Ngữ cảnh đọc tạo nên tâm thế của người đọc, để họ định vị mình trong một tầm đón nhận của kinh nghiệm đời sống và kinh nghiệm thẩm mĩ. Mỗi tâm thế khác nhau được định hình từ sự va chạm giữa hoàn cảnh đời sống trong đó người đọc trưởng thành và tình thế hiện tại khi họ đến với tác phẩm. Ngữ cảnh đọc vì thế cũng ràng buộc họ vào những khuôn khổ xã hội.
|
Một người bình thường khi đọc tác phẩm thì trở thành người đọc. Thời điểm đọc tác phẩm là thời điểm biến đổi vị thế của họ. Đó là khi họ rơi vào một tình thế đọc. Nếu như tình thế là thời điểm không gian và thời gian diễn ra sự đọc thì ngữ cảnh có thể hiểu là sự tương tác giữa hoàn cảnh đời sống của người đọc và hoàn cảnh đời sống văn bản. Ngữ cảnh đọc vì thế là điều kiện cho tình thế. Vì tình thế hiện tại nào cũng được tạo thành và chịu ảnh hưởng từ quá khứ, nên ngữ cảnh bao hàm cả thế giới đời sống mà người đọc sinh ra, lớn lên, được giáo dục, và thế giới đời sống trong đó văn bản được xem là văn bản văn học, được định hình, xuất bản và xuất hiện trong nhà sách.
Trước hết, ngữ cảnh đọc định hình nên vị thế người đọc. Điều gì thôi thúc một thanh niên lựa chọn mua và đọc một tác phẩm ngôn tình của văn học đại chúng trên giá sách? Đó không chỉ là hành động ngẫu nhiên, mà còn là điều gì đó được chuẩn bị từ ngữ cảnh. Tất nhiên con người có ý chí tự do của mình, nhưng lứa tuổi mới lớn, giáo dục trong nhà trường và gia đình, các mối quan hệ với bạn bè, những tác phẩm đã đọc, thế giới mạng xã hội, và cả cơ chế xuất bản sách, tất cả đều là những điều kiện gián tiếp cho việc người đọc chọn cuốn sách này, tựa sách này, thậm chí tác giả này, thay vì tựa sách kia, tác giả kia. Ngữ cảnh thẩm thấu và kiến tạo nên hành vi văn học của mỗi cá nhân người đọc. Nói cách khác, nó là toàn bộ những gì định vị một con người trở thành một người đọc trong tình thế cụ thể.
Thứ nữa, ngữ cảnh đọc còn định hình nên tác phẩm văn học. Điều gì làm cho tập bản thảo nhà văn gởi cho nhà xuất bản được xem như là văn học? Đó là một mối quan hệ phức tạp của các quy định, các văn bản, các quan niệm và quy ước của luật pháp, kinh tế, chính trị và xã hội. Nói cách khác, nó là toàn bộ những gì làm cho tập giấy đánh máy hay viết tay kia xuất hiện như là tác phẩm văn học. Tóm lại, ngữ cảnh đọc là điều kiện tạo nghĩa cho văn bản. Nó đồng thời tạo nên những hình thức kết nối riêng cho người đọc và văn bản, nhưng đồng thời cũng tạo nên một không gian với những quy ước chung nào đó. Một giáo viên diễn giải tác phẩm trước lớp khác với khi giáo viên ấy đọc một mình. Nhưng một văn bản được diễn giải trước lớp cũng dựa trên những quy ước chung trong ngữ cảnh nhà trường, mà cả giáo viên và học sinh đều chia sẻ chung.
Về mặt xã hội và văn hóa, ngữ cảnh đọc là quan hệ và tương tác giữa các định chế xã hội (social institution). Định chế xã hội tập hợp những khuôn mẫu cho hành vi, được hợp thức hóa bằng các quy chuẩn và sự chuẩn thuận của nhóm hay cộng đồng. Định chế, do đó, là toàn bộ các quy chuẩn xã hội có vai trò xã hội hóa cá nhân. Hầu hết các định chế xã hội được vận hành và truyền bá bởi các cơ quan tổ chức. Các định chế có vai trò tổ chức xã hội như định chế quản lí văn hóa, định chế kinh tế, định chế giáo dục chi phối người đọc thông qua những quy ước, ý thức hệ, diễn ngôn. Các định chế quản lí văn hóa chi phối đến công tác biên tập và phát hành thông qua luật xuất bản và kiểm duyệt. Các định chế kinh tế chi phối việc sản xuất, lưu thông và phân phối các sản phẩm văn hóa thông qua luật cung cầu. Sự vận hành và thực thi luật này do các công ty xuất bản, công ty phát hành. Họ lựa chọn tác phẩm theo một tiêu chí nào đó để có thể đem đến lợi nhuận. Các định chế giáo dục cũng chi phối đến thói quen đọc, kinh nghiệm đọc và quan niệm về giá trị tác phẩm, thông qua các tiêu chuẩn của chương trình, các quy tắc của thi cử và kiểm tra đánh giá. Các định chế truyền thông đại chúng (mass communication) làm trung gian môi giới, định hình và mở ra sự tương tác của các quan hệ văn học thông qua các quy luật về sự phản hồi và tác động của chương trình. Các định chế chính trị kiểm soát và quản lí quyền lực nhằm tạo nên sự ổn định xã hội thông qua luật và hiến pháp, chúng cho phép tác phẩm nào được xuất bản, sự diễn giải nào được chấp thuận.
Các định chế xã hội vận hành bằng các quy định diễn ngôn và liên văn bản. Quy định diễn ngôn giới hạn, điều hướng và kiến tạo cho các thực hành văn hóa. Mạng lưới các diễn ngôn trong nhà trường và trên truyền thông đại chúng ở mỗi thời đại khác nhau cho ta hình dung thế nào là nghệ sĩ theo những cách khác nhau. Giai đoạn trước 1945 nghệ sĩ là người thể hiện cái tôi và sự biểu đạt độc đáo về thế giới từ góc độ thẩm mĩ. Giai đoạn từ sau 1945, ở miền Bắc, nghệ sĩ được định hình là người tuyên truyền và cổ vũ đường lối cách mạng. Điều này quy định cách nhìn của chúng ta về văn học nghệ thuật. Nó quy định cả việc chúng ta chọn lựa tác phẩm, sắp xếp lịch sử văn học, và diễn giải ý nghĩa của “những tác phẩm tiêu biểu”, những tác phẩm đáp ứng các quy định diễn ngôn ấy.
Một nhà xuất bản làm việc với những nguyên tắc ngầm ẩn hay hiển nhiên, được thấm nhuần bởi đội ngũ lựa chọn tác phẩm, biên tập tác phẩm và phân phối tác phẩm. Những quy định này biểu hiện thành các quy định diễn ngôn, chẳng hạn như luật xuất bản, hạn định phạm vi diễn ngôn này và mở rộng cho phạm vi diễn ngôn khác. Nhà trường đại học và tạp chí xuất bản thể hiện các quy định ngầm ẩn của chúng qua hệ thống các quy ước và quy tắc, định hướng và khung khái niệm trong các giáo trình, bài giảng, bài báo được đăng và xuất bản phẩm của chúng. Các cơ quan quản lí văn hóa, các hệ thống giáo dục, tôn giáo hay truyền thông đại chúng cũng có vai trò chi phối sự tiếp nhận của người đọc.
Trong mối quan hệ giữa định chế và tiếp nhận văn học, sự đọc và tiếp nhận luôn nằm trong các khuôn định đọc (reading formation). Khuôn định đọc là các phạm vi thực hành của con người được điều hướng bởi các định chế xã hội. Người đọc đọc như thế nào phụ thuộc vào việc họ ở trong không gian xã hội nào và quan hệ với các định chế nào. Thông qua các khuôn định đọc, các định chế xã hội kiến tạo nên mối quan hệ giữa người đọc và văn bản, kiến tạo nên vai trò chủ thể của người đọc và vai trò đối tượng của văn bản.
Các khuôn định đọc và các quy định diễn ngôn chịu ảnh hưởng bởi các khuôn định ý (thức) hệ (ideological formation). Ý hệ (hay ý thức hệ) định hình nhận thức của chúng ta về thực tại và bản thân từ góc độ hệ giá trị hay quan niệm nào đó, làm cho ta không bao giờ có thể chạm đến thực tại như là thực tại. Các ý hệ này thẩm thấu vào ngôn ngữ, hình thành các diễn ngôn định hình cách người đọc nhìn nhận và đánh giá văn bản văn học.
Trong giai đoạn những năm 50-90 ở miền Bắc Việt Nam, ý hệ về vai trò của sự thể hiện hiện thực trong tác phẩm văn học định hình cách đánh giá của nhà phê bình về giá trị tác phẩm và chi phối việc chọn lựa các chiến lược diễn giải của họ. Khi diễn giải các tác phẩm văn học, các nhà phê bình có khuynh hướng căn cứ trên sự hình dung về hiện thực xã hội để phân tích các quan hệ nhân vật và hình ảnh xã hội trong tác phẩm. Ý hệ này chủ yếu hình thành và phổ biến trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thông qua các chương trình đào tạo, các giáo trình và tài liệu giảng dạy, qua các cơ quan quản lí văn hóa và các định chế chính trị. Chẳng hạn như khi phân tích Chí Phèo, các nhà phê bình có khuynh hướng chú ý nhiều hơn mối quan hệ giữa Chí Phèo và Bá Kiến, và xem nhân vật Thị Nở như là một tác nhân trong tiến trình bi kịch của Chí, như là hậu quả của sự áp bức của Bá Kiến. Chiến lược này bỏ qua, chẳng hạn, các quan hệ về giới giữa Chí Phèo và bà Ba, Thị Nở và bà cô thị Nở. Vì mối quan hệ giữa Chí Phèo và Bá Kiến khớp nối với ý hệ về hiện thực đấu tranh giai cấp trong văn học.
Sự đọc diễn ra trong không gian của đời sống xã hội hiện thực, nên những điều kiện cho sự đọc nằm trong các quy ước và các định chế xã hội. Có những định chế xã hội khác nhau góp phần định hình nên người đọc, văn bản và vì thế, định hình nên sự đọc. Tiêu biểu là các định chế xuất bản, truyền thông đại chúng và các định chế giáo dục, khoa học.
Định chế xuất bản có vai trò tạo nên sự xuất hiện của tác phẩm. Tác phẩm văn học tồn tại trong đời sống văn hóa không chỉ dưới dạng văn bản, mà trong hình thức xuất bản phẩm là cuốn sách, bài thơ đăng báo, file PDF… Các xuất bản phẩm này nằm trong quan hệ phân phối và tiêu thụ sản phẩm văn hóa. Trong xã hội thị trường, quan hệ này kiến tạo và tổ chức sự tiếp nhận bằng cách đặt người đọc vào vị trí khách hàng và người tiêu thụ, đặt tác phẩm vào vị trí sản phẩm hàng hóa văn hóa. Nói cách khác, quan hệ phân phối và tiêu thụ sản phẩm chi phối quan hệ sáng tác và tiếp nhận. Sự chi phối này thể hiện ở hai hình thức: thứ nhất, tác phẩm nào được chọn lựa, chỉnh sửa để xuất bản theo các quy ước và quy định của định chế xã hội, thứ hai, sự xuất hiện của tác phẩm được tổ chức như thế nào để nó phát huy tối đa hiệu quả ảnh hưởng. Hình thức thứ nhất liên quan đến xuất bản, hình thức thứ hai liên quan đến tổ chức phát hành.
Xuất bản tác phẩm là một quy trình phức tạp với sự tham gia của người biên tập, các chuyên gia về xuất bản và phân phối, ý kiến của các nhà phát hành và quy định của các cơ quan quản lí văn hóa. Ở đây có các quy ước và quy định của các định chế luật pháp, kinh tế, văn hóa, các quy luật của thị trường, các quy định và cơ chế kiểm duyệt, các cơ chế và luật lệ của các quan hệ xã hội và cá nhân phức tạp. Trong tổng thể hoạt động này, nghiên cứu thị trường và nhu cầu đọc của công chúng là nhiệm vụ quan trọng. Những khảo sát về thị hiếu, phân tích về nhu cầu tinh thần của lứa tuổi, so sánh nhu cầu này trong mối tương quan với các nhu cầu giải trí khác. Tất cả chúng sẽ cho các cơ quan và công ty văn hóa thông tin về số lượng người đọc và các nội dung vấn đề có thể hấp dẫn họ. Qua đó, nhà xuất bản và các cơ quan, công ty văn hóa định hình nên chiến lược xuất bản, mở rộng thị trường, định hình sản phẩm là các tác phẩm văn học, và từ đó, tác động trở lại đối với khâu biên tập, định hình hình thức và nội dung của tác phẩm được xuất bản. Sự ra đời một tác phẩm là kết quả tương tác giữa các yếu tố trên.
Truyền thông đại chúng tập hợp những định chế quan trọng tham gia vào hoạt động phát hành và quảng bá này, đồng thời định hình người đọc và sự tiếp nhận. Các kênh truyền hình, đài phát thanh, báo và tạp chí, gồm báo in và báo mạng, những trang mạng xã hội… với những quy tắc về xuất bản và phát hành, có vai trò định hình môi trường diễn ngôn và ý thức hệ. Chúng điều hướng các sự tiếp nhận bằng việc chuyển dòng thông tin sự kiện, định hình các giá trị, sự quan tâm chú ý của người đọc. Chúng cũng có vai trò lan truyền và phổ biến các chiến lược diễn giải, kiến tạo nên các sự kiện văn hóa và trình hiện lại sự diễn giải theo cách thức và yêu cầu của riêng chúng. Ở góc độ cơ bản hơn, đặc điểm của các phương tiện truyền thông khác nhau xây dựng nên các điều kiện và không gian khác nhau của sự đọc. Người đọc và sự đọc trên các trang mạng xã hội thì có những đặc điểm khác với sự đọc trên các hệ thống truyền thông khoa học truyền thống: tính tương tác, tính cá nhân, tính đại chúng.
Một biểu hiện của sự khuôn định cho việc đọc của truyền thông đại chúng là tác động của các tu từ văn hóa trên truyền thông chính trị đối với việc diễn giải ý nghĩa của tác phẩm. Steven Mailloux nghiên cứu một trường hợp cho thấy các sự kiện truyền thông đã ảnh hưởng đến diễn giải và kì vọng của người đọc. Ông phân tích và chỉ ra trường hợp dạy học của Nafisi cho thấy người dạy chịu ảnh hưởng từ hình thức tu từ trong diễn ngôn của Tổng thống Bush về Iran. Từ đó, bằng việc dạy học, Nafasi hi vọng rằng tác phẩm văn học có thể thức tỉnh các sinh viên của mình để họ nhận thức được thực tại của đất nước họ: “Tôi nói với các sinh viên của tôi là tôi muốn họ, thông qua việc đọc của họ, hãy xem xét những cách thức mà các tác phẩm đã tra vấn họ, làm họ băn khoăn, để họ quan sát và xem xét lại thế giới bằng những con mắt khác, như Alice lạc vào xứ sở thần tiên”. Nafasi ghi chép những phản hồi từ sinh viên khi đọc các tác phẩm văn học Mỹ và phân tích nhận thức của họ về giá trị của tự do dân chủ Mỹ. Từ đó, Mailloux kết luận rằng: “Hoạt động dạy và viết của Nafisi dựa trên một niềm hi vọng rằng đánh giá về giá trị văn học châu Âu của cô có thể thắng thế nơi quê hương cô. Cách thức cô đánh giá những giá trị này hóa ra lại xác định những điều mà cô hi vọng”.
Bên cạnh truyền thông đại chúng, nhà trường là tổ chức quyền lực có những định chế cung cấp và sản sinh chiến lược diễn giải, khuôn định các diễn giải cho người đọc. Nhà trường, nói như Althusser (1971), có vai trò tái sản xuất ý thức kỉ luật của xã hội thông qua các ý hệ. Nó kiến tạo những hệ giá trị và quy ước đọc thông qua chương trình, phương pháp và các tác phẩm được chọn đọc. Nhà trường vì vậy định hình cả cách nhìn lịch sử văn học, tái sản xuất các quy ước đọc và sản sinh các thế hệ người đọc khác nhau cho xã hội. Ở mặt khác, nhà trường liên quan đến các định chế khoa học gắn liền với giáo dục. Các trung tâm nghiên cứu, cơ sở nghiên cứu và chương trình môn học của trường đại học về cơ bản là các hoạt động khoa học và nghiên cứu. Các trường phái lí thuyết sinh ra từ trường đại học và cơ sở nghiên cứu, do các giáo sư và nhà nghiên cứu chủ trì. Các định chế liên quan đến khoa học này sản xuất các quy định và diễn ngôn khuôn định đường hướng nghiên cứu và tiếp cận hiện tượng văn học. Chúng chi phối cách diễn giải văn học và góp phần kiến tạo lịch sử văn học. Các giáo trình đại học, các nhà nghiên cứu theo trường phái nào đó đào tạo các nhà phê bình và các nhà khoa học tương lai. Về cơ bản, họ thuộc về các cộng đồng diễn giải văn học. Và vì thế, ở một góc độ nào đó, họ khuôn định những cách đọc và tiếp nhận văn bản văn học.
Tuy nhiên, tình thế tiếp nhận vừa bao hàm sự tất yếu của ngữ cảnh, vừa bao hàm khả năng cho tự do. Ở đây triết học hiện sinh đã cho chúng ta một gợi ý: Con người bị quăng ném vào hoàn cảnh, nhưng trong mỗi con người luôn tồn tại năng lực lựa chọn. Trong tiếp nhận văn học, sự khuôn định của các định chế xã hội không hoàn toàn tất yếu, người đọc vẫn có những khoảng không tự do cho quyết định cá nhân trong việc đọc. Họ một mặt chịu sự chi phối bởi những quy ước và chiến lược đọc của định chế, mặt khác, họ có những chiến thuật của riêng mình, len lỏi trong không gian định chế, sử dụng các quy ước đọc và chất liệu của văn bản cho nhu cầu tinh thần của riêng mình. Mặt khác, trong thế giới hiện đại, khi mà người đọc có tự do nhiều hơn trong tiếp cận tác phẩm và thể hiện sự tiếp nhận của mình, những quy ước của định chế đôi khi là tiền đề để họ vượt qua và khẳng định sự lựa chọn trong việc đọc của mình. Trong khi nhà trường hướng đến những tác phẩm được lựa chọn theo quan niệm văn học và chiến lược diễn giải hợp thức, người đọc lại đến với các tác phẩm văn học nằm ngoài quy ước và giá trị vốn hết sức đa dạng. Họ đọc các tác phẩm ăn khách, dõi theo các nhân vật trong phim chuyển thể từ tác phẩm, và thỏa sức liên tưởng tự do trong khi đến với tác phẩm.
Có lẽ thế giới hư cấu của tác phẩm hấp dẫn chúng ta không chỉ bởi vì nó giúp ta ngoái nhìn lại thế giới thực trần trụi mà ta đang sống, mà vì nó đặt ta trước ngưỡng cửa của một thế giới mà ta chưa được biết, và trao cho ta cơ hội trải nghiệm trong từng sự liên tưởng ý nghĩa của mình. Văn bản văn học và đời sống xã hội vì thế có thể ràng buộc chúng ta bằng những quy ước của chúng, nhưng vì tác phẩm văn học chỉ tồn tại thực trong tinh thần của chúng ta khi tiếp nhận, nên những quy ước của văn bản cũng chỉ là điều kiện cho ta trải nghiệm sự tự do trong thế giới huyễn tưởng của tác phẩm mà thôi.