Diễn đàn lý luận

Hình tượng người liệt sĩ trong thơ và nhạc Việt Nam hiện đại

Đỗ Anh Vũ
Lý luận phê bình 09:45 | 29/07/2026
Baovannghe.vn - Lịch sử Việt Nam trong thế kỉ XX có thể nói là sự nối dài của những cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Người lính vì thế đã trở thành một trong những hình tượng trung tâm của văn học nghệ thuật.
aa

Trong số những người lính bước vào chiến trường hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau trên mọi miền Tổ quốc, đã có hàng triệu người ngã xuống vì lí tưởng thiêng liêng cao cả. Để tưởng nhớ các anh các chị, những người đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho đất nước, nhiều tác phẩm thơ nhạc trong suốt gần một thế kỉ qua đã viết về hình tượng người liệt sĩ với sự xúc động khôn nguôi và lòng biết ơn sâu sắc.

Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, NXB Từ điển Bách khoa, 2010, tr. 734), liệt sĩ được định nghĩa là người đã hi sinh vì nước vì dân khi đang làm nhiệm vụ. Như vậy, liệt sĩ không phân biệt độ tuổi và giới tính. Từ những người lính chiến đấu trên chiến trường, những người lính ở hậu phương, những anh thanh niên xung phong, những cô gái giao liên mở đường, những người làm các công tác khác nhau cho đến các bạn thiếu niên nhi đồng nếu ngã xuống trong khi đang làm nhiệm vụ phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước của dân tộc hay những công việc “ích nước, lợi dân” đều được coi là liệt sĩ.

1. Thơ chống Pháp ngay từ giai đoạn đầu đã có những tác phẩm nổi tiếng về người chiến sĩ ngã xuống, chẳng hạn bài Viếng bạn của Hoàng Lộc năm 1947: “Hôm qua còn theo anh/ Đi ra đường quốc lộ/ Hôm nay đã chặt cành/ Đắp cho người dưới mộ/ Đứa nào bắn anh đó?/ Súng nào nhắm trúng anh?/ Khôn thiêng xin chỉ mặt/ Gọi tên nó ra anh?” Bản thân tác giả bài thơ chỉ 2 năm sau đó cũng đã qua đời trên chiến trường vì bệnh lao. Báo Vệ Quốc quân số 58-59 ra tháng 12 năm 1949 đã đăng những dòng chia buồn chân thành về nhà thơ tài hoa mà đoản mệnh của Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:

“Chúng tôi đau đớn báo tin:

Anh Hoàng Lộc

Phóng viên báo Vệ quốc quân đã từ trần vì trọng bệnh ngày 29 tháng 11 năm 1949.

Anh Hoàng Lộc là một nhà văn, ngay sau khi nổ tiếng súng toàn quốc kháng chiến đã gia nhập bộ đội với công tác chuyên môn trong tờ báo Xông pha khu XII cũ, rồi báo Bắc Sơn Liên khu I và báo Vệ quốc quân Trung ương.

Thu Đông 1947, anh không quản khó nhọc gian nan đã theo những đơn vị bộ đội chiến đấu trên đường số 4 để làm nhiệm vụ của một phóng viên nhà báo và đã viết được thêm phóng sự Chặt gọng kìm đường số 4 trong đó có bài thơ Viếng bạn chan chứa tình yêu và lòng căm thù của một trung đội trưởng khóc một chiến sĩ hi sinh ở trận đánh. Bài thơ này đã được các nhà văn nghệ và bộ đội coi là một tác phẩm có giá trị.

Với một lòng tận tụy cho nhiệm vụ để phục vụ Quân đội và Dân tộc, anh Hoàng Lộc là một thanh niên hứa hẹn rất nhiều triển vọng nhưng chẳng may mất đi, thật là một sự thương tiếc lớn.

Trong dịp này chúng tôi xin trân trọng gửi lời chia buồn cùng tang quyến.”

Tây Tiến - tuyệt bút của đời thơ Quang Dũng, ra đời năm 1948 cũng hơn một lần dành những câu thơ để viết về những người lính ngã xuống: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục trên súng mũ bỏ quên đời; Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành.” Những liệt sĩ trong thơ chống Pháp còn được hiện lên với các cái tên cụ thể. Đó có thể là chú bé Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu: “Vụt qua mặt trận/ Đạn bay vèo vèo/ Thư đề thượng khẩn/ Sợ chi hiểm nghèo/ Bỗng lòe chớp đỏ/ Thôi rồi Lượm ơi/ Chú đồng chí nhỏ/ Một dòng máu tươi/ Cháu nằm trên lúa/ Tay nắm chặt bông/ Lúa thơm mùi sữa/ Hồn bay giữa đồng.” Đó là Kim Đồng, người thiếu niên anh hùng đã trở thành biểu tượng cho tuổi trẻ Việt Nam về tinh thần dũng cảm và lòng yêu nước: “Bao phen giao liên trong rừng, gian lao nguy nan vô cùng, xung phong theo gương anh hùng. Đùng đùng đùng đoàng đoàng đoàng anh vẫn đi… Kim Đồng tên anh muôn thuở không mờ. Kim Đồng tên anh lừng lẫy chiến khu” (Kim Đồng - Nhạc và lời: Phong Nhã). Đó là người thiếu nữ anh hùng Võ Thị Sáu đi vào ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn: “Người thiếu nữ ấy như mùa xuân, chị đã dâng cả cuộc đời/ Để chiến đấu với bao niềm tin, dù chết vẫn không lùi bước. Chị Sáu đã hi sinh rồi, giọng hát vẫn như còn vang dội/ Vào trái tim những người đang sống, giục đi lên không bao giờ lùi” (Biết ơn chị Võ Thị Sáu). Sau ngày đất nước thống nhất, trong chuyến đi lần đầu được ra thăm mộ chị Võ Thị Sáu, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã xúc động viết bài thơ Truyền thuyết trên đảo Côn Sơn: “Người con gái trẻ măng/ Giặc đem ra bãi bắn/ Đi giữa hai hàng lính/ Vẫn ung dung mỉm cười/ Ngắt một đóa hoa tươi/ Chị cài lên mái tóc/ Đầu ngẩng cao bất khuất/ Ngay trong phút hi sinh/ Bây giờ dưới gốc dương/ Chị nằm nghe biển hát.” Có những tấm gương liệt sĩ hi sinh từ trước 1945 nhưng đến giai đoạn sau mới đi vào thơ như một niềm tưởng nhớ: “Sống, chết được như anh/ Thù giặc, thương nước mình/ Sống làm quả bom nổ/ Chết theo dòng nước xanh.” (Phạm Hồng Thái - Tố Hữu, 1956).

2. Sang đến thời chống Mĩ, hình tượng người liệt sĩ tiếp tục đi vào thơ và nhạc một cách dày đặc hơn nữa, tạo nên một bức tranh bi tráng hào hùng, ca ngợi lòng dũng cảm vô song của con người trong cuộc chiến đấu vệ quốc. Vẫn là những cái tên cụ thể của những con người bình dị, họ có thể không cần được phong danh hiệu anh hùng nhưng mãi mãi là anh hùng trong lòng đồng đội. Trong thời gian chiến đấu ở Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng của nước bạn Lào, chứng kiến những người đồng đội lần lượt hi sinh, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã cảm tác viết nên bài thơ Nấm mộ và cây trầm nổi tiếng. Bài thơ là khúc bi tráng ca về sự ra đi đã trở thành bất tử của những người lính đã cống hiến máu xương mình cho nền hòa bình, thống nhất của đất nước: “Cái chết bay ra từ nòng súng quân thù/ Nhận cái chết cho đồng đội sống/ Ngực chặn lỗ châu mai, Hùng đứng thẳng/ Đồng đội xông lên nhìn rõ Hùng cười/.../ ‘Chết - Hi sinh cho Tổ quốc’ Hùng ơi/ Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất/ Hi sinh lớn cũng là hạnh phúc/ Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng.” Có những cái chết của người lính làm quân thù cũng phải khiếp sợ và rúng động, làm thế giới nghiêng mình cảm phục và dõi theo. Nếu như nhân vật Hùng trong bài thơ của Nguyễn Đức Mậu có thể xem là một nhân vật trong tác phẩm có tính hư cấu thì Nguyễn Văn Trỗi trong bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi của Tố Hữu là bản tụng ca về một người anh hùng có thật bằng xương bằng thịt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ: “Súng đã nổ. Mười viên đạn Mĩ/ Anh gục xuống. Không. Anh thẳng dậy/ Anh hãy còn hô: Việt Nam muôn năm!/ Máu tim Anh nhuộm đỏ đất Anh nằm/…Anh đã chết, Anh Trỗi ơi, có biết/ Máu kêu máu ở trên đời tha thiết/ Du kích quân Ca ra cát đã vì anh/ Bắt một tên giăc Mĩ giữa đô thành.” Thời chống Mĩ tiếp tục có thêm những tấm gương thiếu niên dũng cảm đã hi sinh quên mình để giúp đỡ mọi người: “Trên đất nước anh hùng ngày ngày vang những chiến công. Gương anh Nguyễn Bá Ngọc sáng soi rực rỡ núi sông. Anh hiến dâng cả cuộc đời, băng qua lửa đạn bom rơi. Nguyễn Bá Ngọc đã vì bạn mà hi sinh” (Nguyễn Bá Ngọc người thiếu niên dũng cảm - Nhạc và lời: Mộng Lân). Cũng trong kháng chiến chống Mĩ, từ một người lính có tên hay một người lính không tên khi ngã xuống đều trở thành một tượng đài anh hùng bất diệt làm quân thù phải hoảng sợ: “Nguyễn Viết Xuân trận địa khắp nơi nơi. Anh lại đến bên tôi nhằm quân thù mà bắn đôi mắt như lửa soi đốt thiêu quân thù này. Trận địa đây đất nước của mình đây, lời anh vẫn vang lên hùng tráng. Kể từ nay sông núi hay biển khơi còn in dấu chân anh đời đời.” (Cùng anh tiến quân trên đường dài - Nhạc: Huy Du, Thơ: Xuân Sách). “Không một tấm hình không một dòng địa chỉ/ Anh chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ/ Anh là chiến sĩ giải phóng quân/ Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” (Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân). Chính Lê Anh Xuân, người viết nên những câu thơ hào hùng về người chiến sĩ giải phóng cũng đã ngã xuống, trở thành liệt sĩ khi mới vừa 28 tuổi.

Hình tượng người liệt sĩ trong thơ và nhạc Việt Nam hiện đại
Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Nguồn: phongnhadiscovery.com

3. Trong thời chống Mĩ, không chỉ có những người lính bộ đội Cụ Hồ ngã xuống nơi chiến trường khốc liệt mà còn phải kể đến sự hi sinh của hàng ngàn nữ thanh niên xung phong, những cô gái giao liên, những cô gái mở đường quả cảm. Nhà thơ Lâm Thị Mĩ Dạ đã viết bài thơ Khoảng trời hố bom trong niềm thương tiếc vô hạn: “Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em/ Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ/ Đất nước mình nhân hậu/ Có nước trời xoa dịu nỗi thương đau/ Em nằm dưới đất sâu/ Như khoảng trời đã nằm yên trong đất/ Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng/ Những vì sao ngời chói lung linh.” Sự hi sinh của mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao tác phẩm thơ nhạc ra đời suốt gần 60 năm qua. Bài thơ Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của nhà thơ Vương Trọng đã được khắc vào bia đá ở khu tưởng niệm: “Bữa ăn cuối cùng mười chị em không có gạo/ Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường/ - Cần gì ư, lời ai hỏi trong chiều/ Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu/ Ngày bom vùi tóc tai bết đất/ Nằm xuống mộ rồi mái đầu chưa gội được/ Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.” Trong mười nữ thanh niên xung phong hi sinh ở Đồng Lộc, tiểu đội phó Hồ Thị Cúc là người được tìm thấy thi thể sau cùng. Nhà thơ Yến Thanh đã nghẹn ngào gọi tên chị qua bài thơ Cúc ơi: “Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang/ Cúc ơi! Em ở đâu không về tập hợp/ Chín bạn đã quây quần đủ hết/ Nhỏ, Xuân, Hà, Hường, Hợi, Rạng, Xuân, Xanh/ A trưởng Võ Thị Tần đã điểm danh/ Chỉ thiếu mình em/ Chín bỏ làm mười răng được/ Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc/ Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng/ Cúc ơi, em ở đâu?...”

4. Sau ngày đất nước thống nhất, hình tượng liệt sĩ hiện lên trong thơ trong nhạc theo một cách khác. Họ hiện lên trong kí ức không phai mờ của đồng đội. Họ hiện lên khi đồng đội trở lại chiến trường xưa. Người cựu chiến binh Lê Bá Dương trở lại Quảng Trị, thuê một con đò và mua tất cả hoa ngoài chợ ngày hôm đó để thả trên sông. Bài thơ tứ tuyệt của ông cũng đã được khắc vào bia đá bên dòng Thạch Hãn: “Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm” (Lời gọi bên sông). Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm chưa một lần được gặp Vũ Đình Văn nhưng hai anh đã đọc thơ nhau, đã có duyên cùng in chung một tập thơ Thơ tuổi hai mươi (1974). Sau ngày đất nước thống nhất, Hoàng Nhuận Cầm đã đến tận nhà Vũ Đình Văn ở số 37 phố Lãn Ông thắp hương và viết bài thơ Nhớ Vũ Đình Văn: “Mình buồn lắm những buổi chiều/ Hoa Kim Đao nở những điều trắng tinh/ Mà cây nhang cứ lặng thinh/ Mà Văn khóc mẹ, mà mình khóc Văn/ Thôi con lạy mẹ ngàn lần/ Như anh lạy mẹ trên đồng ngày xưa/ Mẹ ơi mẹ đổ trận mưa/ Cho anh mát dạ, giọt thừa cho con/ Dẫu rằng máu chẳng một hòn/ Nhưng anh Văn mất, con còn làm em/ Dẫu rằng chẳng giống họ tên/ Nhưng anh em khúc ruột mềm như nhau/ Thôi cho con mẹ cúi đầu/ Khóc thương hương lửa là màu đỏ hoe/ Khôn thiêng thì mẹ hiện về/ Thay Văn con kể mẹ nghe: Chuyện đời.” Anh linh thiêng liêng của những liệt sĩ đã ngã xuống còn tiếp tục bắc nhịp cầu cho những người đang sống, những người ở lại tìm đến với nhau. Người liệt sĩ còn hiện lên qua không gian yên nghỉ của chính họ, đó là nghĩa trang. Hình ảnh nghĩa trang Trường Sơn đi vào vô số những bài thơ của thời hiện đại với nhiều nỗi niềm. Có những nhà thơ - chiến sĩ vẫn thường xuyên trở lại viếng thăm đồng đội: “Không đủ vạn bông hoa/ Cắm lên mộ từng người đồng chí/ Tôi bước nhẹ bằng đôi chân chiến sĩ/ Đến cúi đầu trước mỗi dòng tên” (Ở nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn - Vương Trọng). Có những người lính đã hòa tan thân thể cùng núi rừng Trường Sơn nên chẳng thể có một ngôi mộ cụ thể: “Về thăm bạn ở Trường Sơn/ Bước chân lạc giữa xanh rờn lá cây/ Con đường xưa bạn qua đây/ Giờ hoang vu với cỏ dày, lá khô/ Trường Sơn mây núi lô nhô/ Mênh mông chẳng biết nấm mồ bạn đâu/ Phần tư thế kỷ dãi dầu/ Bạn còn khuất chốn rừng sâu mịt mùng/ Từng đêm mưa đổ, thác rung/ Nghĩ thương bạn giữa điệp trùng núi non” (Về thăm bạn ở Trường Sơn - Thai Sắc). Lại có trường hợp hai người lính nằm chung một mộ bởi họ đã cùng nhau hi sinh: “Người Quảng Trị, người Thái Bình/ Dưới ba tấc đất cốt hình của ai?/ ‘Vô danh’ ba chục năm dài/ Giờ chung một mộ khắc hai tên người/ Đúng? Sai? Chẳng có trả lời/ Hỏi thông, thông đứng dưới trời vi vu/ Đành lòng mượn khói mùa thu/ Một người ngửa nón ngồi ru hai người” (Ghi ở cõi Trường Sơn - Nguyễn Hữu Quý). Sự hi sinh của các liệt sĩ cảm động đến cả đất trời, thần phật. Thế nên từ cõi tâm linh đã mọc lên một cây bồ đề: “Vun nồm nam vén heo may/ Phật sai xuống đứng một cây bồ đề/ Lòng cây lòng Phật sum suê/ Những người lính trận cùng về khói hương” (Viết dưới gốc bồ đề ở nghĩa trang Trường Sơn - Đỗ Vinh). Niềm tưởng nhớ người liệt sĩ có khi hiện lên qua một chiếc mũ sắt trong viện bảo tàng: “Chiếc mũ sắt gõ lên thành tiếng/ Một nốt trầm như đất đá mà thôi/ Ai đó viết tên mình trên mũ sắt/ Nghe vọng về tiếng nói tuổi hai mươi/ Chiếc mũ sắt nhẵn lì vỏ cứng/ Đời lính mình rong ruổi mấy vùng quê/ Đối mặt với đạn bom, cái chết/ Có những nấm mồ: Mũ sắt hóa hình bia/ Chiếc mũ sắt vết thủng xuyên lỗ chỗ/ Dưới mồ sâu người pháo thủ yên nằm/ Cuộc chiến tranh đã lấp chìm trong cỏ/ Trái tim còn nhói buốt mảnh bom găm” (Chiếc mũ sắt ở viện bảo tàng - Nguyễn Đức Mậu). Những người lính đã ngã xuống còn hiện về cả trong những giấc mơ của đồng đội: “Mày hi sinh bốn năm rồi, tao gặp/ Trong giấc mơ còn nóng ấm bàn tay/ Trong giấc mơ nụ cười của mày/ Đến với tao chảy thành nước mắt/ Khi đánh giặc việc nhiều không kịp khóc/ Bốn năm rồi nước mắt vẫn vòng quanh” (Khóc một người đồng đội đã hi sinh - Nguyễn Đức Mậu). Người lính đã hi sinh hiện về trong nỗi nhớ của người mẹ, vẫn thấy đứa con bé bỏng như thuở nào: “Mẹ ngồi bên nấm mộ con/ Là ngồi bên tấm nôi tròn ngày xưa/ Xót đau biết mấy cho vừa/ Hoàng hôn đời mẹ cơn mưa lại về/ Hiu hiu gió thổi trưa hè/ Mà không đỏ nổi đầu que hương buồn/ Con nằm giữa bạn bè con/ Tay già run rẩy khói vờn vòng tang” (Lời ru cỏ non - Kim Châu). Tác giả những câu lục bát ấy chính là thân mẫu nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, bài thơ được ra đời khi bà đi ngang qua một nghĩa trang liệt sĩ, thấy người mẹ ngồi lặng bên mộ con như một pho tượng đá. Sau này nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm có tâm sự với báo chí, rằng khi đọc bài thơ, không hiểu sao anh cứ nghĩ đây là bài thơ mẹ anh viết về bà Doãn Ngọc Trâm, mẹ của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Cũng đứng trước những ngôi mộ cỏ xanh, nhạc sĩ Tân Huyền lại có một cảm giác khác biệt, một ước mong cỏ non trên từng nấm mộ cũng hiểu về sự hi sinh của người lính: “Cho tôi hôm nay vào Thành cổ/ Thắp một nén nhang viếng người nằm dưới cỏ/ Cỏ xanh non tơ cỏ xanh non tơ xin chớ vô tình/ Với người hi sinh trên mảnh đất quê mình” (Cỏ non Thành cổ). Vâng, chắc chắn quê hương đất nước không bao giờ quên các anh, từng ngọn núi dòng sông, từng bông hoa vạt cỏ, từng áng mây bóng lá đều như nâng niu người chiến sĩ yên nghỉ: “Dòng tên anh khắc vào đá núi/ Mây ngàn hóa bóng cây che/ Chiều biên cương trắng trời sương núi/ Mẹ già mỏi mắt nhìn theo/ Việt Nam ơi Việt Nam/ Núi cao như tình mẹ, bốn mùa tóc bạc nỗi thương con/ Việt Nam ơi Việt Nam/ Ngọn núi nơi anh ngã xuống/ Rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa/ Rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn” (Màu hoa đỏ - Nhạc: Thuận Yến, thơ: Nguyễn Đức Mậu).

Những người đã ngã xuống và những người còn sống luôn có một mối giao cảm đặc biệt. Người còn sống không bao giờ quên những người đã ngã xuống. Và những người đã ngã xuống cũng sẽ trở về theo một cách nào đó trong một tình cảm chung với gia đình đồng đội, với quê hương xứ sở như những gì nhạc sĩ Trương Quý Hải đã nói hộ chúng ta qua ca khúc Về đây đồng đội ơi: “Hãy về đồng đội ơi còn nằm khe đá hay thung sâu/ Về đây có nhau như nguyện ước chiến hào/ Được hòa cùng bầy trẻ thơ bên sông Lô hát yên bình/ Quân dân nồng ấm nghĩa tình/ Hãy về đồng đội ơi người lính chiến mãi đôi mươi/ Về đây điếu thuốc lào ấm chè chốt hồn nhiên nụ cười/ Bạn bè đồng đội người thân ôm nhau nước mắt chan hòa/ Biên cương hình bóng quê nhà.”

Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới

Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới

Baovannghe.vn - Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Ninh Bình với hành trình kiến tạo một không gian phát triển mới

Ninh Bình với hành trình kiến tạo một không gian phát triển mới

Ninh Bình được biết đến như vùng đất hội tụ giữa thiên nhiên và lịch sử, nơi những dãy núi đá vôi, dòng sông, kinh đô cổ và hệ thống di tích, lễ hội, làng nghề đã tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc của châu thổ sông Hồng.
Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8: Hội tụ và thử thách bản lĩnh sáng tạo của nghệ sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8: Hội tụ và thử thách bản lĩnh sáng tạo của nghệ sĩ trẻ

Baovannghe.vn - Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 chính thức khai mạc tại Hà Nội với sự tham gia của 866 tác phẩm do 585 nghệ sĩ trẻ trên cả nước gửi về.
Mời độc giả đón đọc báo Văn nghệ số 31/2026

Mời độc giả đón đọc báo Văn nghệ số 31/2026

Baovannghe.vn - Báo Văn nghệ số 31 ra ngày 1/8/2026 có những nội dung sau
Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3

Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3

Baovannghe.vn - Sáng 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV