng thực hiện một lời hứa, là bắt cho cô gái Solima mớ cá đối. Rình rập miết, tới lúc nước ròng sát, hắn bắt được có ba con cá, liền đem về phía lán người Khmer. Tới gần chiếc cầu khỉ bắc qua con rạch, Lâm Sơn chợt phát hiện một thằng nhỏ bảy, tám tuổi đang dò dẫm qua cầu. Nó sợ hãi nhìn dòng nước chảy xiết bên dưới, thấy Lâm Sơn thì kêu lên:
- Boong Sơn! Boong ơi!
Lâm Sơn giơ xâu cá lên, cười với nó. Bỗng thằng nhỏ chới với, rồi rơi tõm xuống nước. Lâm Sơn vội ném mớ cá xuống đất, lao theo. Hắn ráng mở to con mắt, nhìn vô làn nước đục, cả người bị nước đẩy chéo về phía bờ bên kia. Hai con mắt nhức xót, mà không thấy gì. Vội ngoi lên khỏi mặt nước, hít một hơi thiệt dài, Lâm Sơn lại chúi đầu lặn sát đáy rạch, hai tay đưa về phía trước quờ quạng. Lâm Sơn đụng phải chiếc quần xà lỏn mắc kẹt dưới một bụi cây, liền nắm tóc thằng nhỏ, kéo lên. Trên bờ ba người phụ nữ Campuchia đứng kêu khóc, đám nhậu cuối sóc nghe tiếng la hét, cũng bỏ cuộc chạy tới. Họ phụ kéo thằng nhỏ và Lâm Sơn lên bờ. Không kịp nghỉ lấy sức, Lâm Sơn nắm hai cẳng chân thằng nhỏ khoác lên cổ, để đầu nó dốc ngược xuống, rồi chạy quanh bãi đất. Đầu thằng nhỏ lắc lư theo nhịp bước chân hối hả. Đến vòng chạy thứ ba, thằng nhỏ nôn thốc, nôn tháo ra toàn nước. Lâm Sơn dừng lại, thở hổn hển:
- Sống rồi!
Người phụ nữ chắc là mẹ thằng nhỏ, quỳ xuống trước mặt Lâm Sơn, chắp tay lạy:
- Or cun boong! Or cun!
Lâm Sơn xua tay, rồi vội đi qua cầu, tìm kiếm mấy con cá đối vụt dưới đất. Tìm hoài mà không thấy đâu hết.
Chiến tranh biên giới Tây Nam vừa dứt, nghe tin bộ đội Việt Nam đã giải phóng Phnom Penh, người dân trong Sóc Cá Đối hò reo vui mừng. Họ rục rịch xin hồi hương. Tháng hai năm đó, cả nước lại gồng mình chống giặc xâm lấn biên giới phía Bắc. Lâm Sơn nói với Lục Hai:
- Con muốn đi bộ đội!
Lục Hai nhìn hắn, hai mắt đỏ hoe:
- Mầy đi rồi, công việc ở đây bỏ cho ai?
- Con đi uýnh giặc đã. Lục tuyển thêm người khác đi!
Nghe hắn năn nỉ miết, Lục Hai đồng ý. Ông liên hệ trước với ngoài thị đội, hẹn ngày cho Lâm Sơn đi khám sức khỏe.
Lục Hai đưa cho Lâm Sơn mấy chục đồng và một lá thư, dặn dò:
- Ra ngoải, tới nhà chú Bảy ở Bến cá, đưa lá thư này cho ổng, rồi ăn nghỉ tại đó luôn. Khám sức khỏe xong là lên đò về liền, đừng lang thang lạc đường. Cả đi cả về cũng phải ba ngày đó!
Lâm Sơn háo hức chuẩn bị. Hắn lôi trong thùng kẽm ra bộ đồ vía, mấy năm chưa dùng tới. Đó là chiếc áo sơ mi màu đà và chiếc quần tây màu đen. Đôi dép da bỏ mốc trắng trên kệ, được đem ra cọ rửa sạch sẽ. Trước khi lên đò, hắn đóng bộ thiệt bảnh, chạy qua chào chị em Solima. Cả hai cô gái đều ngạc nhiên ồ lên, cảm động. Hồi nào tới giờ, họ quen nhìn thấy một “boong Sơn” đầu trần, chân đất, mặc quần xà lỏn quanh năm.
Sức khỏe Lâm Sơn xếp loại A2. Hắn lo lắng hỏi người sĩ quan phụ trách:
- Con có được đi bộ đội không chú Hai?
- Sức khỏe đạt! Cứ về đi, nếu có giấy gọi thì ra đây tập trung!
Lâm Sơn mừng húm, muốn mọc cánh bay ngay về cù lao, nhưng ngày mai mới có ghe đi cù lao. Hắn tranh thủ lượn ra chợ, lựa mua hai chiếc kẹp tóc bằng thép không gỉ, về làm quà cho hai chị em Solima.
Bước chân lên bến, Lâm Sơn ngạc nhiên thấy khu lán người Campuchia vắng như miễu ông tà. Thấy ánh mắt im lặng dò hỏi của Lâm Sơn, Lục Hai cười hồ hởi:
- Hồi hương hết rồi! Ghe mới đưa họ đi chiều qua!
Lâm Sơn chạy vội qua cầu khỉ, tìm vô lán nhà Solima. Đồ đạc đã dọn đi, chỉ còn cây phảng, chiếc len và con rựa xếp gọn nơi góc bếp. Trên sợi dây đầu giường nằm, một chiếc khăn Krama sọc đen trắng phơi thẳng thớm. Đây là chiếc khăn cô Solima hay choàng cổ. Có lẽ cổ để lại cho mình? Nước mắt Lâm Sơn ứa ra, hắn chậm rãi choàng chiếc khăn lên cổ. Một hơi ấm thân quen trùm lên hai vai.
*
Ông già da ngăm đen, tóc bạc trắng, vừa nâng ly rượu vừa hỏi khách:
- Chú ở dưới, có biết nông trường Cù Lao hông? Hồi trẻ tui có ở đó ít năm, sau đi bộ đội rồi ở luôn ngoài Bắc, không có dịp ghé!
- Dạ! Giờ người ta thành lập huyện Cù Lao rồi! Ở đó giờ vui, nhộn nhịp lắm!
- Vậy cái Sóc Cá Đối, có còn không?
- Có chỗ nào gọi là Sóc Cá Đối đâu chú!
Ông già nói với khách, khi nào có dịp sẽ tự xuống huyện Cù Lao tìm về chốn cũ. “Chú đưa giùm tui xuống đó nhen!”