Chuyên đề

Hồn thơ cất lên tiếng nói trữ tình, thông thái, nhân văn

Câu chuyện văn hoá 08:09 | 15/11/2021
Ngày 16 tháng 4, 1937, tờ báo Pravda của Liên Xô cũ đã xuất bản một bài thơ thay mặt cho giới trí thức Baku (Đứng tên các nhà văn nổi tiếng như Samad Vurgun, Rasul Rza, Suleyman Rustam) bày tỏ lòng biết ơn Hội nhà văn Liên Xô và các nhân sĩ Nga, Azerbaijan và nhiều nơi đã đấu tranh thành công vì đã “trả lại” tên Nizami cho Azerbaijan
aa

Năm 2021 này có 1 sự kiện văn hóa quan trọn của Azerbaijan, đó là kỷ niệm 880 năm ngày sinh của nhà thơ, nhà tư tưởng vĩ đại Azerbaijan- Nizami Ganjavi. Tên thật của ông là Ilyas Yusif oglu (1141-1209), đó là một nhà thơ và là nhà triết học vĩ đại người tộc Azeri.

Ông sinh ra trong một gia đình thợ thủ công, được học ở Madrasah và tự mình nghiên cứu một cách hoàn hảo các ngành khoa học trung cổ thời đó. Nizami cũng được tiếp cận với các tác phẩm văn học nói và viết của vùng Cận Đông nên tác phẩm của ông rất giàu tư tưởng vừa mang tính độc đáo và đa thanh. Các tác phẩm của Nizami Ganjavi đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và rất được trân quý. Nhiều bản viết tay độc đáo của ông được lưu giữ và bảo vệ trong các thư viện, bảo tàng và quỹ nổi tiếng của Moscow, St. Petersburg, Baku, Dashkend, Tebriz, Tehran, Gahira, Istanbul, Deli, London, Paris và nhiều nơi khác trên thế giới như những viên ngọc lấp lánh giá trị vĩnh cửu. Số phận các tác phẩm của ông và tên tuổi ông lúc đầu gặp phải sự trắc trở do một số nước đều nhận ông là người của nước họ chỉ vì một lý do chính là Nizami viết hầu hết các tác phẩm của mình bằng tiếng Iran.

Ngày 16 tháng 4, 1937, tờ báo Pravda của Liên Xô cũ đã xuất bản một bài thơ thay mặt cho giới trí thức Baku (Đứng tên các nhà văn nổi tiếng như Samad Vurgun, Rasul Rza, Suleyman Rustam) bày tỏ lòng biết ơn Hội nhà văn Liên Xô và các nhân sĩ Nga, Azerbaijan và nhiều nơi đã đấu tranh thành công... vì đã “trả lại” tên Nizami cho Azerbaijan.

Nizami được coi là nhà thơ sử thi lãng mạn vĩ đại nhất trong văn học Ba Tư và xung quanh, người đã mang đến một phong cách đời sống thực tế và hiện thực cho sử thi Ba Tư. Di sản của ông được đánh giá cao và chia sẻ bởi Afghanistan, Azerbaijan, Iran, khu vực Kurdistan và Tajikistan cùng Iran đậm chất lãng mạn sử thi, huyền bí. Thơ ông có một phong cách thanh lịch thông thái và làm cho thơ đầy những tưởng tượng. Ngoài ra, cuốn Bản thảo của Hamsa là một kiệt tác nghệ thuật về đời sống Hồi giáo, với một bản thu nhỏ thế giới người dân, thiên nhiên tuyệt đẹp của những vùng Nizami sinh sống được vẽ bởi thi ca. Tác phẩm có một tổng thể gồm năm phần gọi là “Hamse”, trong đó Hosuro and Sealain, Lila and Majune, The Seven Person nổi tiếng. Nizami là một ví dụ về một nhà thơ Azerbaijan, người đã viết bằng tiếng Ba Tư theo xu hướng chung là vay mượn tôn giáo, ngôn ngữ và văn học từ Ba Tư của người Azerbaijan. Ông là quê gốc ở vùng Qom nhưng có biệt hiệu là “Gyanjevi” (nghĩa là người sinh ra và lớn lên ở Gyanja) vì ông đã dành phần lớn cuộc đời mình ở Gyanja (nay là Elizavetpol, Azerbaijan), nơi ông qua đời. Nizami chưa bao giờ rời khỏi Ganja, ông từ chối cơ hội trở thành một nhà thơ riêng của Cung đình và tự thu xếp cho mình có một cuộc sống lương thiện dù khó khăn nhưng tự do ít câu thúc. Khoảng năm 1169-1970, lãnh chúa cai trị vùng là Darband, Seyfaddin Muzaffar ban cho Nizami một cô gái nô lệ người Kipchak tên là Afal (Appag-White), sau này đã trở thành vợ của ông.

Nhà thơ Nizami sống trong một thời đại vừa bất ổn chính trị, cuộc sống không dư giả, lại hoạt động trí óc căng thẳng, xã hội có nhiều mâu thuẫn... những sự vật được những bài thơ của ông phản ánh đầy sáng tạo; nhưng ít người biết về cuộc đời của ông, mối quan hệ của ông với những người bảo trợ, hoặc niên đại chính xác của các tác phẩm của ông, vì lời kể có của những người viết tiểu sử sau này được tô màu bởi nhiều huyền thoại được xây dựng xung quanh nhà thơ. Mặc dù ông đã để lại một kho thơ trữ tình nhỏ, Nizami được biết đến nhiều nhất với những bài thơ trường ca tự sự rất dài, trong đó Haft Paykar, được hoàn thành vào năm 1197, là kiệt tác được thừa nhận rộng rãi của ông.

Nizami thường được gọi bằng cái tên kính trọng Hakîm (nhà hiền triết), Nizami vừa là một nhà thơ uyên bác vừa là thi sĩ bậc thầy của phong cách trữ tình và gợi cảm. Thơ bằng tiếng Ba Tư lần đầu tiên xuất hiện ở phương Đông, nơi vào cuối thế kỷ X-đầu thế kỷ XI, rồi phát triển mạnh mẽ tại các lãnh thổ của người Samanids ở Bukhara và những người kế tục họ là tộc Ghazvanids, tập trung ở miền đông Iran và Afghanistan. Khi người Ghazvanids bị người Thổ Seljuk đánh bại vào năm 1040 và đó mở rộng quyền lực của họ về phía tây sang vùng Iraq, nơi chủ yếu dùng tiếng Ả Rập, từ đó hoạt động văn học Ba Tư cũng lan rộng về phía tây đến vùng Seljuk. Ở Azerbaijan, nơi có nhiều ngôn ngữ và phương ngữ được sử dụng, ngôn ngữ gốc là phương ngữ địa phương Âzarî; nhưng với sự gia tăng các cuộc di cư về phía tây của người Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ XI, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ đã trở nên phổ biến. Khi vào thế kỷ thứ XII, người Seljuks mở rộng quyền kiểm soát của họ vào khu vực, các thống đốc tỉnh của họ, các lãnh chú địa phương hầu như tự trị, đã khuyến khích sử dụng ảnh hưởng của văn hóa Ba Tư. Vào giữa thế kỷ XII, nhiều nhà thơ quan trọng được hưởng sự bảo trợ của các lãnh chúa những khu vực thuộc Azerbaijan nên đã phát triển một phong cách thơ “Azerbaijan” đặc biệt bằng tiếng Ba Tư, tương phản với phong cách “Khurasani” hoặc “Phương Đông” ở sự tinh tế trong tu từ, cách sử dụng sáng tạo của phép ẩn dụ, và sử dụng thuật ngữ kỹ thuật và hình ảnh lịch sử văn hóa Cơ đốc.

Mặc dù nguồn hỗ trợ chính cho các nhà thơ là sự bảo trợ của triều đình các lãnh chúa, nhưng nhà thơ dường như đã trốn tránh cuộc sống của Cung đình đầy luật lệ gò bó. Người ta cho rằng ông làm như vậy để bảo tồn tính độc lập và tính toàn vẹn trong nghệ thuật của minh… Không có gì phải nghi ngờ về khả năng nghiên cứu, tự học phi thường của Nizami với sự thông thạo nhiều lĩnh vực. Những bài thơ của ông cho thấy tri thức bách khoa về văn học Ả Rập và Ba Tư thông hiểu âm nhạc, nghệ thuật thị giác; các truyền thống văn hóa địa phương, văn học dân gian truyền miệng và văn học viết, am hiểu các lĩnh vực đa dạng như toán học, hình học, thiên văn học và chiêm tinh học, thuật giả kim, y học, chú giải kinh Koran, Hồi giáo, thần học, cùng luật pháp, lịch sử, dân tộc, triết học (kể cả các tư tưởng bí truyền)...

Thời cận đại, Nizarni đã dần có vị trí trong văn đàn trong nước và quốc tế. Trong cuốn Tiểu sử danh nhân Bibliotheque orientale của D’Herbelot, học giả đầu thế kỷ XIX ở Hungary là Wilhelm Bacher và học giả Nga gốc Đức là Franz von Erdmann đã đề cập đến nhà thơ và các tác phẩm của ông. Sự quan tâm ngày càng tăng (chủ yếu ở Nga và Đức) trong suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Một số học giả đã tìm cách dựng lại cả tiểu sử và niềm tin của Nizami từ những lời tuyên bố trong các bài thơ của ông, nhưng không mấy thành công.

Thời Nezami sống, miền Tây - Bắc Iran (Azerbaijan và cả vùng Kapkage ngày nay) là trung tâm mới nổi của văn học Ba Tư, thơ ca vùng Tây - Bắc có những nét khác biệt so với vùng đông - bắc (Khorasan). Nezami là đại diện tiêu biểu nhất của trường phái Tây - Bắc này. Tác phẩm của Nezami còn lại cuốn Divan bao gồm khoảng hơn 100 bài thơ các thể loại còn đến ngày nay. Theo các chuyên gia nghiên cứu giai đoạn Trung cổ, đây chỉ là một phần nhỏ kho tàng thơ trữ tình của ông. Ngoài ra, tác phẩm Khamse gồm 5 trường ca, còn giữ lại được đầy đủ đến ngày nay là một di sản vô giá. Khamse là một tác phẩm đồ sộ gồm các phần: Makhzan al-Asrar (Kho báu bí ẩn, 1163-1176); Khusraw o Shirin (Khosrow và Shirin, 1177-1180); Layli o Majnun (Layla và chàng điên, 1192); Haft Peykar (Bảy người đẹp, 1196); và Iskander Name (Sách về Alexandros Đại đế, khoảng 1203)

*

Nizami Ganjavi bắt đầu sự nghiệp với những bài thơ trữ tình. Ca từ của Nizami nổi bật với tính chuyên nghiệp cao, thái độ yêu đời và tư tưởng nhân văn về số phận của con người. Nizami Ganjavi đã bước chân vào nền văn học thế giới với Khamsa (Quintiple), một tập thơ gồm 5 trường ca vừa kể trên. Các tác phẩm của Nizami, trước hết đã toát lên tinh thần đặc biệt tôn trọng nữ giới của ông, ông chứng minh rằng một người phụ nữ có thể tham gia vào nhiều hoạt động một cách bình đẳng, điều đáng nói là xã hội lúc đó và ngay cả bây giờ phụ nữ ở nhiều nước Hồi giáo vẫn chịu sự phân biệt đối xử. Với chủ đề tình yêu, ông cũng có những sáng tạo lý thú, góc nhìn riêng. Những bài thơ của Nizami Ganjevi đã đóng một vai trò to lớn trong việc làm phong phú thêm chủ đề tình yêu, vốn đã phổ biến rộng rãi trong văn học phương Đông.

Nội dung Chuyện tình Layla và chàng điên, là truyền thuyết tình yêu nổi tiếng thế giới, cũng giống như Romeo và Juliet. Trường ca Layli o Majnun của Nezami khai thác truyền thuyết Ả Rập này. Đấy là mối tình bất hạnh của chàng trai Qays yêu cô gái Layla, bị bố mẹ gả cho người khác. Qays bị mắc bệnh tâm thần (tiếng Ả Rập: Majnun – nghĩa là kẻ điên vì tình), bỏ đi về sa mạc làm thơ về người yêu. Layla đau khổ vì không lấy được Qays nên đã chết, sau đó Qays tìm đến mộ Layla và chết ở đó.

Họ ngủ say bên nhau đến muôn đời

Họ ngủ say bên nhau đến ngày Phán xét…

Tác giả tự đặt cho mình câu hỏi: những kẻ yêu nhau nhận được gì vì những nỗi đau khổ nơi trần thế? Và trong một giấc mơ tác giả nhìn thấy ở thiên đường có hai linh hồn quấn quýt bên nhau… Ý nghĩa của trường ca này là tình yêu chỉ có thể tìm thấy lối thoát ở thơ ca, để thơ ca dẫn những kẻ yêu nhau đến sự hòa nhập tâm hồn.

Những bài sau theo thể Rubaiyat, làm cho người đọc cảm động, khâm phục tình yêu nam nữ mãnh liệt trong thơ Nizami:

Nuối tiếc

(Đầu đề do người dịch đặt)

Em khóc ở chốn nào, sao mình lại chia tay

Nơi này anh nhớ mãi hình bóng yêu kiều

Anh say mê vẽ khuôn mặt em trên mặt đất,

Rồi quỳ xuống, mắt anh lệ tuôn đầy

(Dịch: Lê Thanh Bình)

Nizami Ganjavi đã đưa những lý tưởng nhân văn cao cả và những thành tựu mới vào văn học của các quốc gia Cận Đông và mở ra một hướng đi mới trong văn học phương Đông. Ông luôn cố gắng kết nối văn học với cuộc sống, mặc dù lấy những hình ảnh từ lịch sử nhưng biến hóa chúng với màu sắc đương đại. Với khung cảnh 1 quán rượu, ông cũng khắc họa nên những triết lý cuộc đời sâu sắc.

Một bài ghazal nổi tiếng của Nezami nói về lòng vị tha như là con đường để đạt được mục tiêu tinh thần cuối cùng:

Quán rượu cuộc đời

(Đầu đề do người dịch đặt)

Tôi đến Quán rượu tối qua, nhưng không được chào đón,

Tôi đã gầm lên nhưng không ai nghe tôi

Không ai trong số những người bán rượu còn thức

Hay tôi là “không ai cả”, nên không ai mở cửa cho “Không ai cả”

Có thể muộn hơn hoặc gần nửa đêm đã trôi qua

Một người đàn ông hoàn hảo, sắc sảo (rind) ngẩng đầu lên khỏi gian hàng và lộ mặt

Tôi nói: “mở cửa”, nhưng anh ta nói với tôi: “Đi đi, đừng nói nhảm!

Vào giờ này, không ai mở cửa cho bất kỳ ai

Đây không phải là một nhà thờ Hồi giáo, nơi cửa mở bất cứ lúc nào

Nơi bạn có thể đến muộn và thậm chí được ngồi xuống hàng đầu tiên

Nhưng đây là Quán rượu “Các đạo sĩ nhiều kỹ xảo”

Có Người đẹp, nến, rượu, đường, sáo sậy và các bài hát...

Bất cứ điều kỳ diệu nào tồn tại, đều có mặt ở đây

Quán rượu này có đủ người Hồi giáo, Armenia, Zoroastrian, Nestorian và người Do Thái

Nếu bạn đang muốn tìm kiếm tổng hòa sự kỳ diệu ở đây,

Bạn phải trở thành một hạt bụi dưới chân mọi người để đạt được mục tiêu thăng hoa tâm hồn (sự hoàn thiện về tinh thần)

Hỡi Nizami! nếu bạn gõ cửa này cả ngày lẫn đêm

Bạn sẽ không tìm thấy ngoại trừ khói từ ngọn lửa đang nghi ngút.

Là một nhà thơ nhân đạo luôn cảm thông thấu hiểu nhân quần, ông hát về con người, phẩm giá của con người. Những tư tưởng sáng suốt, xuất phát từ sự sáng tạo và tri thức của loài người, cùng với những mong muốn, ước mơ của con người đã được Nizami thể hiện một cách khéo léo trong các tác phẩm của mình, hoàn hảo về ý nghĩa và hình thức.

Cầu Thánh Alla

(Đầu đề do người dịch đặt)

Cầu đức Alla đánh thức người yêu con dậy,

Nàng đang say vì uống cạn chén khổ trên đời

Đợi nàng tỉnh hay con cũng say buồn khổ,

Ngài hãy nói: con đây khổ cũng là vì nàng đấy

(Dịch: Lê Thanh Bình)

Dày vò vì yêu

(Đầu đề do người dịch đặt)

Không ai chia xẻ, nức nở chỉ mình tôi,

Thoi thóp thôi, phí phạm khi chờ đợi?

Từng hơi thở vẫn về em trong tâm tưởng,

Cầu mong chẳng ai bị đau khổ dày vò

(Dịch: Lê Thanh Bình)

Nizami là nhà thơ đầu tiên của nền văn học phương Đông miêu tả phụ nữ với những phẩm chất nhân văn cao đẹp. Ông đối lập hình ảnh người phụ nữ dũng cảm, anh dũng, đức độ, mang hình ảnh đấu tranh với hình ảnh một người đàn ông không có phẩm chất con người, thái độ của ông là dứt khoát, không khoan nhượng với hạng đàn ông tồi tệ mà cái xấu đã thành bản chất của họ..

Không thể lấy ngọc tốt ra khỏi chuỗi từ người anh ta, kẻ xấu xa vội chạy trốn.

Bản chất xấu xa hành động nhất quán: em không nghe nói rằng Bản chất sai lầm sao?

Người đàn ông có bản chất xấu xa không giữ đức tin; bản chất hắn dần lụn bại,

Bọ cạp có bản chất xấu xa- để nó sống là lầm lỗi, giết nó đi thì tốt.

Hãy tìm kiếm kiến thức, thông qua kiến thức, cánh cửa cuộc đời trước em được mở ra và không bị đóng kín.

Người không biết xấu hổ vì thất học sao có thể lấy được em- Ngọc trai dước nước, hồng ngọc từ đá.

Trong khi anh ta không tích lũy kiến thức nào - người đó xấu hổ khi phải học.

Bao nhiêu người tổn hao tâm trí, nỗ lực bán đồ gốm ế ẩm vì suốt đời không tìm được ngọc quý!

Thử hỏi có bao nhiêu người ngu ngốc, thiếu dạy dỗ, trở thành quan tòa của chính cuộc đời nay.

Có thể Nizami Ganjavi là một trong những người đầu tiên trong Văn học phương Đông ca ngợi sự lao động, coi đó là điểm khác biệt chính của con người so với những loài động vật khác. Theo nhà thơ, chỉ có người đàn ông yêu lao động mới đáng được kính trọng và yêu mến.

Trên đỉnh Beysitouch cao như chạm phải mặt trời đang lên

Chớ coi thường những lao động bền bỉ, ai đó đã bắt đầu tạc tượng:

Ngọn núi rung chuyển trước âm thanh vang vọng

Đá rơi xuống, từ hai bên vách núi ấy bật lại.

Không có thời gian nghỉ ngơi mỗi ngày, tất cả mọi phù phiếm đều bị từ chối,

Không có thỏa hiệp, không có tạm dừng, chỉ có vung tay búa, đục vào đá như sấm sét tóe lửa;

Màn sương đêm vây quanh những dây leo và cây to trên đỉnh núi lộng gió,

Nhưng Ferhad, người tình-nghệ sĩ, vẫn miệt mãi đục, gõ...

Những tia sáng từ chiếc rìu của anh cứ lóe lên giữa các tảng đá

Anh thở dài để tránh gió, “Ôi! Shireen của anh!

….

(Khổ công của chàng Ferhad)

Nizami cũng là một người yêu nước sâu sắc. Trong mỗi tác phẩm, ông cố gắng kết nối các sự kiện được mô tả với Azerbaijan và ngợi ca truyền thống văn hóa, vẻ đẹp thiên nhiên, con người của đất nước. Với ông, văn học dân gian truyền miệng Azery - truyền thuyết, truyện kể và tục ngữ - được sử dụng rộng rãi và khéo léo trong bút pháp của mình. Câu từ của ông sau đó ảnh hưởng ngược lại đáng kể đến văn hóa dân gian Azery. Bài thơ sau của ông toát lên tinh thần nhân văn và lý tưởng sống của tác giả:

Linh hồn tôi

(Đầu đề do người dịch đặt)

Hãy lắng nghe tiếng gà gô sung sức, sứ giả của đá,

Khi bạn đặt tay lên ngôi mộ của tôi,

Hãy khấn gọi linh hồn trong sạch tôi hằng có,

Bạn càng khẩn thiết, tôi sẽ càng trao cho bạn ánh sáng của tôi.

Bất kỳ điều ước hay ước mơ nào nếu tôi nghe thấy từ bạn,

Tôi sẽ nguyện: Amin, để điều ước của bạn thành hiện thực.

(Dịch: Lê Thanh Bình)

*

Tác phẩm của Nizami Ganjevi là đỉnh cao của thời kỳ Phục hưng phương Đông, chứa đựng sự phản ánh nghệ thuật tươi sáng của những lý tưởng nhân đạo về nền chính trị- xã hội và đạo đức cao cả nhất trong thời đại ông từng trải qua. Việc mô tả thế giới nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của một người chính trực cùng với sự phát triển năng động và các nét tính cách của người lương thiện là mục tiêu và nội dung cơ bản của trường phái văn học Nizami. Sự sáng tạo của Nizami đóng một vai trò to lớn trong sự phát triển của văn học nghệ thuật phương Đông. Kể từ cuối thế kỷ XVII, sự quan tâm đến di sản của Nizami Ganjevi đã lan rộng ở châu Âu và Nga: các tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Anh, Đức, Pháp, Italy, Tây Ban Nha, Nhật Bản và nhiều ngôn ngữ khác; cuộc đời và sự sáng tạo của ông đã được nghiên cứu khá toàn diện, tuy nhiên vẫn có những chi tiết chưa sáng tỏ, nhưng điều đó không ảnh nhiều đến việc tỏa sáng của cuộc đời và thi phẩm Nizami.

Trong thế kỷ XXI này, giá trị thơ ca và chỗ đứng trong thi đàn phương Đông và quốc tế của Nizami ngày càng lan tỏa. Tại Hội thảo ngày 28/10/2021 do sứ quán Azerbaijan tại Hà nội phối hợp với Hội đồng phê bình học nghệ thuật TƯ, Trung tâm khoa học, văn hóa, lịch sử Azerbaijan tổ chức, đã góp phần thúc đẩy thêm giao lưu văn học giữa 2 nước. Những người dự Hội thảo thảo và những ai quan tâm đến văn hóa nghệ thuật nước ngoài lại có dịp làm quen thêm một nhà thơ vĩ đại, đặc sắc của Azerbaijan, được thưởng thức những vần thơ mà bước đầu chúng tôi đã cố gắng trích, dịch, vì dù sao vẫn còn chưa được phổ biến ở Việt Nam - một trong những đất nước yêu thơ trên thế giới.

Trước khi kết thúc bài viết, xin trích dẫn từ Nizami một trong những câu cách ngôn nổi tiếng của ông:

“Chỉ có một con người đúng nghĩa mới làm hài lòng mắt nhìn của người đời.

Chỉ có những linh hồn thanh thoát mới là ước muốn và có giá trị đối với chúng ta”.

_______

  1. PGS.TS. Nguyên Vụ trưởng, hiện là GVCC Học viện Ngoại giao

Nguồn Văn nghệ số 46/2021


Bộ Chính trị định hướng thể chế vượt trội cho TP. Hồ Chí Minh

Bộ Chính trị định hướng thể chế vượt trội cho TP. Hồ Chí Minh

Baovannghe.vn - Ngày 15/5 tại Hà Nội, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ Chính trị đã họp cho ý kiến về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 31-NQ/TW về phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Nghệ An: Tổ chức triển lãm “80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”

Nghệ An: Tổ chức triển lãm “80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”

Baovannghe.vn - Trong khuôn khổ Lễ hội Làng Sen năm 2026, ngày 19/5, tại Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh, sẽ diễn ra triển lãm chuyên đề 80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 19/12/2026).
“Tuổi thơ dữ dội” của nhà văn Phùng Quán lên sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ

“Tuổi thơ dữ dội” của nhà văn Phùng Quán lên sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ

Baovannghe.vn - Mới đây, Nhà hát Tuổi trẻ Việt Nam đã chính thức khởi dựng vở nhạc kịch Tuổi thơ dữ dội. Tác phẩm được chuyển thể từ tác phẩm nổi tiếng cùng tên của nhà văn Phùng Quán, do đạo diễn, NSƯT Lê Ánh Tuyết dàn dựng với phần biên kịch của Bùi Hồng Quế.
Hành trình “truy vết” ma cà rồng trong văn hóa bản địa Việt Nam

Hành trình “truy vết” ma cà rồng trong văn hóa bản địa Việt Nam

Baovannghe.vn - Ma cà rồng ba tiếng ấy vang lên, không nghi ngờ gì, hầu hết sẽ dẫn độc giả phổ thông đến với hình dung về một con “ma Tây” với mái tóc dài xõa xượi, bộ răng nanh chết chóc sẵn sàng cắm phập vào tĩnh mạch của kẻ xấu số và đương nhiên đem đến một cái chết thảm khốc.
Cần thì hỏi AI. Truyện ngắn của nhất pi

Cần thì hỏi AI. Truyện ngắn của nhất pi

Baovannghe.vn- An là con gái lớn trong một gia đình phổ thông ở một xã nhỏ vùng trung du. Ba mẹ cô đều làm công nhân ở khu công nghiệp.