![]() |
| Minh họa Phạm Hà Hải |
1.
Khốn nỗi Mỹ Đình chẳng mét vuông nào vắng hàng quán, vậy nên lão cứ bị xua từ chỗ nọ sang chỗ kia, như một món đồ vô dụng vứt chỗ nào cũng chướng mắt.
Quả tình có đôi lần người ta cũng hạ cố tỏ lòng thương hại. Lần nọ, một cô gái đeo cái tạp dề đỏ bước ra từ quán pizza đầu phố, chìa cho lão một miếng bánh hình tam giác. Lão cầm bánh, nhá một miếng rồi nhểu ra cả dãi. Cô gái ngán ngẩm quay trở vào quán. Lần khác, một cô gái khác, làm việc trong một quán trà sữa, dúi cho lão chiếc cốc vại bằng nhựa. Lão nghi ngại nhìn núm khuyên bạc xuyên qua cánh mũi cô ta. Cơn khát vẫn xui lão liều tợp một ngụm rồi lập tức nhổ phì phì như uống phải nhân ngôn, lẳng cả cốc đi. Cô gái bực bõ quét chỗ trà sữa văng tóe loe trên vỉa hè. Từ đó chẳng ai hơi đâu để ý đến lão nữa.
2.
“Đêm ni mi ra chống sào!” - Lão Gù bảo.
“Tôi á?” - Anh hỏi.
“Chứ còn ma nào vào đây?” - Lão Gù vặc lại.
“Tôi lái bè, lão không sợ toi à?” - Anh bỡn.
“Bộ mi định bắt tau lái mãi hử? Đến lúc tau nghỉ ngơi chứ?” - Lão Gù cấm cảu.
Anh ngạc nhiên, trâu bò như lão Gù mà cũng biết mệt!
Đêm chảy tràn trong lòng máng đen ngòm, đáy máng là dòng sông Mã, hai thành vách núi dựng đứng, nắp đậy là vòm trời sao ken như vụn thủy tinh, chiếc bè đơn độc trôi theo đường zic-zac khó đoán.
Người ta bảo đến Hà Bá còn phải kiêng lão Gù. Đồn rằng lão có thể nhắm mắt đưa bè một lèo từ Cô Lương qua bản Mò, bản Mướp, xuống tận Cành Nàng, không ghềnh đá nào núp dưới lòng sông bẫy được lão.
“Mi dạt vô đây ba năm rồi hử?”
Tiếng lão Gù cất lên từ phía cuối bè, nhưng anh không trông thấy lão.
“Ba năm rưỡi!” - Anh chỉnh lại, tưởng mình đang trò chuyện với đêm.
“Tau mà có sào ruộng màu thì chẳng ngu mà đi phát vãng!”
Vẻ giãi tỏ nén trong cái giọng thô tháp khiến anh thấy rờn rợn - kiểu nói năng ấy cứ hệt như bố anh hồi còn mồ ma ông cụ. Nghĩ lại cái đận anh cương quyết bỏ nhà đi, thật cũng tội ông cụ, nhưng chả lẽ lại cả đời cắm mặt vào khoảnh ruộng su hào? Anh đi vài ba năm, vốn lại chẳng bằng ông cụ cuốc đất mọt đời? Mà anh cũng vừa nhận tin nhà: Vợ anh cấn bầu. Vậy là anh sắp có thằng cu tí rồi! Anh phấn chấn. Giờ chỉ cần đưa được súc nghiến này xuống thị trấn Cành Nàng trót lọt thì anh lại lận lưng thêm ít vốn, tương lai thằng cu tí sáng thêm vài phần. Phải cái buôn gỗ lậu cứ đêm hôm sông ngòi, nghĩ cũng hãi.
Chiếc bè vẫn lầm lũi trôi. Nước róc rách khi đầu sào khua xuống, hơi giá từ đáy sông bốc lên, lẩn trong quần áo, ám vào da thịt.
“Lão bảo gì cơ?” - Anh giật mình hỏi.
“Cái gì?” - Phía cuối bè, lão Gù giật giọng.
“Tưởng lão vừa gọi?”
“Tau đâu gọi?”
“Thì tôi nghe rõ tiếng gọi, hình như từ đằng xa...”
“Thế là người ta gọi rồi!”
“Ai?”
“Người sa núi.”
“Là ai?”
“Là những người đi rừng như bọn ta, sa chân xuống núi mất xác. Ở lại đó, buồn, người ta gọi bạn.”
“Lão đừng giở trò nhát người!”
“Tau nhát làm chi? Mi đừng thưa là được.”
“Thưa thì sao?”
“... Thì họ lôi theo luôn.”
Từ lúc ấy, tay anh chống sào mà đầu óc căng ra.
“Lão Gù này!”
“Chi nữa?”
“Cái bọn người sa núi ấy, thế nó không biết làm bùa à?”
“Có làm! Nhưng ngã khúc hiểm, nỏ mò được xác!”
Anh lừa lựa khẽ đụng tay vào ve áo, không muốn để lão Gù thấy, sợ lão cười. Chính lão Gù dạy anh làm bùa: Bứt bảy sợi tóc, nhét vào túi ni lông, hơ lửa dán kín miệng rồi khâu lộn trong ve áo.
“Nhớ thêm miếng kẽm khắc tên tuổi, bản quán - lão dặn - để người nhà biết đường lượm xác.”
“Thế bùa không phải để giữ mạng sống à?”
“Đã sợ mất mạng còn mò vô đây? - Lão Gù cả cười. - Nhưng ai mà chả sợ làm cô hồn, không được cúng giỗ. Mà tai mi cứ hóng đi mô thì còn lái cái con tiều? Dỏng tai mà nghe con sông hắn chảy!”
Lái bè đêm, đôi mắt vô dụng. Ngoài những khối núi như những bóng đười ươi đen hơn cả màn đêm chầu hẫu hai bờ thì mắt chẳng nom thấy gì. Anh căng tai nghe ngóng. Những khúc đá trồi hẳn lên mặt nước thì tiếng sôi rộn, nghe vui tai chứ kì thực chúng lấy mạng người như bỡn. Khúc đá ngầm, tiếng bùng bục như nồi hầm, khó lường ở chỗ đến gần mới nghe ra. Nhưng tráo trở nhất chính là cái dòng miên man trong đầu mình, nó rình rập thừa lúc anh mất cảnh giác bèn lẻn vào, âm thầm tràn ngập tâm trí anh bằng hình ảnh ngôi nhà bên ruộng su hào cách đây hàng trăm cây số, bằng một câu nói mà bố anh đã nói từ năm nảo năm nào, bằng những tiếng bi bô mà giờ này sang năm sẽ vang lên dưới mái nhà anh, và trong khoảnh khắc ấy thì đôi tai anh đã xao nhãng nhiệm vụ rồi.
“Hả? Lão lại gọi hả?”
“Mả cha thằng quỷ! Tau gọi mi làm chi? Coi chừng đó! Bên phải... Không! Đánh lái sang trái... Thằng ngu! Sang trái... Thằng quỷ...”
Như có con trâu mộng từ đáy sông thúc lên, chiếc bè bị nâng bổng khỏi mặt nước rồi đập đáy cái “đét” xuống. Anh kịp thấy bóng lão Gù như tảng đá đặt đầu đòn bẩy văng khỏi bè, khối u bò trên lưng lão trồi lên rồi chìm nghỉm. Con trâu mộng lại húc lên, xé tan chiếc bè. Súc gỗ nghiến lao đi mất dạng. Anh bị quăng lên quật xuống, rồi bị vật ngửa ra, đỡ dưới lưng anh là mảnh bè vỡ. Trong khoảnh khắc, vòm trời sao lại hiện ra vời vợi, triệu con mắt nhấp nháy, bình thản chứng kiến thảm kịch dưới này. Sự tĩnh tại của chúng, bằng cách nào đó, đã truyền xuống não bộ của anh. Gương mặt thằng cu tí kia rồi, và tiếng nó gọi cha nữa. Nhưng cái phần nào đó trong não bộ cũng nhắc anh rằng cái thai mới chưa đầy bảy tháng tuổi, còn chưa chào đời, nói gì biết gọi cha? Chao ôi! Giá mà có thể, anh sẵn sàng đánh đổi tất cả chỉ để được thấy mặt mũi thằng cu tí dù chỉ một lần. Nhưng muộn rồi! Đôi tai đã nghe quen của anh vừa bắt được những âm thanh mà giờ đây anh hiểu rất rõ: Tiếng nước réo rất gần - tiếng nhai rào rào của đôi hàm chết chóc.
3.
Thằng Tuấn cứ lèo nhèo gạ ông Sinh bán đất. Nó bảo đang cần vốn làm ăn.
“Mày cứ cái thói bóc ngắn cắn dài. Có khoảnh ruộng này thì cả đời chả lo chết đói đâu con!” - Ông Sinh nạt con.
“Thời buổi này thiên hạ còn ai lo chết đói hả bố?” - Nó cãi.
Ấy thế mà thằng Tuấn nói đúng: Mỹ Đình hết ruộng rồi mà nào có ai đói? Thời buổi này, cái mà người Mỹ Đình thiếu là một ngôi nhà ít cũng bốn, năm tầng, là một con xe bốn bánh, bét cũng Lanos, không thì Corolla, chứ ngồi trên con Matiz nhiều khi ra phố thấy người quen, không dám bước xuống xe. Cơn sốt đất hồi đầu những năm 2000 đã biến Mỹ Đình thành cái rốn tiêu tiền. Tiền mọc lên từ đất, thiên hạ hối hả tiêu tiền như trả thù một thời từng bị cái nghèo đày đọa, như thể họ vẫn còn thiếu thốn một cái gì đó lắm, nhưng nhất định không phải là thiếu miếng ăn đâu!
Thằng Tuấn y hệt bố nó ngày xưa: Nhìn thiên hạ tiêu tiền mà xốn mắt. Nhưng nó ma mãnh, thủ đoạn hơn bố nhiều. Nó theo chân người ta làm cò đất, lân la quán xá, nghe ngóng rồi mách nước cho đám buôn đất tay to. Có người mách đến tai ông Sinh là đêm đêm nó dắt gái cũng cho đám người ấy. Mấy lần trúng mánh, cũng đồng ra đồng vào, nhưng mà nó vẫn ấm ức: Giá mà có vốn thì nó chẳng chịu làm ăn kiểu cò con. Vậy mà ông bố cứ khư khư ôm khoảnh ruộng!
Thằng Tuấn mè nheo mãi, ông Sinh suy nghĩ lung lắm: Làm sao để nó làm ăn đàng hoàng? Nó riết róng quá, ông Sinh đành cắt nửa ruộng bán đi, dấn vốn cho nó. Mà đằng nào thì sau này ruộng đất ấy chả để cho hai anh em nó? Nhưng ông phải giáo trước: Nửa còn lại là phần của thằng Tú, Tuấn đừng hòng xơ múi vào.
Thằng Tuấn trương ngay cái biển Văn phòng môi giới nhà đất trước cổng - chẳng biết là cái văn phòng thứ mấy nghìn ở Mỹ Đình? Non năm trời, nó đã sắm một con Camry đỏ ớt làm phương tiện đi lại giao dịch. Giờ, nó vận com lê lịch lãm, một bước lên xe. Gặp đám xóc đĩa tụ vạ hay ba cây, tá lả, nó không thèm để mắt tới nữa chứ đừng nói là sà vào đó, chỉ khinh khỉnh bước qua. Ông Sinh thấy con làm ăn được cũng tạm yên tâm.
4.
Thằng Tú gầy rộc, bợt bạt, tóc ngả màu sương muối. Ông Sinh suýt khuỵu xuống khi thấy con trai thõng thẹo bước ra sau cánh cửa sắt xám ngoét.
“Con được ăn uống đầy đủ không?” Câu hỏi đầu tiên của ông Sinh nảy ra từ tiềm thức một thời thiếu đói, cái dáng vẻ tiều tụy của con trai khiến ông liên tưởng tới không gì khác ngoài cơn đói.
“Người ta không để tử tù chết đói đâu bố!” - Câu trả lời trượt ra theo tiếng thở dài.
Thằng Tú trông như một người hơn nó hàng chục tuổi, không hẳn bởi mái tóc muối sương, mà chính cái vẻ rệu rã cùng cực trong cử chỉ, vẻ đờ đẫn buông xuôi hắt ra từ ánh mắt vốn chỉ thấy ở những người đã biết mệnh trời mới khiến nó già sọm. Duy có một thứ mà ông Sinh thấy không hề thay đổi ở thằng Tú: Ông cứ nhìn vào tận đáy mắt nó, như thể chỉ ở sâu trong đó ông mới thấy lại con trai mình. Ông Sinh là người duy nhất có thể phân biệt được hai thằng sinh đôi, mỗi đứa đều là phiên bản của một nửa con người ông, và mỗi cái một nửa ấy có chiều hướng phát triển tới cùng cực và chiếm trọn vẹn con người từng đứa. Cái nửa liều lĩnh khi sang thằng Tuấn thì trở nên bất cần đến mức tàn nhẫn, còn nửa nhu thuận khiến thằng Tú lành hiền như một bà mẹ. Ai chứ ông thì không thể nhầm lẫn giữa hai thằng. Chính vì thế mà ông cho rằng đã có một sự gian trá nào đó trong vụ án này, một sự đánh lận con đen trơ trẽn của số phận: Thằng Tú không thể nào xách heroin tuồn vào các hộp đêm được!
“Làm sao mà gói ma túy lại ở trong cốp xe của con hả Tú?” - Ông Sinh căn vặn.
“Thôi bố! Đằng nào việc cũng đã rồi!” - Thằng Tú trả lời bố mà như không trả lời.
“Nhưng con không làm việc đó, phải không?”
“Bố! Con xin bố!”
“Tú, nói cho bố biết. Hay là thằng Tuấn, nó...”
Ông Sinh không tài nào thốt ra thành lời mối nghi ngờ đang giày vò gan ruột ông bởi nó nghiệt ngã quá, hơi thở của ông nghẽn lại trong buồng phổi, lưỡi ông cứng ngắc, á khẩu.
“Đừng nhắc nữa bố! - Giọng thằng Tú nghèn nghẹn. - Mà bố cũng đừng vào đây nữa!”
Ông Sinh biết rằng thằng Tú gắng gỏi hết sức rồi. Kéo dài sự có mặt của ông ở trong này sẽ giết chết thằng bé. Cái điều làm nó khổ tâm hơn cả là để bố phải chứng khiến sự khổ sở của nó. Ông lặng lẽ ra về.
Ông Sinh về đến nhà, thằng Tuấn đang mải xoạc cẳng áng chừng bề rộng mảnh ruộng, ông nhiếc:
“Đồ chó đẻ! Mày là đồ chó!”
Ông Sinh vớ cái ghế đẩu, vung lên, nhưng ông sụp xuống vì một đoạn vách mong manh trong cái ống nhỏ xíu đựng đầy chất lỏng đỏ tươi nối từ tim lên não bộ của ông vừa mới bục ra.
Sau cơn đột quỵ, ông Sinh kém minh mẫn hẳn, dáng nghiêng nghiêng như cái xác vắt xộc xệch lên hình hài của chính ông ngày trước.
5.
Cái biển Văn phòng môi giới nhà đất treo vội trước cổng nhà ông Sinh đã rụng từ hồi nào, mà giờ ở Mỹ Đình, những tấm biển như vậy rụng nhiều như một loại quả gặp bão. Nhưng mà thằng Tuấn cũng chả thèm quan tâm, bởi từ lâu nó chỉ chôn chân trong những sới nghiện, tiền bán đất và cả con Camry đỏ ớt cũng đã bị nó nướng sạch. Khánh kiệt, nó mò về, quặt quẹo, miệng không ngớt lảm nhảm những từ ngữ khó hiểu. Tỉnh táo một chút thì nó nấc lên ầng ậc. Nó oán ông bố còn giữ đất để làm gì. Cũng tại đất mà ra cả! Cơn nghiện lên, nó hung hãn đập phá nhà cửa, đánh chửi cả bố. Nó ép ông Sinh bán nốt phần đất còn lại: “Thằng Tú chết rồi! Bố còn giữ đất cho ai?” Đã bệnh tật, lại bị nó hành hạ quá, cuối cùng ông Sinh cũng đành để nó bán nốt nhà cửa, cắt lại được chái bếp sát bờ sông, dọn ra đó.
Thằng Tuấn chích sâu chích sái vài năm thì số tiền bán đất cũng đi tong. Ông Sinh ngày ngày tập tễnh đi ăn xin rồi mang tiền về cho nó chích hút, không thì cũng chẳng yên được. Cái bữa mưa phùn, ngõ rêu trơn, ông Sinh trượt ngã què cẳng, bó bột nằm nhà chưa đầy tháng trời mà nó đã chửi rủa, ông lại phải chống nạng lết đi. Được cái dân Mỹ Đình giờ lắm tiền nhiều của, ruộng đồng đều đã biến thành khách sạn, quán nhậu, quán karaoke, tiền ở đó rơi vãi, ông Sinh cứ lết quanh, nhặt nhạnh cũng khá khẩm.
Hôm ấy, tháng tám, nắng hun mặt đường, mùi hắc ín sực lên khét lẹt, thấy ông Sinh vẫn lê lết, người ta cũng năng bố thí. Chạng vạng, ông Sinh về đến căn bếp, lẳng cái bị tiền cho thằng Tuấn: “Đây! Mày cầm lấy rồi xéo luôn cho tao nhờ! Giá mà mày cứ chết rấp đi để tao khỏi phải thấy cái mặt mày nữa!”
Ông Sinh thoáng ớn lạnh khi nghe cái vẻ độc địa trong câu rủa của chính mình. Ông chợt nhớ ra rằng những lời ước cầu của mình hầu như luôn ứng nghiệm một cách rất kì quái.
Thằng Tuấn cũng chẳng buồn chấp lời bố, vơ hết tiền rồi chuồn. Lâu lắm mới được món bở, nó chơi hẳn mấy bi nên sốc thuốc mà chết. Chủ sới sợ liên lụy, đêm lén đem cái xác vứt ra sông Nhuệ. Cái xác trôi xuống hạ lưu, mắc vào cửa cống.
6.
Sáng ra, lão thấy ươn người. Lão hé mắt. Nắng lọt qua mái bếp thủng lỗ chỗ, nhấp nháy một kiểu quen thuộc - không phải kiểu quen bởi mỗi sáng chúng đã ở sẵn đó đợi đôi mắt lão, nhưng lão không cắt nghĩa được cái sự quen ấy. Cơn ngủ lơ lửng trên mí mắt. Làn gió sớm thoảng qua, mang theo một mùi rất quen thúc vào kí ức lão: nồng như mùi chân ruộng ngậm phân, như mùi rau ải ngoài đồng. Nhưng Mỹ Đình giờ đâu còn đồng với ruộng? Thôi, đích thị là lão lại nằm mơ rồi!
Chợt, lão phát hiện một đôi mắt đang chăm chú nhìn lão - không phải mắt người. Bên đống xà bần ngoài sân, một con chó ta đen tuyền đang nằm, rụt rè ngó lão. Khi chạm phải ánh mắt của lão, con chó cụp vội mắt, tảng lờ quay đi. Một lát, con chó len lén ngoảnh lại. Lần này, nó nhìn vào mắt lão lâu hơn. Sự im lặng của lão khuyến khích nó thêm bạo dạn. Nó nhỏm dậy, nhích những bước nhỏ về phía lão, đầu chúc sát đất - đó là những tín hiệu rất rõ ràng trong ngôn ngữ của loài chó: nó đang chờ đợi để được phục tùng ông chủ.
“Mực!” Tiếng phều phào bật ra từ hố miệng lão (ấy thế mà người ta lại bảo lão bị câm!)
Con chó rít lên khe khẽ.
“Chao ôi! Mực! Là mày à?”
Lão vẫn chưa tin vào mắt mình, sợ rằng lại vừa lạc sang một giấc mơ khác.
Con chó vẫy tít đuôi, rối rít cào móng xuống nền, rồi bon lại, dụi mõm vào vai lão.
“Là mày đấy hở Mực?” - Lão vẫn hỏi.
Con chó ướt nhẹp. Lão bèn gượng dậy, lò dò đi kiếm cái áo để lau người cho nó. Nhưng hóa ra việc đó chỉ diễn ra trong ý nghĩ của lão mà thôi, chứ lão chẳng nhúc nhích được mình mẩy.
Con chó gầy quá, rõ là đói thường xuyên. Lão nhớ đến hộp cơm có miếng thịt kho mà chiều qua bới được từ một thùng rác ngoài phố. Trong đầu, lão lại thấy mình cố trở dậy lần nữa, lần sờ. Nhưng thực tế thì người lão đã dính xuống giường rồi.
Nằm bẹp trên giường, lão nhích một cánh tay, cố nhoài ra. Ngón tay lão chạm vào lớp lông mềm, ấm. Lần này thì đúng thật rồi, không phải lão mơ đâu! Lão lầm bầm:
“Thế cái hôm ấy, nhà Hợi...”
7.
Đêm ấy, cu Tuấn lên cơn hen, miệng ngáp ngáp như cá đớp bóng khí, anh Sinh bế thốc thằng bé lên vai, lao ù ra ngõ, chạy cắt cánh đồng hướng về phía bệnh viện 19-8.
Bác sĩ hỏi han rồi bảo anh Sinh về bán ngay con chó đi, lông chó khiến chứng hen của cu Tuấn nghiêm trọng. Anh Sinh nhớ ra, con Mực đang thay lông, mấy hôm nay lông chó rắc khắp nhà, khe giường, gầm chạn, chỗ nào cũng lông chó, và miếng cơm vào miệng mà sợi lông chó giắt kẽ răng.
Anh Sinh về, ngồi rệ bên bậc thềm mà nhìn con Mực lúc ấy đã bị xích cổ bên bờ giậu. Con Mực nằm bẹp, chẳng đụng đến bát cơm có miếng giò lụa mà anh Sinh để kề mõm nó. Con chó ở với anh lâu hơn cả vợ con anh, nó khác gì một người thân của anh đâu? Nhưng bây giờ, anh đã gọi lão Hợi rồi - lão chủ cửa hàng thịt chó ngoài chợ Mỹ Đình, chắc lão cũng sắp sang.
Lão Hợi sang thật. Lão chụp cái thòng lọng vào cổ con Mực, dong vào lồng sắt rồi hể hả xách ra cổng. Con Mực ngoái lại nhìn anh Sinh như cầu xin mà cũng như chẳng cầu xin.
8.
Con chó làm lão nhớ ra rằng lão đã từng có một gia đình, từng có hai thằng con song sinh, từng hạnh phúc và bất hạnh, và từng gặp nhiều may mắn kì lạ lắm. Lão đã sống một cuộc đời bất hạnh được xây bằng những viên gạch may mắn.
Cái đêm đắm thuyền, không hiểu sao lão sống sót. Lão có biết bơi đâu, chỉ biết khẩn cầu trước triệu con mắt nhấp nháy trên vòm trời sông Mã.
Lão coi việc được trở về nhà là một khế ước ngầm mà số phận đã hào phóng cho lão vay. Mỗi ngày được sống thêm là một phần lãi mà lão may mắn được hưởng, dù lão chẳng biết rồi sẽ phải trả thế nào. Cũng chính vì thế mà lão nuông chiều thằng Tuấn quá. Lão đã góp phần làm hỏng cuộc đời nó.
Giờ thì lão đã mất tất cả: mất vợ con, mất nhà cửa, mất cả cái làng Mỹ Đình của lão. Mỹ Đình đã lên phố, toàn dân tứ xứ, cả người ngoại quốc đông lắm, người Nhật, người Hàn, người da trắng, người da đen. Riêng những người quen tên biết mặt lão cứ ít dần. Lão thành ra tứ cố vô thân, thành kẻ xa lạ. Người ta quên lão, chính lão cũng quên cả mình là ai. Đất lành chôn người chết, đất dữ chôn người sống - lão thành cái thây sống bị sự lãng quên chôn vùi. Xem ra con Mực còn biết từ chối bát cơm từ tay kẻ hành quyết mình. Lão chẳng bằng nó nên cứ vồ lấy bất kì khúc xương thừa nào được quăng cho, lại còn xem đó là may mắn.
Lão vẫn lầm rầm trò chuyện với con chó. Nó hiểu chuyện lắm. Lúc lão kể tới khúc lật thuyền trên sông Mã, nó liếm cái lưỡi nóng hổi vào những vết sẹo trên đầu lão. Thỉnh thoảng, nó lại chìa cổ ra để lão gãi gãi y như thuở nào.
“Thế còn mày! Cái hôm ở nhà Hợi, mày sống sót bằng cách nào? Đời mày cũng may mắn thật chứ lị!” Lão hỏi. Con chó ư ử đáp. Lão lại nhìn lên mái bếp thủng. Giờ thì lão nhớ ra rồi: triệu ánh mắt nhấp nháy trên vòm trời sông Mã vẫn đang dòm xuống dò hỏi xem lão còn ước cầu gì không. Nhưng lão còn biết ước cầu gì nữa? Có chăng lão ước giá như cái đêm đắm thuyền, thà cứ để cho lão...
9.
Từ một hôm nào đó, dân Mỹ Đình không còn thấy bóng lão già lang thang nữa, mà thực ra cũng chẳng ai nhận ra sự vắng mặt của lão, bởi vì Mỹ Đình là một khu phố quá ư bận rộn, nếu có hỏi thì người ta cũng quả quyết rằng chưa từng thấy một lão già nào như vậy.
Cuối năm, thành phố khởi công xây tuyến đường ven sông Nhuệ, đất Mỹ Đình lại rục rịch tăng giá, khối kẻ lại sắp phất. Bờ sông được giải tỏa. Khi phá dỡ phần cơi nới đằng sau một ngôi nhà, người ta phát hiện một ngôi mộ vô chủ. Mộ tròn, đã sang cát, lâu ngày nên bị bùn rác vùi, bia mộ, bát hương nếu có thì chắc đã trôi sông. Khi quật mộ, người ta thấy một bộ cốt trong tiểu sành, trong còn một túi ni lông nhỏ bọc bảy sợi tóc và một miếng kẽm có khắc dòng chữ: “Đoàn Văn Sinh, sinh năm 1969. Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội.” Lần trong địa bạ thì quả chủ hộ gốc đất này có người con trai tên tuổi như vậy nhưng đã khai tử năm 1997, chết đuối mạn sông Mã. Lô đất ấy cũng đã bán chác qua tay nhiều đời chủ. Chủ nhà hiện thời kể rằng từ hồi chuyển về đây bỗng dưng sinh chứng mất ngủ vì ban đêm cứ nghe tiếng chó tru trong nhà, mà nhà thì không nuôi chó, hàng xóm cũng không, bờ sông thì bị tường hậu của dãy nhà bít lối, chó mèo chẳng lọt. Từ hôm di mộ thì tịnh không nghe tiếng chó sủa nữa.