Từ bến sông La (Hà Tĩnh) hiền hòa, hai anh em trong một gia đình thợ thủ công đã rẽ lối văn chương theo hai ngả khác biệt: một người mang bút lực vạm vỡ của "nhà văn mặc áo lính" khắc họa chân dung chiến tranh; một người lại lặng lẽ gửi tâm tình vào những bài thơ ngụ ngôn đầy triết lý nhân sinh. Cuộc đời của Đại tá Xuân Thiều và nhà thơ Cù Thâm (Nguyễn Minh Cầm) không chỉ là câu chuyện về tài năng, mà còn là minh chứng cho khí chất lãng mạn và sự bền bỉ của người con xứ Nghệ trước những biến thiên của lịch sử và số phận.
Làng Điểu Khê (Bùi Xá) là vùng quê nhỏ bình yên thuộc xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Từ một gia đình làm nghề thủ công có bốn người con, nơi đây đã chứng kiến hai tâm hồn văn chương cùng lớn lên, cùng cầm bút và đều gặt hái được những thành công đáng tự hào theo những con đường rất riêng.
Người anh cả là Đại tá, nhà văn Xuân Thiều - một cây bút trưởng thành trong khói lửa, người đã được vinh danh bằng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật. Cuộc đời ông gắn liền với màu áo lính và những trang viết hào hùng. Nếu coi văn học cách mạng Việt Nam là một bức tranh đa diện, thì Xuân Thiều là người đã vẽ nên những mảng màu chân thực và khốc liệt nhất về mảnh đất lửa miền Trung. Tên tuổi của ông gắn liền với những tác phẩm mang tầm vóc sử thi, thể hiện rõ tư duy của một nhà văn - chiến sĩ.
![]() |
| Nhà văn Xuân Thiều (bên trái) tại Trường Sơn năm 1971 - Ảnh: Tư liệu |
Trong khi đó, người em trai Nguyễn Minh Cầm lại chọn cho mình một lối đi lặng lẽ hơn nhưng cũng đầy bản sắc. Sau khi tốt nghiệp đại học tại Hà Nội, với tâm hồn lãng mạn và đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ những năm 60, ông tình nguyện lên miền núi rừng Sơn La heo hút để công tác tại Phòng Quy hoạch đô thị (Ty Xây dựng Sơn La).
Người Hà Tĩnh, nhất là những ai từng uống nước sông La, dường như đều mang sẵn trong mình mộng thơ ca. Ông Minh Cầm cũng không ngoại lệ. Giữa đại ngàn sơn cước, ngoài giờ làm việc, ông lại miệt mài bên trang giấy. Khác với người anh Xuân Thiều đa tài, ông Minh Cầm dồn hết tâm lực vào thể loại thơ ngụ ngôn với bút danh Cù Thâm.
Trái ngược với vẻ kỳ vĩ trong văn chương người anh, Cù Thâm chọn cho mình một lối đi hẹp nhưng sâu: thơ ngụ ngôn. Đây là một thể loại khó, đòi hỏi người viết phải có cái nhìn sắc sảo, hóm hỉnh nhưng cũng đầy ưu tư về cuộc đời.
Bút pháp nghệ thuật: Thơ ngụ ngôn của Cù Thâm không dừng lại ở việc mượn vật ngụ ý để răn dạy đạo đức thông thường. Ông sử dụng lối nói dân gian kết hợp với tư duy của một người trí thức ngành xây dựng, khiến mỗi bài thơ như một "bản quy hoạch" về nhân cách.
Đề tài môi sinh: Tạp chí Hội Nhà văn Việt Nam từng đánh giá cao mảng thơ về môi trường của ông. Trong những năm 60-90, khi khái niệm "biến đổi khí hậu" còn xa lạ, Cù Thâm đã có những vần thơ đầy tính dự báo. Sự ra đi của ông trong trận lũ quét năm 1991 tại Sơn La như một định mệnh nghiệt ngã, vận đúng vào những lời cảnh báo về sức mạnh phẫn nộ của thiên nhiên mà ông từng viết.
Bụi đường xe quấn khăn tang trắng đầu
Mưa về, núi lở rừng dâu
Phù sa lót biển ghi màu tang thương...
Việc ông theo đuổi ngụ ngôn - thể loại giàu tính giáo dục nhưng đang dần mai một - không chỉ là cách ký thác suy nghĩ về thế thái nhân tình của một tâm hồn hóm hỉnh, mà còn là ý thức giữ gìn di sản văn học. Thơ của Cù Thâm từng được bạn đọc và giới chuyên môn tấm tắc khen ngợi bởi sự sâu sắc và sắc sảo.
Cuộc đời nhà thơ Cù Thâm khép lại đầy đau đớn trong một trận lũ quét kinh hoàng tại Sơn La vào năm 1991. Sự ra đi đột ngột của ông không chỉ là mất mát của gia đình mà còn khiến nhiều bản thảo quý giá bị thất lạc. Hiện nay, di sản ông để lại chỉ còn sót lại tập bản thảo 15 bài thơ ngụ ngôn viết tay gửi cho con gái.
Đáng kinh ngạc thay, những bài thơ còn lại của ông đa số đều là những lời cảnh báo khẩn thiết về môi trường. Đọc lại những vần thơ ấy, người ta ngỡ như đó là một "tiên cảm" nghiệt ngã về chính số phận của ông:
| Rừng nay chừng đã lụi tàn Nhạc mưa lỡ nhịp, suối đàn còn đâu Tháng ba mây vắng trời cao Lửa nung rừng cháy một màu hồng hoang Suối khe nằm thở khô khan Bụi đường xe quấn khăn tang trắng đầu Mưa về, núi lở rừng dâu Phù sa lót biển ghi màu tang thương... |
Lời kêu gọi Ai ơi trả lại cho rừng/ Tán xanh bát ngát chim mừng hót ca của ông đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời đại.
Dù cha và chú đã đi xa, nhưng các con của nhà văn Xuân Thiều (như Thiều Quang, Thiều Quyên, Thiều Nam) và các con của nhà thơ Cù Thâm (như Quỳnh Lâm, Quỳnh Vân) đều đã khôn lớn, trở thành những doanh nhân thành đạt. Họ luôn yêu thương, dìu dắt nhau và gìn giữ niềm tự hào về sự nghiệp của cha ông.
![]() |
| Nhà báo Triệu Phong cùng Nguyễn Thiều Quang - con trai nhà văn Xuân Thiều bên tượng của cha |
Anh Nguyễn Thiều Quang từng tâm sự đầy tiếc nuối: "Ngày tôi ở Ukraina, tôi đã nhiều lần muốn đón chú sang chơi. Nhưng chưa kịp thì ông đã ra đi. Với sự nghiệp văn chương, cha tôi và chú tôi mỗi người theo đuổi một dòng, nhưng ai cũng có những thành công đáng tự hào".
Tháng 7 năm 1991, khi đang dự trại sáng tác tại Đồ Sơn, nhà văn Xuân Thiều nghe tin em tử nạn do lũ cuốn. Đứng trước nấm mồ của người em thông minh, phúc hậu, ông đã thốt lên lời khóc xé lòng, kết tinh nỗi đau của người ở lại:
- Máu chảy ruột mềm, anh thắp hương cho em, đất hỡi!
- Tu nhân tích đức, phúc không ngăn được họa, trời ơi!
Hai anh em người làng Điểu Khê, dù một người nằm lại nơi đất mẹ, một người trên đỉnh Ba Vì mây trắng bay, nhưng những trang văn, ý thơ của họ vẫn mãi là một phần tâm hồn của vùng quê sông La hiền hòa.