|
Thơ chúc Tết của Người được viết giản dị, hàm súc, thể hiện rõ ràng đường lối cách mạng, bộc lộ sâu sắc lòng yêu nước, thương dân, tin dân, tin vào thắng lợi mà vẫn rất giàu tình cảm và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Năm 2026 này là tròn kỉ niệm 80 năm ngày đồng bào cả nước lần đầu tiên được nghe thơ chúc Tết của Người qua Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam (Tết Bính Tuất - 1946). Ai cũng biết là trước cách mạng, giữa vua và người dân cách xa nhau một trời một vực. Đây là lần đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, người dân được nghe người đứng đầu Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc thơ chúc Tết, qua đó, thấy được vị lãnh tụ của mình rất gần gũi, hòa nhập, thân thiết. Tuy viết trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gay go, ác liệt nhưng Bác đã tỏ ra rất lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi: Chúc đồng bào/ Trong năm Bính Tuất mới/ Mọi việc đều tiến tới/ Kiến quốc mau thành công/ Kháng chiến mau thắng lợi/ Việt Nam độc lập muôn năm! Ta thấy cảm hứng thơ ca đã có mặt trong bài thơ chúc Tết của Người, tiếng thơ và lời động viên chính trị đã hòa làm một.
Đến Tết Đinh Hợi (1947), Bác đã có thư chúc Tết gửi cho cán bộ, chiến sĩ quân đội. Trong thư, Người đã có những lời thăm hỏi ân cần, thể hiện tình thương bao la, tình cảm ấm áp như lời của một người anh trong đại gia đình: “Các em ăn Tết thế nào? Tôi và nhân viên Chính phủ vì nhớ các em mà không ai nỡ ăn Tết.” Và Tết năm đó Người đã có thơ chúc Tết gửi đồng bào cả nước: Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió/ Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông/ Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/ Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng/ Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!/ Sức ta đã mạnh, người ta đã đông/ Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi/ Thống nhất, độc lập nhất định thành công. Ở đây, điều quan trọng là Người đã tạo ra được khí thế cho bài thơ. Khí thế ấy chính là sức mạnh tỏa ra từ cái lõi bền vững của tư tưởng chính trị. Khí thế ấy đã thể hiện được sức sống hình tượng thơ. Khí thế ấy có sức chiếm lĩnh mạnh mẽ, có năng lực tập hợp quần chúng, thôi thúc, động viên, giục giã hành động. Bài thơ này đã có sức lôi cuốn đặc biệt đối với người đọc, người nghe.
Không những thế, thơ chúc tết của Người còn thấm đượm sâu sắc chất thép trong tâm hồn người cộng sản như trong thơ chúc Tết xuân Mậu Tý (1948): Năm Hợi đã qua đi/ Năm Tý vừa bước tới/ Gửi lời chúc đồng bào/ Kháng chiến được thắng lợi/ Toàn dân đại đoàn kết/ Cả nước dốc một lòng/ Thống nhất chắc chắn được/ Độc lập quyết thành công.
Đến xuân Kỷ Sửu (1949), thơ chúc Tết của Người đưa người đọc, người nghe vào không khí rộn rã, tưng bừng đầy khẩn trương, lạc quan của ngày hội kháng chiến: Kháng chiến lại thêm một năm mới/ Thi đua ái quốc thêm tiến tới/ Động viên lực lượng và tinh thần/ Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi/ Người người thi đua/ Ngành ngành thi đua/ Ta nhất định thắng/ Địch nhất định thua. Đọc những câu thơ này, ta thấy hình ảnh thơ trùng điệp, nhịp thơ khẩn trương, hơi thơ giục giã, giọng thơ mạnh, tứ thơ đầy ấm áp, tươi vui, dạt dào niềm tin. Trong thơ chúc Tết, bao giờ Người cũng nhắc nhở: phải kiên trì, bền gan mới thắng lợi. Tiếp đó, trong thơ chúc Tết xuân Canh Dần (1950), Bác báo hiệu cuộc kháng chiến sắp bước vào một giai đoạn mới: giai đoạn tổng phản công: Kính chúc đồng bào năm mới/ Mọi người càng thêm phấn khởi/ Toàn dân xung phong thi đua/ Đẩy mạnh cuộc chuẩn bị tới/ Chuyển mau sang tổng phản công/ Kháng chiến nhất định thắng lợi.
Từ xuân Tân Mão (1951) đến xuân Giáp Thìn (1964), thơ chúc Tết của Bác vẫn mang phong cách diễn đạt giản dị, ngắn gọn, trong sáng, chân thành, lấy thơ làm vũ khí tuyên truyền, khái quát đường lối chiến lược, khẳng định niềm tin và đề ra nhiệm vụ chính cho toàn quân, toàn dân, đó là tiếp tục kháng chiến và tiến hành cải cách ruộng đất như trong thơ chúc Tết xuân Giáp Ngọ (1954) Người đã viết: Năm mới quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành/ Đẩy mạnh kháng chiến để giành được độc lập, tự do/ Cải cách ruộng đất là công việc rất to, đó là miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng, miền Nam phải tích cực đấu tranh thống nhất nước nhà như trong thơ chúc Tết xuân Bính Thân (1956) Người đã chỉ rõ: Miền Bắc thi đua xây dựng/ Miền Nam giữ vững thành đồng/ Quyết chí bền gan phấn đấu/ Hòa bình, thống nhất thành công.
Năm 1965, giặc Mỹ mở rộng chiến tranh, chúng cho máy bay ném bom, bắn phá miền Bắc. Quân dân miền Bắc đã anh dũng chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Thơ chúc Tết của Người lấy cảm hứng trực tiếp từ những chiến công của hai miền Nam Bắc, tiếp tục động viên quần chúng nhân dân: Mừng miền Nam rực rỡ chiến công/
Nhiều Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Plâyme, Đà Nẵng/ Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng/ Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng/ Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng/ Tiền tuyến, hậu phương toàn dân cố gắng (thơ chúc Tết xuân Bính Ngọ 1966). Mặc dù biết rằng con đường đi đến thắng lợi còn nhiều hy sinh, gian khổ nhưng thơ chúc Tết của Bác vẫn sang sảng niềm tự hào, tràn trề tinh thần lạc quan: Xuân về xin có một bài ca/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta/ Đánh Mỹ hai miền đều thắng giỏi/ Tin mừng thắng trận nở như hoa (thơ chúc Tết xuân Đinh Mùi 1967). Lời thơ chúc Tết của Bác còn là lời báo tin xuân thắng lợi, báo tin niềm vui chiến thắng sẽ đến, tính chất “dự báo” trong thơ chúc Tết của Bác rất rõ: Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên toàn thắng ắt về ta (thơ chúc Tết xuân Mậu Thân 1968). Nếu ta nhớ lại bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, ta sẽ thấy lời thơ của Người đã gợi ra một mùa xuân thắng lợi sẽ đến: đó là cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Cho đến xuân Kỷ Dậu 1969, hai câu đầu Người dành để tổng kết năm qua và khẳng định rằng năm mới sẽ tiếp tục chiến thắng: Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to. Người nhắc lại cái đích cuối cùng của cuộc kháng chiến: Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Và hình ảnh ngày chiến thắng đã được Người phác họa rất rõ: Tiến lên chiến sĩ, đồng bào!/ Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn. Trong sáu câu thơ trên, ta nghe như có tiếng gọi cứu nước thiêng liêng của tổ tiên, có lời khẳng định quyết tâm sắt đá, có hình ảnh và khúc ca chiến thắng. Sáu câu thơ phơi phới tinh thần lạc quan cách mạng và sáu năm sau đó, lời tiên đoán của Người đã thành sự thật: ngày 30/4/1975, miền Nam được giải phóng hoàn toàn, Tổ quốc ta hòa bình thống nhất.
Như vậy, từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công (1945) cho đến khi về với “thế giới người hiền” Bác đã có 25 bài thơ chúc Tết gửi tới quốc dân đồng bào. Tư cách lãnh tụ (kêu gọi) và tư cách nhà thơ (mừng xuân) đã hài hòa, thống nhất trong một chủ thể trữ tình. Trong phút giao thừa thiêng liêng ấy, từ các cụ già tóc bạc đến đàn em nhỏ đều cảm thấy lòng mình lắng dịu khi được nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết bằng giọng nói ấm áp, thân tình, tha thiết: Giọng của Người không phải sấm trên cao/ Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước/ Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước/ Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau (Tố Hữu).