Xuôi về phương Nam, nơi mà hơn ba trăm năm trước đây ông cha ta đã khai hoang mở cõi, ta bắt gặp những giá trị văn hóa xa xưa vẫn còn lấp lánh đâu đó trên mảnh đất hằn in vết chân người. Trong đó, có những “ký ức bản địa” như Tết vẫn còn vẹn nguyên sức sống. Văn chương trở thành “công cụ” trình hiện những ký ức về Tết, thành “chiếc chìa khóa” mở ra cánh cửa hoài niệm Tết xưa, góp phần lưu giữ nét đẹp cổ truyền của dân tộc, chống lại sự băng hoại của thời gian và biến thiên của xã hội.
Trước dòng chảy thời đại, các tác giả Nam Bộ tiếp tục vẽ Tết trên trang viết theo những cách khác nhau, bền bỉ níu giữ và phục dựng “ký ức bản địa”, đưa người đọc trở về với cội nguồn văn hoá dân tộc.
Do sự quy định của lịch sử hình thành vùng đất, tính cách phóng khoáng, hào sảng, giản dị, trọng nghĩa tình của con người, cảnh quan đồng bằng sông nước gắn chặt với cuộc sống thuần hậu của người lao động, vì thế, Tết phương Nam vừa có những nét thống nhất với Tết cổ truyền dân tộc, vừa mang vẻ đẹp riêng không lẫn lộn với bất kỳ vùng miền nào khác. Trong văn chương đương đại, những dấu ấn về ngày Tết cổ truyền Nam Bộ đã chuyển dịch từ ký ức cá nhân sang ký ức cộng đồng, từ câu chuyện của một người đến câu chuyện của con người phương Nam trong suốt dặm dài lịch sử.
Nam Bộ là vùng đất rộng lớn, địa hình chủ yếu là đồng bằng thuộc hệ thống sông Đồng Nai và sông Mê Kông. Những dòng sông này không chỉ là mảnh ghép của tự nhiên, mà còn nuôi dưỡng tâm hồn con người Nam Bộ, bồi đắp văn hoá cho vùng đất Nam Bộ, đặc biệt là Tết. Tết Nam Bộ qua lăng kính của Trầm Thanh Tuấn (Trà Vinh cũ) là cảnh tát ao, cảnh đốt lá ban chiều, những đêm ngồi canh nồi bánh tét bên bếp lửa bập bùng: Sáng giở chà bắt cá/ Ba tát nước ao nhà/ Ngọn khói nào thơm ngọt/ Mùi rơm nồng bay xa/ Ngày cuối năm đốt lá/ Dáng ngoại nghiêng nắng chiều/ Tàn tro bay với gió/ Ngọn khói nào liêu xiêu? (Khói Tết đồng bằng). Chỉ với vài nét phác họa đơn giản, Trầm Thanh Tuấn đã thu hết vào thơ không khí đầm ấm của những ngày mùa xuân phương Nam. Những dòng thơ trên hẳn thoát thai từ ký ức tuổi thơ của Trầm Thanh Tuấn, trong không gian sông nước, làng xóm, miệt vườn nhà quê. Thế nhưng, đó cũng chính là ký ức của bao người từng gắn bó sâu đậm với miền Tây, đón Tết miền Tây, sống trong tình yêu thương của người miền Tây cần cù, chất phác. Xuân trong thơ Trần Sang (An Giang) tuy đẹp, đậm đà hương sắc phương Nam, song lại thấm đẫm một nỗi buồn. Chủ thể trữ tình như đang chông chênh giữa ký ức sum vầy và hiện tại cô độc, lạc lõng, mất mát: chợ quê đông người qua lại/ tiếng cười sao cứ ngậm ngùi/ con lạc giữa dòng xuân mới/ lòng hoài bóng cũ khôn nguôi/ xuân có về thêm bao bận/ cũng chẳng níu được mẹ đâu/ hương nhang quấn tròn nỗi nhớ/ mai vàng rụng giữa niềm đau (Xuân này không còn mẹ). Có lẽ đã trải qua những nỗi đau của cuộc đời, chứng kiến bao cuộc chuyển dời, mất mát, tác giả mới viết được những dòng thơ như thế. Bi kịch cá nhân đã được Trần Sang gói ghém vào trong thơ, như nhắc nhớ về thời điểm không thể nào quên trong cuộc đời dài dằng dặc. Thơ đương đại viết về mùa xuân phương Nam không phải chỉ mô phỏng lại phong tục, nét đẹp văn hóa ở vùng đất này một cách thô cứng, mà nó được hòa trong những câu chuyện về cuộc sống con người vùng đồng bằng phương Nam như thế. Dẫu vui hay buồn, những câu chuyện ấy cũng góp phần khắc đậm tính cách của con người vùng Nam Bộ nắng gió.
Văn xuôi có ưu thế hơn trong việc tái hiện lại vẻ đẹp đặc trưng của ngày Tết miền Nam. Tận dụng ưu thế các thể loại như tùy bút, bút ký, tản văn… các tác giả đã tái hiện cụ thể không khí, phong cảnh, phong tục của ngày Tết miền Nam, đồng thời thổi vào trang viết cảm xúc của con người Nam Bộ trước mùa xuân của vùng miền và mùa xuân của dân tộc. Tính cách phóng khoáng, hào sảng, vô ưu vô lo cố hữu của người Nam Bộ đã ảnh hưởng lớn đến cách họ nghĩ về Tết, đón nhận và tận hưởng hết mình trong thời điểm đặc biệt trong vòng xoay thời gian. Đọc bút ký phương Nam, không thể quên những trang viết đầy cảm xúc của nhà văn “xứ Bạc”: Phan Trung Nghĩa (Bạc Liêu cũ). Qua vài chi tiết đơn sơ, Phan Trung Nghĩa đã tái hiện trọn vẹn bức tranh ngày Tết miền Tây với những nếp văn hóa được gìn giữ từ bao đời, trở thành quen thương trong lòng bao người con quê xứ: “Tôi tắm gội sạch sẽ rồi đến thắp nhang lên bàn thờ Tổ phụ để mừng tuổi ông bà, cha mẹ vào cái thời khắc tinh khôi của năm mới. Sau đó tôi ngồi giữa ngôi từ đường mà nhấp chén trà bát ngát hương xuân. Ngoài cửa là một khóm mai vàng rưng rức đang đùa giỡn với mấy ngọn gió xuân vừa nôn nã kéo về. Xa hơn nữa là một khung trời thật xanh, thật rộng có những cánh én thêu dệt mùa xuân biêng biếc ở lưng trời… Ôi thời gian, ôi trời đất sao mà chứa chan ý nhị đến thế” (Hồi cố quận). Bút ký Phan Trung Nghĩa bao giờ cũng nấn níu lòng độc giả, những con chữ đơn giản như vỡ ra từ đất quê, từ phong tục đồng bằng, giàu chất tạo hình, giàu thanh âm, xúc cảm. Nói đến phong vị của Tết miền Nam trong văn chương, hẳn không thể bỏ qua những trang viết dung dị mà đẹp đẽ của Nguyễn Ngọc Tư (Cà Mau). Tết trong văn xuôi của chị, đặc biệt là tản văn, là thành quả đẹp đẽ của chuyến hành trình ngược về quá khứ, góp nhặt những nét đẹp đã qua, sắp xếp những ký ức Tết xưa tưởng đã mất đi giữa cuộc sống hiện đại bon chen, hối hả. Văn xuôi viết về Tết của Nguyễn Ngọc Tư nhẹ nhàng, chậm rãi, song mỗi câu văn lại mở ra một “mùa xưa” của đời người, một màu sắc, một mùi hương… mà bao đời nay người dân xứ này gọi đó là vị Tết: “Tết của má dài thăm thẳm, phải kể từ hôm tát đìa bắt cá làm mắm, xẻ khô. Cá còn phơi trên mấy hàng bông bụp má bắt tay vào làm củ kiệu. Hồi chị còn nhỏ, má lãnh luôn phần làm mứt, nướng bánh kẹp, bánh bông lan. Chị lớn, chị giành lấy, nói để chị làm, nên cả ngày Ba mươi tụi nhỏ không thấy chị liếc, chị rầy, bởi chị cũng cắm đầu làm mứt, nào là mứt chùm ruột, mứt gừng, không biết ai ăn cho hết mà ôm đồm, vừa ngào chảo mứt dừa vừa chạy ra coi mớ mứt tắc (quất) phơi ngoài sân không biết có kiến bò lên không” (Khúc Ba mươi). Những ký ức đó đâu chỉ của riêng Nguyễn Ngọc Tư? Nó là ký ức của bao người, mà Nguyễn Ngọc Tư đã nói thay tiếng lòng của họ, khơi nhắc kỷ niệm trong họ giữa vòng xoáy tất bật của cuộc sống. Bằng cách góp nhặt và tái hiện những gì thuộc về “hồn xưa”, “nếp cũ”, các tác giả đã lưu giữ và tôn vinh nét văn hóa truyền thống có nguy cơ phai nhạt, giúp độc giả cảm nhận trọn vẹn hồn cốt của Tết cổ truyền, một cái Tết đậm đà bản sắc nhưng cũng rất đỗi riêng tư, sâu lắng.
Ở các thể loại văn xuôi khác như truyện ngắn, tiểu thuyết, Tết phương Nam là phông nền đặc biệt để nhà văn đặt cái nhân vật vào, làm sống dậy những câu chuyện đời thường diễn ra ở nông thôn, miệt vườn, trên những dòng sông đẹp quanh co giữa miền đồng bằng châu thổ. Phải khẳng định rằng, không hẹn mà gặp, khi viết về Tết, các tác giả (không chỉ riêng Nam Bộ) thường chọn kết cục viên mãn cho câu chuyện của mình, chọn niềm vui để khép lại bi kịch cuộc đời nhân văn. Đó là cái nhìn thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ, lấp lánh tinh thần nhân văn. Bến Thong Dong của Tống Phước Bảo (TP. Hồ Chí Minh) viết về cuộc sống lênh đênh của những con người miền Tây trên chiếc ghe bẹo (bán hàng rong) vào mùa Tết. Thông qua câu chuyện về quá khứ đẫm nước mắt và sự hy sinh của người đàn bà vùng sông nước, Tống Phước Bảo đã ngợi ca sự bao dung, tình người và khát vọng về một cuộc đời an yên, thong dong. Khung cảnh ngày Tết miền sông trong Bến Thong Dong vừa hòa hợp cùng dòng chảy của thời đại mới, vừa khơi gợi ngày Tết (không khí, hoạt động, nghi lễ cúng miễu…) của một miền Tây xa xưa, dung dị, yên bình. Điều đó được Tống Phước Bảo thể hiện bằng lớp từ đậm tính khẩu ngữ mà tượng hình cao độ: “…Xảng cũng biểu con Giang, giao thừa này về cái ghe bẹo chúc Tết tui đi, tui chưa bao giờ lì xì cho đứa con gái nào hết trơn đó. Xảng để dành mấy cái phong bao đỏ trong túi rồi. Xảng sẽ kho nồi thịt thiệt nhiều, Xảng sắm thêm vài cái chén, mấy đôi đũa. Xảng làm củ kiệu gấp đôi. Xảng nấu nồi canh khổ qua tận bốn trái. Xảng tin, giao thừa này, lòng ghe sẽ có bốn người cùng ăn Tết. Nghĩ đến đoạn chúc Tết, lì xì, lên miễu thắp nhang, rồi về lại ghe ăn dưa hấu chắc vui dữ lắm!” Đọc văn Lê Quang Trạng (An Giang), bao giờ độc giả cũng bắt gặp một vùng sông nước hiền hòa, đậm chất văn hóa. Dòng kinh Vĩnh Tế, những mùa nước nổi trắng đồng, những cây thốt nốt sừng sững miền biên giới, những ngọn núi nhấp nhô phía Tây Nam... cùng trầm tích văn hóa châu thổ đã nuôi lớn tâm hồn anh, kiến tạo nên vẻ đẹp của văn hóa trong văn chương anh. Viết về Tết, trong Bãi bồi xóm lở trổ bông, ta bắt gặp hình ảnh của mảnh đất bãi bồi quen thương với những hàng hoa Tết vẫn trổ bông rực rỡ sau trận sạt lở kinh hoàng: “Sáng mùng Một, cha con ông Hai Bông đứng trước nhà ngó ra khoảng sân còn chừa mấy liếp bông đang khoe sắc. Ngó ra xa hơn, lần đầu tiên thằng Nhân bắt gặp hàng điên điển trổ bông Tết. Lạ thay, thứ bông chỉ trổ trong mùa nước nổi, nay lại trổ bông ngay cả mùa xuân. Không biết ông già đã trồng hàng điên điển ấy từ bao giờ, chắc rằng ông phải vật lộn với sóng nước dữ lắm mới giúp giữ được những gốc cây vững chãi.” Từ câu chuyện đơn giản ấy, phải chăng Lê Quang Trạng muốn khẳng định rằng, trong gian khó của cuộc sống, tình người và niềm tin sẽ giúp con người ta vượt qua mọi nghịch cảnh, đối đãi với nhau bằng sự nhân văn? Đó cũng chính là tính cách trọng tình, trọng nghĩa, lạc quan, yêu đời vốn có của người miền Tây Mật mùa xuân của Phát Dương (Cần Thơ) kể về hành trình nhân vật Đợi học nghề gác kèo ong truyền thống của gia đình, tuy gian nan nhưng cuối cùng Đợi đã nhận được thành quả ngọt ngào là những giọt mật thơm ngon và đặc sánh lúc xuân về: “Trên đầu Đợi, bông tràm nở vàng hơn nắng. Theo gió lay, vài bông tràm li ti rụng xuống vai Đợi. Anh thầm nghĩ, nụ cười của Thương ngày cưới chắc cũng rực rỡ như màu bông tràm đang nở rộ trên cao. Rồi tự nhiên anh tự cười mình, mặt râm ran đỏ khi nghĩ tới lúc mình mặc áo chú rể. Chắc cảm xúc cũng sẽ rạo rực như bây giờ, hay hơn thế nữa…” Truyện không chỉ tái hiện lại khung cảnh rừng tràm phương Nam trổ hoa mỗi độ Tết về, mà còn ngợi ca vẻ đẹp của nghề truyền thống, sự trưởng thành của tuổi trẻ, giá trị của tình yêu trong việc tạo động lực thay đổi cuộc sống.
Có thể thấy văn chương Nam Bộ đã thêu dệt nên bức tranh thật đẹp về ngày Tết nơi này. Qua những trang viết thấm đẫm yếu tố văn hóa, phong tục vùng miền, đầy xúc cảm, các tác giả vừa thể hiện tình yêu mến thiết tha với đất và người phương Nam, vừa bày tỏ khát vọng níu giữ những giá trị văn hoá truyền thống, những nét đẹp trong phong tục, tập quán được hình thành từ mấy trăm năm trước ở phương Nam, nâng đỡ tâm hồn, tinh thần con người qua bao cuộc trường chinh thiên biến. Văn chương đã lưu giữ ký ức của cộng đồng về ngày Tết truyền thống, bảo vệ chúng không bị biến tướng hoặc mất mát trong bước đi vội vàng của thời cuộc, hội nhập, đô thị hoá, văn minh hoá… hôm nay.
Đô thị hóa nhanh chóng, nhịp sống công nghiệp tiếp diễn, những yếu tố ngoại lai được ưu chuộng, sự phát triển của môi trường số… đã tác động mạnh mẽ đến những giá trị văn hoá cổ truyền, đặc biệt là Tết dân tộc. Mặc dù những giá trị ấy được hình thành và gìn giữ qua nhiều năm tháng, song trước cơn lốc của thời đại mới, nó vẫn có nguy cơ mai một, mất mát đi. Sự phai nhạt của nét văn hóa cũ, sự du nhập của văn hóa mới, nguy cơ đứt gãy thế hệ… trở thành những vấn đề nổi cộm trước dòng chảy hội nhập, vươn mình. Văn chương không làm ngơ trước tình hình đó. Vốn mang sứ mệnh đó bảo lưu, gìn giữ và lan toả những giá trị văn hóa tốt đẹp, văn chương thể hiện những tâm tư, tình cảm, trăn trở, suy nghĩ của con người trong thời đại mới. Qua trang viết, các tác giả đã nhận thức lại nguồn cội, tìm về và trân trọng “hồn cốt” Tết cổ truyền, nỗ lực phục dựng đa chiều và sáng tạo, góp phần đưa Tết xưa đến gần hơn với độc giả, đặc biệt là người trẻ (Gen Z, Alpha…)
Đặt tái tạo và phục dựng lên trên hết, văn chương phương Nam viết về Tết trước hết bày tỏ những suy tư, trăn trở, âu lo cho thân phận văn hóa truyền thống. Trong tản văn Đón người xa xứ của Võ Diệu Thanh (An Giang), qua câu chuyện của một con người cụ thể, nhà văn đã nói thay nỗi lòng, sự “thèm thuồng” những giá trị xưa của người miền Nam trong công cuộc hiện đại hóa đất nước: “Từng ngày tiện lợi, từng ngày hiện đại, những mái nhà lá hồn cốt ngày xưa, cái nồi đất bắt trên cà ràng với những nhánh tre nhánh gáo quơ quào quanh vườn tạp, lối mòn nhỏ cỏ tràn ra quấn bước chân người đều được thay thế bởi những gì tiện lợi. Tất cả nhọc nhằn bất tiện đều đã được đẩy lùi về với ký ức. Mà hễ là ký ức thì dẫu là món ngon món dở gì cũng có chung một thuộc tính là tuột khỏi tầm tay. Người xa xứ không tận mắt chứng kiến công cuộc đẩy lùi những cái cũ nên nó vẫn còn sống động đâu đó trong trí nhớ.” Đoạn văn là dòng chảy cảm xúc sâu lắng, đánh thức nỗi niềm khao khát quay về “miền ký ức” mộc mạc đã bị nhịp sống hiện đại cuốn trôi. Đó cũng là tâm thức của cộng đồng khi phải tận mắt chứng kiến sự thay đổi, khi những tiện nghi hôm nay lần lượt xoá sổ những giá trị cổ xưa. Với truyện ngắn Người xưa, tác giả Nguyễn Ngọc Tuyết (Cần Thơ) thể hiện những suy tư về giá trị của ký ức, sự mai một của những giá trị cũ trong dòng chảy thời gian và nỗi cô đơn của những “người cuối mùa” đã nỗ lực giữ gìn những giá trị văn hóa: “Hoá ra hương vị quê hương vẫn không sánh được chuyện làm ăn! Hình như có điều gì đó vừa vỡ vụn trong chị.” “Hương vị quê hương” có vẻ như bị “lép vế” trước dòng chảy của kinh tế mới và lợi ích trước mắt. Nó không chỉ là sự mất mát về vật chất, phong tục, mà còn là “vết nứt” trong tâm hồn của những người đã từng gắn bó sâu sắc với nó. Trong tản văn Những chuyến ghe ngược xuôi đón Tết, Hoàng Khánh Duy (Cần Thơ) cũng xót tiếc cho sự mai một của những giá trị xưa. Thông qua câu chuyện về những người sống bằng nghề trồng hoa tết ở đồng bằng, tác giả đã đưa người đọc về với vùng châu thổ êm đềm xưa, khi mà Tết đến những nhánh sông lại sặc sỡ những chiếc ghe ngược xuôi chở hoa đi khắp xứ: “Tôi đưa má về lại làng bông. Cuối năm, gió trời lành lạnh. Má đứng lặng im nhìn mảnh đất cũ giờ đã được người ta khai thác để làm du lịch, cái bến sông xưa nay đã được xây cầu, có tàu du lịch tấp nập không ngớt. Tôi thấy mắt má đỏ hoe. Thời gian trôi qua, mọi thứ đổi dời, chỉ có trái tim má tôi đau đáu hướng về chốn xưa người cũ là không hề thay đổi, chỉ có những kỷ niệm tuổi thơ bôn ba phiêu dạt của tôi vẫn tròn vẹn trong lòng.” Ký ức về quê hương, về tuổi thơ, về một miền Tây xa xưa mãi là ký ức đẹp, hằng hữu trong tim bao cây bút trưởng thành từ miền sông nước Cửu Long hồn hậu.
Điểm gặp gỡ ở những trang viết về Tết xưa và Tết nay của các tác giả phương Nam là xu hướng “tìm về” cội nguồn, truyền thống, tìm về dân tộc. Giữa dòng chảy hội nhập xô bồ, việc tìm về các giá trị Tết xưa giúp con người neo giữ lại bản sắc, tìm thấy sự bình an và gắn kết với gốc rễ xa xưa. Mặc dù các tác giả phương Nam đã nỗ lực phục dựng các giá trị xưa, song cần phải hiểu rằng, phục dựng không đồng nghĩa với hoài cổ thụt lùi, bảo thủ lạc hậu, mà là sự chọn lọc những giá trị tinh tuý nhất của quá khứ để làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển hiện đại.
Đất phương Nam phù sa mỡ màu, những dòng sông phương Nam hào hùng trong lịch sử và thơ mộng trong đời thường, nắng phương Nam ấm áp đã nuôi dưỡng một nền văn hoá độc đáo, một nền văn chương vừa kế thừa tinh hoa vừa tiếp biến theo thời gian. Các tác giả đương đại như Trần Bảo Định, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Trung Nghĩa, Bích Ngân, Nguyễn Thị Việt Hà, Lê Minh Nhựt, Võ Diệu Thanh, Tống Phước Bảo, Phan Duy, Vĩnh Thông, Lê Quang Trạng, Phát Dương, Võ Đăng Khoa… tiếp tục nối dài dòng chảy ấy, không ngừng khám phá và làm phong phú thêm những nét đẹp văn hóa gắn với ngày Tết Nam Bộ cổ truyền, làm đẹp tâm hồn con người vùng đồng bằng sông nước.
![]() |
| Ảnh: Ngọc Trinh |