Thế đó, từ cuối đoạn đèo Lò Xo của đường Hồ Chí Minh phía Đăk Glei, một tỉnh lộ nhỏ, hẹp, ngoằn ngoèo trườn đi giữa rừng xanh núi thẳm vời vợi của dãy Ngọc Linh. Thi thoảng một ụ đất tươi ở sườn dốc tràn xuống, vừa được ngành giao thông cày ủi ra taluy đường, một cây rừng đường kính vài mươi phân, cành lá còn xanh cũng như vừa mới được dọn dẹp.
Ô tô, xe máy gì cũng thế, cứ trườn dần theo tỉnh lộ mà đi. Đi mãi, đi mãi. Rồi ở một khúc quanh nào đó bỗng hiện ra cái gì đó. Có thể bạn sẽ phải dụi mắt vì không tin. Đó là Mường Hoong! Nó hiện ra như bức tranh kì ảo với những thửa ruộng bậc thang nhiều màu sắc, những mái nhà sàn chênh vênh giữa sườn núi, chìm trong mây, những đám cải lên ngồng vàng hoe trong nắng chiều rớm lạnh, những cánh đại bàng sải ung dung trên vòm trời như chiếc ô trong suốt chở che cả vùng thung lũng rộng lớn. Vâng, bạn không hề gặp ảo ảnh. Đó chính là Mường Hoong.
![]() |
| Minh họa Đỗ Dũng |
Nhưng lần này tôi đến Mường Hoong không phải để chiêm ngưỡng cảnh đẹp, cũng không bởi lời mời gọi chân tình của những người bạn hào hiệp. Mà là để tìm gặp nhân chứng của một câu chuyện tình truyền đời kì lạ, thật kì lạ. Kì lạ đến nỗi nghe lần đầu ai cũng sửng sốt, ngờ vực. Nhưng chuyện phải có đầu có đuôi. Trước hết, bạn phải tự hỏi tại sao có địa danh Mường Hoong? Dù nằm ở phía bắc Tây Nguyên, nhưng cả Tây Nguyên từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây, tất cả đơn vị cộng đồng của cư dân bản địa chỉ có buôn, làng, bon, sóc… Mường là cách gọi ở miền Bắc hoặc phía nước bạn giáp ta. Vậy tại sao lại là Mường Hoong? Nhiều người lí giải, cách nào nghe cũng xuôi tai, nhưng tôi nghiêng về cách giải thích của một nhà văn, nhà văn hóa và từng là người lính bám trụ ở Tây Nguyên qua hai cuộc kháng chiến vệ quốc trường kì, đó là nhà văn Nguyên Ngọc. Theo ông, từng có thời gian nào đó, vào thuở xa xưa không ai nhớ, chiến tranh giữa các bộ lạc xảy ra. Và rồi, một nhóm người thuộc một tộc người nào đó ở phía Bắc hay tận Miên, Lào men theo hoặc vượt dãy Trường Sơn lưu lạc vào đây. Họ định cư và gọi nơi đây theo cách tổ tiên gọi: xứ Mường. Thế đó. Xứ Mường, Mường Hoong là miền quê đẹp như tranh vẽ, nằm giữa lưng chừng ngọn Ngọc Linh huyền bí. Như là ngọn núi ảo ảnh trong một bút kí trác tuyệt của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Trở lại với những câu chuyện tình ở Mường Hoong. Quả thật, đã đi nhiều nơi, nghe nhiều câu chuyện li kì, có chuyện như huyền thoại, nghe xong cứ thắc thỏm liệu có thật hay không? Vậy nhưng, câu chuyện tôi sắp kể có thật trăm phần trăm và nửa câu chuyện đầu đã có sự chứng thực của nhà văn Nguyên Ngọc. Phải, xin hãy nghe đại lão nhà văn này kể trong một bài kí ngắn có tên Lửa nguyên thủy vừa mới in lại trong tập Các bạn tôi ở trên ấy (Nxb Phụ nữ Việt Nam, 2021). Chuyện rằng, sau ngày đất nước thống nhất, có chàng trai vốn là lính tên Nguyễn Văn Năm quê ở Phú Thọ. Chàng trai này chiến đấu vùng Gia Lai - Kon Tum, vì lí do gì đó chẳng hạn như giao thông thời ấy trắc trở, hay đau ốm, hay một lí do khác đã không về quê sau ngày phục viên. Nguyễn Văn Năm ở lại và làm việc cho một đơn vị lâm nghiệp thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum thời bấy giờ, nơi ở lâu nhất của ông là huyện Đăk Glei dưới chân đèo Lò Xo của trục đường 14. Rồi sau đó, trong một lần lăn lội vào Mường Hoong, ông gặp mối tình sét đánh với cô gái gốc dân tộc Châu tên là Y Thố.
Chuyện đến đây có người thắc mắc về dân tộc Châu. Thì chính tôi cũng đã từng thắc mắc như vậy. Trong lần trở lại Mường Hoong, anh Y Ban (lúc này chưa sáp nhập đơn vị hành chính) là Chủ tịch Hội Nông dân xã Mường Hoong. Anh tự nhận mình gốc gác người Châu và kể. Chuyện nghe từ đời ông, đời cha rằng anh và khoảng vài mươi hộ quanh đây thuộc một dân tộc khác với các dân tộc cùng cư ngụ quanh dãy Ngọc Linh như Xơ Tiêng, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Rơ Mâm… Anh còn khẳng định, người Châu có tiếng nói riêng, khi nói với nhau thì người ngoài không hiểu được. Y Ban còn kể thêm về phong tục tập quán nhưng tôi tin, chỉ với một dấu hiệu ngôn ngữ thôi cũng đã có thể xếp một nhóm người vào một tộc người riêng biệt. Còn việc định danh dân tộc Châu hay Chu là vấn đề của các nhà ngôn ngữ học, dân tộc học.
Quay lại với chuyện tình của ông Nguyễn Văn Năm và sơn nữ Y Thố. Y Ban dẫn tôi tìm gặp gia đình người con trai của anh Nguyễn Văn Năm với bà Y Thố là anh Nguyễn Văn Nguyên. Thực tình tôi muốn mắt thấy, tai nghe câu chuyện tình hi hữu này bởi lẽ những thông tin trong bài kí Lửa nguyên thủy của nhà văn Nguyên Ngọc còn khá sơ sài. Trầm ngâm bên bếp lửa, rít một hơi thuốc dài, anh Nguyên kể: Cha tôi quê Phú Thọ, sau năm 1975, gia đình chờ mãi không thấy ông về. Hóa ra, thời điểm năm 1981, ông vẫn sống ở đây, làm việc trong Liên hiệp xí nghiệp Đăk Glei. Liên hiệp xí nghiệp giải thể, ông lăn lội vào Mường Hoong lập nghiệp, làm cán bộ thôn rồi cán bộ xã. Tiếp đến ông gặp mẹ kế tôi là bà Y Thố. Tôi hỏi, bấy giờ cha anh bao nhiêu tuổi? Anh Nguyên đáp, cha tôi bấy giờ khoảng 43 tuổi, còn mẹ Y Thố chừng 17, 18 tuổi. Theo lời kể của anh Nguyên, ông Nguyễn Văn Năm trước khi vào chiến trường đã lập gia đình, có hai con trai, Nguyễn Văn Nguyên là con thứ, sinh năm 1966. Nguyên kể tiếp, tôi lớn lên không thấy cha về. Một thời gian, mẹ tôi mất, tôi cũng lấy vợ sinh con ở quê nhà Phú Thọ. Nhưng mong mỏi tìm cha cứ thôi thúc. Từ năm 1990, tôi quyết định khăn gói tìm cha. Không đếm hết bao nhiêu đợt đi rồi về. Nghe nói cha chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên nhưng Tây Nguyên thì mênh mông quá. Cứ nghe ai kể về một người Kinh từng là lính đang ở buôn làng nào đó là tôi lại tìm đến nhưng vẫn không gặp. Cho đến năm 1994, một ngày hên xui đưa đẩy tôi đến Đăk Glei và nghe nói có một người Kinh từng là lính đang làm bí thư xã Mường Hoong. Ngày ấy đường chưa mở, tôi đi bộ từ Đăk Glei vào Mường Hoong đúng 10 ngày, đói thì nhổ sắn nương nướng ăn, khát thì xuống suối, tối leo lên cây ngủ. Ơn trời, người tôi tìm gặp đúng là… cha tôi.
Chuyện đến đây và cuộc trùng phùng đã là li kì. Nhưng chưa, hãy còn li kì hơn. Anh Nguyên kể tiếp, tôi vào đây nghĩ gặp được cha, biết cha còn sống là quay về lại quê. Vậy nhưng, không hiểu vì sao… Anh Nguyên cúi đầu xuống giọng trầm hẳn, ngày vào đây tôi cũng có vợ và hai cháu ở quê. Nhưng vào đây rồi, có cái gì đó cứ níu chân tôi. Tôi đành lòng gởi thư cho vợ và đi đến quyết định gắn bó với mảnh đất này. Tôi chia tay vợ cũ ở quê và lấy một nàng con gái dân tộc Châu bà con xa với mẹ kế Y Thố là cô Y Bia. Tôi cũng lặng người trong giây lát khi nghe anh Nguyên kể. Chuyện đời với tình yêu sét đánh thật khó và cũng thật dễ lí giải. Biết làm sao được khi mỗi bước đường đời của mỗi số phận đều có những rủi may gọi tên là định mệnh chăng?
Anh Nguyên định cư ở Mường Hoong, đi học trường Phát thanh - Truyền hình ở Phủ Lý rồi về công tác tại Trạm Phát thanh và Truyền hình của xã. Chuyện cũ đã nguôi ngoai, tình mới cũng đã nồng lên. Nhưng câu chuyện tình với những sơn nữ người Châu thì bắt đầu vòng lặp mới. Là bởi ở quê nhà, hai đứa con của anh Nguyễn Văn Nguyên tên là Nguyễn Văn Anh và Nguyễn Văn Hùng cũng lên đường vào Tây Nguyên tìm cha. Bấy giờ Mường Hoong đã có đường ô tô vào tận nơi, hẹp nhưng không phải là đường đất. Cuộc sống ở đây cũng không còn như xưa, vườn tược xanh mướt mát, những thửa ruộng bậc thang vắt vẻo lưng trời. Cái đẹp của thiên nhiên như thấm vào những đôi mắt có lửa của thiếu nữ Châu vừa mới lớn. Rồi cái gì đến đã đến. Con trai đầu của anh Nguyễn Văn Nguyên đã phải lòng một cô sơn nữ tên Y Lâm và con trai thứ của anh lấy một nàng sơn nữ khác tên là Y Bưởi.
Thực tình, khi nghe những câu chuyện tình nối nhau của ba thế hệ tôi đã hết sức ngạc nhiên. Nói là định mệnh thì dễ dàng quá, mà ngay cả định mệnh cũng không thể sắp xếp các câu chuyện một cách kì lạ và ngẫu nhiên đến thế. Hay bởi vùng đất xa xôi, có tên Mường Hoong này là một thực thể địa lí cất giấu những bí ẩn nào đó chưa giải thích được? Hay bởi trong dòng máu của người Châu cổ xưa di truyền một mã gene cuốn hút, hay bởi trong mắt của những sơn nữ Châu luôn cất giấu những ngọn lửa mê hoặc? Tôi không giải thích được, chỉ biết rằng, trong mắt anh Nguyên và hai con trai của anh luôn có những tia sáng ấm áp và hạnh phúc. Tôi nghĩ, họ đã chọn lựa đúng và bằng lòng với sự sắp đặt của số phận. Còn những cô gái Châu có hạnh phúc không? Tôi chắc chắn là có, vì tiếng cười trong vắt của họ. Chợt nhớ đoạn cuối bút kí Lửa nguyên thủy, đoạn nhà văn Nguyên Ngọc về thăm gặp bà Y Thố: Anh Năm đã mất cách đây một năm. Tôi có gặp lại Y Thố. Nghe tôi gọi, chị bỏ chầu rượu đang ngồi bước ra. “Uống rượu sao, Y Thố?”, tôi hỏi. “Mình buồn quá mà, anh Năm của mình mất rồi!” Chị khóc. Người đàn bà ấy vẫn còn đẹp lắm, mái tóc dài buông xõa trễ nãi trên lưng, đôi mắt lim dim, xa xăm buồn, và vẫn thế, đắm đuối lạ lùng.
Cũng hôm Y Ban dẫn tôi đến thăm nhà Y Nguyên. Y Ban bảo, anh Nguyễn Văn Nguyên vào đây, làm rể ở đây thì người ta gọi anh là Y Nguyên. Dọc đường đi, Y Ban tâm sự, bây giờ mà nói người Châu không ai biết cả. Ngay như Y Ban cũng gần như trở thành người Xơ Đăng vì nói tiếng Xơ Đăng, sinh hoạt như người Xơ Đăng. Tôi hỏi lí do. Y Ban bảo, là do dân số ít quá, không dám lấy nhau vì sợ cận huyết nên cứ lấy vợ, lấy chồng chủ yếu là người Xơ Đăng quanh vùng. Sống với nhau, tập nhiễm tiếng nói, phong tục tập quán nên người Châu dần mờ nhạt đi bản sắc, tiếng nói của mình. Nói theo ngôn ngữ hiện đại là người Châu đã bị đồng hóa.
May mắn cho tôi trong buổi trưa hôm ấy, có đủ tam đại đồng đường trong ngôi nhà của anh Y Nguyên. Tôi đã gặp bà Y Thố, vượt qua tuổi 60 từ lâu mà nhìn bà vẫn đẹp một cách kì lạ. Chỉ hai con trai của anh Nguyên với người vợ đầu là tôi không gặp. Họ đang đi rẫy để giữ vườn sâm Ngọc Linh. Thấy tôi bước vào, chào hỏi, bắt chuyện, cả nhà rộn ràng hẳn. Trên hai chiếc chiếu trải giữa nền nhà xi măng là ché rượu cần với ngổn ngang những vỏ lon bia đủ các thương hiệu. Bà Y Thố ngồi giữa như vị chỉ huy cùng con cháu. Các nàng dâu người Châu mạnh bạo mời tôi cùng ngồi, má ai cũng đỏ vì men rượu và mắt, trời ơi, mắt ai cũng rực lên thứ ánh sáng của núi rừng Ngọc Linh, thứ lửa nói như nhà văn Nguyên Ngọc - lửa nguyên thủy.
Tôi cũng đã gặp ba người con sau của anh Y Nguyên và chị Y Bia, cháu Y Ngọc, cháu Y Chung và Y Thành. Vậy là thêm một thế hệ nữa sinh ra và lớn lên giữa núi rừng Ngọc Linh. Trong ngôi nhà của anh Y Nguyên hôm ấy, tôi nâng cần rượu và ngắm nhìn bà Y Thố. Chợt thoáng qua ý nghĩ, đây có lẽ là người phụ nữ cuối cùng còn vẹn nguyên dòng máu Châu. Hẳn linh hồn ông Năm ở nơi nào đó cũng mỉm cười vì con cháu của ông giờ đã quần tụ nơi đây, giữa lưng chừng trời và núi Ngọc Linh. Cần rượu chuyền quanh một lượt, từ bà Y Thố sang nàng dâu Y Bia, rồi đến cháu dâu Y Lâm, Y Bưởi…
Tạm biệt Mường Hoong, tôi mang theo về những câu chuyện tình quá đỗi lạ lùng. Như một truyền kì xứ sở về vùng đất và con người ở phía bắc Tây Nguyên. Nếu có tài, hẳn tôi đã biên thành pho sử thi theo cách của các dân tộc ở cao nguyên này đã làm. Trăm câu hay ngàn câu chưa biết, nhưng sử thi này phải neo giữ được đôi mắt sơn nữ Châu đầy lửa và những mối tình Kinh - Châu đẹp đến bất ngờ.