Sáng tác

Trang nhật ký bằng gỗ. Truyện ngắn của Nguyễn Hồng Quang

Nguyễn Hồng Quang
Truyện 10:06 | 11/08/2026
Baovannghe.vn- Chiều cuối đông, trong lúc dọn lại căn buồng cũ, tôi kéo chiếc hòm gỗ từ góc nhà ra giữa nền gạch. Một lớp bụi mỏng bay lên, lấp lánh trong vệt nắng xiên qua ô cửa sổ. Chiếc hòm đã theo tôi gần nửa thế kỷ. Mặt gỗ xoan lên nước thời gian, ngả màu xám bạc. Chiếc móc khóa sắt hoen gỉ, bản lề đã hơi rơ, nhưng thân hòm vẫn chắc nịch như chưa từng chịu sự bào mòn của năm tháng.
aa
Trang nhật ký bằng gỗ. Truyện ngắn của Nguyễn Hồng Quang
Minh họa Kim Duẩn

Tôi đưa bàn tay vuốt nhẹ lên nắp hòm. Đầu ngón tay chạm vào những vết bào, vết đục còn hằn lại. Có những đường bào vụng về đến mức bây giờ nhìn lại, tôi cũng phải mỉm cười. Chúng chẳng đều, chẳng đẹp như tay thợ mộc, nhưng mỗi vết cắt đều chứa một phần tuổi trẻ của tôi.

Tôi mở nắp hòm. Mùi gỗ xoan cũ thoảng lên, dìu dịu mà thân thuộc. Mùi hương ấy lập tức kéo tôi trở về những năm tháng xa lắc. Chỉ trong khoảnh khắc, tiếng gió ngoài hiên như hóa thành tiếng rừng lao xao, còn tiếng bản lề cọt kẹt lại giống hệt âm thanh chiếc cưa xẻ năm nào đang rít từng nhịp trên thân gỗ.

Đã gần năm mươi năm trôi qua. Vậy mà mỗi lần chạm tay vào chiếc hòm này, thời gian như lặng đi. Trước mắt tôi lại hiện lên hình ảnh chàng trai ngoài hai mươi tuổi năm ấy: Vai khoác chiếc túi vải đã bạc màu. Chiếc xe đạp cũ được gửi lại nhà người quen ở Quảng Ngần, vì từ đó vào trường chỉ còn đường núi dốc cao và những lối mòn hẹp, xe đạp không thể đi được.

Đó là những năm đầu tôi lên công tác ở xã Thượng Sơn. Khi ấy, Thượng Sơn còn nghèo và heo hút. Con đường từ huyện vào xã chỉ là lối đất men theo triền núi, mùa nắng bụi đỏ phủ bạc vai áo, mùa mưa bùn quánh níu chặt từng bước chân. Đến trường là một hành trình vượt dốc, băng rừng, lội suối. Mỗi chuyến xuống huyện đong gạo hay nhận sách vở đều như một cuộc đi xa. Nhiều lần mưa nguồn đổ về bất chợt, nước suối cuồn cuộn dâng cao, chúng tôi chỉ còn biết ngồi nép bên bờ, kiên nhẫn đợi dòng nước rút rồi mới tiếp tục hành trình.

Ngôi trường tôi dạy chỉ là mấy dãy nhà lợp lá cọ, vách gỗ ghép đơn sơ, nép mình dưới chân núi. Buổi sáng, màn sương dày đặc phủ kín sân trường; đứng cách nhau vài chục bước chân chỉ thấy bóng người thấp thoáng. Xa xa, tiếng gà rừng gáy vọng từ triền núi hòa cùng tiếng chim ríu ran gọi ngày mới.

Cuộc sống của thầy giáo vùng cao khi ấy thiếu thốn đủ bề. Phòng ở chỉ vẻn vẹn vài mét vuông. Một chiếc giường tre, một bàn học cũ, chiếc bếp dầu kê sát vách và vài cái đinh đóng trên cột để treo quần áo. Những bộ quần áo ít ỏi giặt xong phải hong nhiều ngày mới khô vì sương núi. Gạo được mua theo tiêu chuẩn, nhiều khi để lâu đã có mùi mốc. Thức ăn quanh quẩn chỉ là rau rừng, măng rừng; đôi lúc câu được vài con cá suối thì coi như có bữa cải thiện.

Tôi ở cùng anh Khuyên, người đồng nghiệp hơn tôi một tuổi. Anh hiền lành, ít nói nhưng rất chịu khó. Những buổi tối sau giờ lên lớp, hai anh em thường ngồi bên bếp lửa, vừa hong quần áo vừa kể chuyện quê nhà. Ngoài kia, gió rừng luồn qua mái lá phát ra những âm thanh vi vút. Trong ánh lửa bập bùng, chúng tôi thường nói với nhau rằng rồi mai này, có khá hơn, mỗi đứa sẽ sắm một chiếc vali tử tế để khỏi phải buộc quần áo vào túi vải như bây giờ.

Nhưng ước mơ ấy hồi đó nghe còn xa lắm. Tiền lương ít ỏi chỉ đủ trang trải cuộc sống. Mua một chiếc vali là điều khó nghĩ tới. Quần áo, sách vở, giấy tờ đều phải bó lại cẩn thận, treo lên xà nhà tránh chuột. Thế mà lũ chuột rừng tinh quái vẫn nhiều lần gặm rách túi, tha mất cả giấy tờ, kể cả hộp thuốc đánh răng cũng bị chúng cắn be bét.

Một chiều cuối tuần, sau khi nhặt lại mấy quyển vở bị chuột cắn nham nhở, anh Khuyên bỗng chống cằm nhìn ra khoảng đất sau trường rồi nói:

- Hay là mình tự đóng một cái hòm gỗ?

Tôi nhìn anh, bật cười:

- Lấy đâu ra tiền mua ván gỗ?

Anh chỉ tay về phía mấy cây xoan mọc ven bờ suối:

- Gỗ thì có sẵn đấy. Chỉ thiếu người chịu khó làm thợ mộc thôi.

Tôi nhìn theo tay anh. Những cây xoan đứng lặng trong nắng chiều, thân thẳng, tán lá rung nhè nhẹ theo gió núi. Lúc ấy, cả hai chúng tôi đều không ngờ rằng, chính từ những thân cây bình dị ấy sẽ bắt đầu một câu chuyện theo mình suốt cả cuộc đời.

Chiều hôm sau, vừa hết tiết học cuối, anh Khuyên lại kéo tôi ra sau trường. Mấy cây xoan đứng đó, thân cây to hơn một quầng tay ôm, lớp vỏ xám bạc lấm tấm rêu phong. Trên cành cao còn có rất nhiều bụi tầm gửi.

Anh chống nạnh, ngước nhìn lên tán lá rồi nói:

- Gỗ già thế này mà làm hòm thì bền phải biết.

Tôi nhìn quanh rồi buột miệng:

- Gỗ thì có rồi... nhưng cưa đâu mà xẻ?

Hai anh em nhìn nhau, cùng bật cười.

Ở vùng cao bấy giờ, tìm được một chiếc cưa xẻ chẳng khác gì tìm một món đồ quý. Chúng tôi hỏi khắp mấy bản quanh trường. Người thì lắc đầu, người bảo từ trước đến giờ dựng nhà chỉ dùng rìu với dao phát. Những cây chămpa cao vút hay cây mạy khương được đốn về, bổ bằng nêm gỗ rồi đẽo nhẵn, hiếm khi phải dùng đến cưa xẻ.

Ngày chủ nhật, trời còn chưa sáng hẳn, hai anh em đã khoác túi vải lên vai, men theo con đường đất xuống chợ Vạt. Hơn hai mươi cây số đường núi, lúc lên dốc thì cúi gập người, lúc xuống dốc phải ghì chân cho khỏi trượt. Hai bên đường, mây trắng lững lờ quấn quanh sườn núi. Thi thoảng mới gặp vài người đi chợ, trên lưng địu măng rừng, bó củi hoặc gùi ngô.

Đến gần trưa, chúng tôi mới gặp được người quen ở dưới xuôi làm công nhân nông trường chè. Nghe chuyện hai thầy giáo định tự xẻ gỗ đóng hòm, anh bật cười:

- Hai ông đúng là liều thật!

Nói rồi, anh mang từ trong lán ra một chiếc cưa xẻ đã cũ, lưỡi thép xỉn màu nhưng răng cưa vẫn còn sắc.

- Mượn thì được, nhưng nhớ giữ cẩn thận. Cái này ở đây hiếm lắm đấy.

Hai anh em mừng như bắt được vàng. Chiếc cưa được tháo rời, buộc gọn lên xe đạp rồi cẩn thận đưa về trường. Đến nơi, việc đầu tiên là lắp lại khung cưa. Anh Khuyên vừa căng dây vừa dặn:

- Phải bắn thật căng, không thì kéo vài đường là lưỡi cưa võng ngay.

Sáng chủ nhật, khi màn sương còn phủ kín sân trường, chúng tôi đã lúi húi vần khúc gỗ ra khoảng đất trống phía sau lớp học. Hai thân cây nhỏ được chặt làm giá đỡ. Dây mực được nhuộm bằng nhọ nồi, căng thẳng rồi bật “tách” một tiếng để lấy đường xẻ.

Lưỡi cưa vừa ăn vào thân xoan tươi đã bị lớp nhựa gỗ quánh lại giữ chặt. Người đứng trên gò lưng kéo lên, người đứng dưới ghì sức kéo xuống. Tiếng cưa ken két xé tan khoảng lặng của núi rừng, còn đường cưa chỉ nhích từng chút một. Mỗi nhịp kéo là một lần hai cánh tay căng cứng, bắp vai bỏng rát, hơi thở gấp gáp hòa cùng tiếng cưa. Chưa đầy nửa giờ, mồ hôi đã túa ra như tắm, thấm đẫm lưng áo rồi nhỏ tong tỏng xuống lớp mùn cưa vàng óng dưới chân.

Không có giá kê hay đinh neo, chúng tôi đành chặt mấy cọc gỗ đóng chặt xuống đất, rồi lấy dây rừng ghì chặt khúc xoan lại. Thế nhưng, thân cây vẫn thỉnh thoảng xoay nhẹ, làm đường cưa chệch khỏi đường mực đã đánh dấu. Thấy vậy, anh Khuyên vội gọi lớn:

- Khoan! Lệch mất rồi!

Tôi chống cán cưa, cúi người thở hổn hển. Anh nhìn đường cưa ngoằn ngoèo rồi bật cười:

- Thợ mộc bất đắc dĩ đấy! Làm thêm vài lần nữa, khéo lại thành thợ thật.

Nghe vậy, tôi cũng cười theo. Tiếng cười tan vào khoảng đồi vắng, mang theo cả sự mệt nhọc của hai chàng trai tuổi đôi mươi. Rồi chúng tôi lại cúi xuống, nhịp nhàng kéo cưa. Tiếng cưa ken két ngân dài giữa núi rừng, hòa cùng tiếng chim gọi bạn và tiếng gió lao xao trên tán lá. Mùi gỗ xoan mới xẻ thơm ngai ngái quyện với hương cỏ dại còn đẫm hơi đất sau cơn mưa đêm, đến bây giờ nhớ lại, tôi vẫn ngỡ như đâu đây còn phảng phất.

Đến gần trưa, mấy cô cậu học trò đi thả trâu ghé lại. Chúng đứng quây thành một vòng, mắt tròn xoe nhìn hai thầy kéo cưa không chớp. Một cậu bé người Dao chạy đến, chìa cho tôi mấy chùm dâu da rừng vừa hái.

- Thầy ăn đi, quả này ngọt lắm!

Tôi nhận lấy, bẻ đôi chia cho anh Khuyên. Vị chua thanh xen chút ngọt dịu tan nơi đầu lưỡi, khiến cả người như bừng tỉnh sau buổi sáng kéo cưa mệt nhoài.

- Cảm ơn các em nhé!

Lũ trẻ cười khúc khích rồi tranh nhau giữ dây, lom khom gạt mùn cưa giúp hai thầy. Có đứa hồn nhiên hỏi:

- Bao giờ hai thầy làm xong cái hòm?

Anh Khuyên đưa tay quệt mồ hôi trên trán, nhìn tôi rồi cười:

- Chắc... còn lâu lắm!

Từ hôm ấy, sau mỗi buổi lên lớp, hai anh em lại thay áo, vác cưa ra làm tiếp. Có hôm kéo đến khi mặt trời khuất hẳn sau dãy núi, sương từ lòng suối Vằng Luông đã bắt đầu bò lên, trắng mờ mặt đất mới chịu nghỉ.

Xẻ gỗ tưởng chỉ cần sức khỏe, nhưng càng làm càng thấy cần cả sự kiên nhẫn. Mỗi đường cưa phải giữ thật đều, chỉ lơ đãng một chút là mạch xẻ nghiêng sang một bên, tấm ván cong như cánh võng. Những bàn tay vốn quen cầm phấn trắng nay chai dần vì cán cưa. Chỗ phồng rộp vừa se lại thì lớp da mới lại tiếp tục bong ra. Có buổi tối nằm duỗi lưng trên giường tre, hai cánh tay mỏi nhừ đến mức trở mình cũng thấy đau nhức.

Thế nhưng, chưa bao giờ chúng tôi nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Tay đau vì cán cưa cứa rát thì xé mảnh áo cũ quấn quanh cho đỡ bỏng. Không có đinh neo, hai anh em hì hụi lăn những tảng đá cuội từ ven suối về chèn hai bên thân gỗ. Lưỡi cưa cùn mà chẳng kiếm đâu ra chiếc dũa, chúng tôi nhặt những viên đá có cạnh sắc, ngồi mài từng chiếc răng cưa sáng lên dưới mái hiên trường.

Rồi những ngày mệt nhất, hai anh em lại rủ nhau xuống suối Vằng Luông kiếm chút thức ăn cải thiện. Dòng suối mùa cạn trong veo, len lỏi qua những phiến đá màu gan gà nhẵn bóng. Anh Khuyên cầm cần câu, còn tôi men theo bờ hái những ngọn rau dớn vừa nhú sau mưa. Thỉnh thoảng gặp một ổ nấm trắng muốt nép dưới gốc cây mục, cả hai lại reo lên như vừa nhặt được một món quà của núi rừng.

Bữa cơm vẫn chỉ có gạo kho đã ngả mùi, nồi canh rau dớn xanh ngắt, có hôm may mắn câu được vài con cá suối nhỏ bằng hai ngón tay. Đạm bạc là thế mà bữa nào cũng hết sạch. Có lẽ sau một ngày kéo cưa đến rã rời đôi tay, điều ngon nhất không chỉ nằm ở thức ăn, mà còn ở cảm giác được ngồi quây quần bên nhau, chia nhau từng con cá, từng bát canh nóng giữa căn phòng nhỏ nơi miền heo hút.

Một buổi chiều, khi lưỡi cưa vừa cắt hết đường cuối cùng, tấm ván mỏng từ từ tách khỏi thân cây rồi nghiêng xuống trong tiếng “rắc” khô giòn.

Anh Khuyên chống hai tay lên đầu gối, thở phào:

- Xong rồi!

Tôi đưa tay vuốt nhẹ lên mặt ván thơm mùi gỗ mới. Những đường vân nâu hồng hiện lên mềm mại dưới ánh nắng cuối ngày, như lưu giữ từng nhát cưa vừa đi qua.

Chúng tôi lặng lẽ nhìn nhau rồi cùng mỉm cười. Đó là nụ cười của hai chàng trai trẻ sau hơn một tuần miệt mài kéo cưa, của những giọt mồ hôi đã thấm đẫm lưng áo, những vết phồng rộp nơi lòng bàn tay và biết bao lần lưỡi cưa kẹt cứng giữa thân xoan. Thế là những tấm ván đầu tiên cũng đã thành hình.

Chúng tôi cẩn thận dựng từng tấm ván sát vách tường để hong gió cho khô. Nhìn thành quả của bao ngày vất vả, ai cũng nghĩ công việc đã nhẹ đi một nửa.

Nhưng niềm vui ấy chưa được bao lâu thì một nỗi lo khác lại hiện ra.

- Lấy gì mà đóng đây? - Tôi buột miệng hỏi.

Anh Khuyên ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

- Nhà ông nội tớ còn giữ bộ đồ nghề mộc. Có cưa tay, có bào, có cả tràng đục. Chủ nhật tới, mình về mượn rồi đem lên.

Nhưng phải gần ba tuần sau anh mới về được, vì đúng hai phiên chợ liên tiếp trời mưa như trút, nước lũ dâng đục ngầu, không ai dám liều mình vượt qua suối.

Sáng hôm anh gùi bộ đồ nghề đến trường, tôi mừng chẳng khác gì gặp lại người thân. Chiếc bào đã sẫm màu theo năm tháng. Lưỡi đục được mài sáng loáng. Còn cây thước gỗ thì các con số gần như đã mòn hết.

- Đồ của ông nội đấy! Anh Khuyên nâng niu nói. Ông bảo dùng xong nhớ mang về.

Chúng tôi bắt đầu bào từng tấm ván. Mùi gỗ xoan mới thơm nồng quyện với những dải bào cuộn tròn, bay lả tả khắp sân. Tôi cầm chiếc bào còn lóng ngóng, lúc đẩy mạnh quá, lúc lại nghiêng tay, khiến lưỡi bào nhiều phen cắm sâu vào mặt gỗ, để lại những vết nham nhở.

Anh Khuyên cũng chưa từng học nghề thợ mộc. Chỉ vì từ nhỏ thường theo ông nội, nhiều lần đứng xem ông cưa, bào, đục, đẽo nên anh biết được đôi ba thao tác cơ bản. So với tôi, chừng ấy kinh nghiệm cũng đã là cả một “gia tài”. Mỗi khi thấy tôi bào lệch hay cầm dụng cụ chưa đúng cách, anh không hề chê cười, chỉ nhẹ nhàng cầm lấy chiếc bào, làm mẫu từng động tác rồi kiên nhẫn hướng dẫn.

Anh chậm rãi bảo tôi:

- Nghề nào cũng phải bắt đầu từ những vụng về đầu tiên. Ai vượt qua được cái vụng ấy thì mới thành nghề

Nghe anh nói, tôi lại mạnh dạn cầm chiếc bào lên. Đường bào tuy vẫn còn gập ghềnh, nhưng mỗi lượt đẩy đi, mặt gỗ lại phẳng thêm một chút. Cứ thế, giữa mùi gỗ xoan thơm dịu và tiếng bào sột soạt vang lên đều đặn, hai chàng trai chưa một ngày học nghề vẫn miệt mài tập làm những công việc của người thợ mộc

Phải thêm mấy ngày miệt mài cưa, bào, ghép, đóng, chiếc hòm gỗ đầu tiên mới hoàn thành. Nó chưa thật vuông vức, những đường ghép vẫn còn hở đôi chỗ, các góc mộng chưa khít như tay thợ lành nghề. Thế nhưng, khi lau sạch lớp mùn cưa phủ trên mặt gỗ rồi ngắm chiếc hòm đứng vững giữa căn phòng nhỏ, cả hai chúng tôi đều lặng người vì sung sướng. Thành quả đầu tiên của những ngày đổ mồ hôi giữa núi rừng cuối cùng cũng đã hiện hữu.

Nhìn phần gỗ xoan còn lại, anh Khuyên mỉm cười rồi nói:

- Chừng này gỗ, chắc mỗi đứa còn làm được một, hai cái hòm nữa. Thiếu thì mình xẻ thêm khúc ngọn.

Tôi nhìn theo tay anh. Khúc xoan phía ngọn tuy nhỏ hơn nhưng gỗ vẫn chắc, thớ vẫn mịn. Thế là hai anh em lại tranh thủ những buổi chiều rảnh tiếp tục kéo cưa. Vài ngày sau, toàn bộ số gỗ cũng được xẻ hết.

Chiếc hòm đầu tiên được đặt ngay trong căn phòng nhỏ. Từ hôm ấy, quần áo, giáo án, sổ điểm và giấy tờ không còn phải bó trong túi vải treo lên xà nhà hay thấp thỏm lo lũ chuột rừng cắn phá nữa. Nhìn chiếc hòm, anh Khuyên mỉm cười:

- Cái này để lại trường cho hai anh em mình dùng. Còn số gỗ kia, mỗi đứa mang một phần về quê. Sau này tự đóng lấy một chiếc hòm riêng, để mỗi lần nhìn lại còn nhớ những ngày kéo cưa ở Thượng Sơn.

Tôi gật đầu. Ý nghĩ ấy khiến cả hai đều thấy ấm lòng. Chúng tôi chia đều số gỗ còn lại, rồi dùng mũi đục khắc một ký hiệu nhỏ vào mặt trong từng tấm ván, buộc gọn thành từng bó riêng. Hai anh em hẹn nhau một phiên chợ gần nhất sẽ nhờ người trong bản có ngựa thồ mang giúp số gỗ xuống núi.

Kỳ nghỉ hè năm ấy, tôi trở về quê. Sáng hôm sau, việc đầu tiên tôi làm là mang bao tải đựng những tấm gỗ xoan ra sân. Chúng đã theo tôi vượt bao con dốc, qua bao phiên chợ vùng cao để trở về quê. Tôi kê mấy viên gạch làm giá, trải từng tấm ván xuống nền đất rồi bắt tay vào công việc đã mong ngóng suốt nhiều tuần.

Tôi cẩn thận đo đạc, cắt mộng từng tấm gỗ. Có chỗ phải làm đi làm lại nhiều lần mới khớp. Lưỡi đục trong tay lúc ấy còn vụng về, nhiều mảnh gỗ lỡ bị nứt, tôi lại kiên nhẫn gọt từ đầu. Nhưng càng làm, đôi tay càng quen việc. Những đường ghép dần khít lại, để rồi dáng hình một chiếc hòm mộc mạc hiện lên rõ ràng trước mắt.

Chiếc hòm đứng đó, thô mộc, không sơn phết, chẳng bóng bẩy. Nhưng với tôi, nó không còn là những tấm gỗ ghép lại với nhau nữa. Nó như một phần tuổi trẻ vừa được chắp nối... mang theo biết bao mồ hôi, ký ức và những ngày tháng gian khó nơi vùng cao.

Tôi không mua ổ khóa. Tôi tự uốn một thanh sắt nhỏ, dùng búa gõ từng nhịp trên nền gạch để làm chiếc móc khóa đơn sơ. Mỗi tiếng búa vang lên lại gợi trong tôi hình ảnh anh Khuyên, khoảng đất sau trường và những buổi kéo cưa đến mỏi rã cả hai cánh tay.

Khi chiếc hòm hoàn chỉnh, tôi lấy một củ nghệ già trong vườn giã nhuyễn rồi chà lên mặt gỗ. Màu vàng óng dần thấm vào từng thớ xoan, sáng lên như nắng đầu mùa. Không có vecni, không có sơn công nghiệp, chỉ có mùi gỗ mới quyện cùng hương đất quê nhà, mộc mạc mà trông đẹp đến lạ.

Chiếc hòm nhỏ tôi đặt trong buồng để cất quần áo và giấy tờ. Chiếc lớn hơn được kê dưới bếp, dùng đựng lạc, đỗ, gạo và những vật dụng lặt vặt trong nhà. Từ lúc nào không hay, chúng đã trở thành một phần quen thuộc của cuộc sống gia đình. Càng dùng lâu, tôi càng không còn xem chúng chỉ là những vật dụng. Chúng giống như những người bạn cũ, lặng lẽ đồng hành cùng tôi qua năm tháng.

Có những năm nước lũ dâng ngập nền nhà, tôi vội gom toàn bộ giấy tờ và những tấm ảnh gia đình bỏ vào hòm rồi kê lên gác bếp. Có những mùa giáp hạt, mở nắp hòm ra, tôi bắt gặp vài cum thóc nếp mà vợ tôi cẩn thận để dành từ vụ trước. Những điều nhỏ bé ấy, lại trở thành những dấu lặng ấm áp của một cuộc sống tuy không dư dả nhưng luôn đầy ắp nghĩa tình.

Có lần, mẹ tôi đứng lặng nhìn chiếc hòm khá lâu rồi mỉm cười bảo:

- Cái hòm này chắc còn bền hơn cả mấy thứ mua ngoài chợ.

Tôi nhìn mẹ, khẽ cười, gật đầu:

- Vâng, mẹ ạ!

Tôi hiểu, điều mẹ khen không chỉ là chiếc hòm bền, mà còn là những tháng năm lao động đã làm nên nó.

Bây giờ, mỗi khi các con, các cháu tò mò hỏi vì sao trong nhà vẫn còn giữ một chiếc hòm gỗ cũ kỹ như thế, tôi lại chậm rãi mở nắp hòm. Mùi gỗ xoan năm nào lặng lẽ lan khắp căn nhà, đánh thức cả một miền ký ức: những ngày ở Thượng Sơn, anh Khuyên, những buổi kéo cưa rớm máu bàn tay, những bữa cơm đạm bạc chỉ có rau dớn và vài con cá suối.

Rồi sẽ đến một ngày tôi không còn đủ sức để tự tay mở chiếc hòm ấy nữa. Nhưng tôi tin, chừng nào chiếc hòm còn được gìn giữ thì những ký ức trong nó vẫn sẽ còn sống mãi. Bởi chiếc hòm ấy không chỉ là một vật dụng cũ, mà đã trở thành một trang nhật ký bằng gỗ, âm thầm lưu giữ câu chuyện về một thế hệ đã đi qua gian khó bằng đôi bàn tay lao động, bằng nghĩa tình chân thật và niềm tin vào cuộc sống. Mỗi lần nắp hòm khẽ mở, hương gỗ xoan lại lặng lẽ lan tỏa, đưa cả một thời tuổi trẻ trở về.

Bộ VHTT&DL: Tăng cường công tác xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan

Bộ VHTT&DL: Tăng cường công tác xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan

Baovannghe.vn - Bộ VHTTDL vừa ban hành Kế hoạch Triển khai thi hành Nghị định số 341/2025/NĐ-CP ngày 26/12/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan.
Thông báo số 140-TB/VPTW về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

Thông báo số 140-TB/VPTW về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

Baovannghe.vn - Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Kỳ họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.
Khởi động Giải Báo chí toàn quốc “Vì sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam” lần thứ tư

Khởi động Giải Báo chí toàn quốc “Vì sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam” lần thứ tư

Baovannghe.vn - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTT&DL) vừa thông tin về thể lệ Giải Báo chí toàn quốc “Vì sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam” lần thứ tư với quy định, không xét các tác phẩm mang tính hư cấu, loạt bài ghép từ những bài độc lập của các tác giả cũng như tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo hoàn toàn.
Truyền thông, quảng bá về ASEAN giai đoạn 2026-2030

Truyền thông, quảng bá về ASEAN giai đoạn 2026-2030

Baovannghe.vn - Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1477/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch truyền thông, quảng bá về ASEAN giai đoạn 2026-2030 (Kế hoạch).
Thông cáo báo chí số 8, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI

Thông cáo báo chí số 8, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI

Baovannghe.vn - Thứ Hai, ngày 10/8/2026, ngày làm việc thứ tám, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.