Diễn đàn lý luận

Nhà thơ của làng

Ngô Đức Hành
Chân dung văn học 13:51 | 31/08/2026
Baovannghe.vn - Mỗi lần ra Hà Nội, nhà thơ Trần Chấn Uy đều gọi điện thoại nhắn tôi đến quán bia hơi. Ông khoái bia hơi Hà Nội. Bên cốc bia vàng, men sóng sánh, không đâu có được, ông kể chuyện đời sống của mình và trải lòng về Hà Nội.
aa

Lần gặp gỡ mới đây, ông tặng tôi tác phẩm Thơ Trần Chấn Uy mới xuất bản. Tập thơ này, có thể coi là tuyển thơ (dù chưa gọi là tuyển tập) nên dày dặn, khổ kinh điển 14,5x20,5; hơn 480 trang, gồm 447 bài thơ. Trần Chấn Uy là một nhà thơ “toàn tòng”, không “đá gà, đá vịt” thể loại khác. Tài năng cho mỗi người một lĩnh vực. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.

Nhà thơ của làng
Nhà thơ Trần Chấn Uy

Mỗi lần gặp Trần Chấn Uy, tôi thường ngắm nhìn ông ở những khoảng lặng. Tính ông sôi nổi, bất ngờ như sóng biển Nha Trang, nơi ông lập nghiệp đã nửa thế kỷ. Đời thường Trần Chấn Uy và thơ gần như là... đối lập. Nếu như, bên ngoài ông cao lớn, “ăn sóng nói gió”, thì thơ lại xác tín một tâm hồn mong manh, dễ vỡ.

Nhà thơ Trần Chấn Uy sinh ra ở Đức Thọ, Hà Tĩnh nhưng từ lâu sinh sống và làm việc tại Nha Trang, Khánh Hòa. Ông nguyên là “ông giáo” dạy văn, trước khi làm nghề báo ở Đài Phát thanh và Truyền hình Khánh Hòa. Là người sống ở đô thị hơn nửa đời người, nhưng tâm hồn ông đăm đắm phía làng. Thơ về đề tài làng quê vẫn là mảng đề tài lớn, mang đến cho ông những thành công. Nếu như chữ bầu lên nhà thơ, thì chữ về làng trong thơ ông là lá phiếu “đại cử tri”.

Đọc các tập thơ như Giấc ngủ khuyết vầng trăng, Nxb Văn học năm 2005, tái bản năm 2007; Bên dòng sông đa tình, Nxb Hội Nhà văn năm 2012; Bóng làng, Nxb Hội Nhà văn năm 2018, Người về từ nẻo cỏ may, Nxb Văn học năm 2022; và Thơ Trần Chấn Uy, ta nhận ra ông đăm đắm, hun hút phía làng. Làng hiện lên trong thơ ông da diết, xác tín, ông thuộc về làng, hồn thơ neo ở phía làng.

Trần Chấn Uy, sinh ra ở một làng quê bên sông La (Hà Tĩnh). Lớn lên đi bộ đội rồi lập nghiệp nơi “đất khách quê người”. Khoảng cách từ Khánh Hòa về Hà Tĩnh không gần, nếu không muốn nói là xa, nhưng năm nào cũng hai lần, đều đặn ông về thăm quê hương bản quán.

Khó có thể liệt kê hết các thi phẩm của Trần Chấn Uy viết về làng; nhưng có thể điểm: Ký ức đồng quê, Để có một tên làng, Làng tôi, Đất làng, Về thăm làng cũ, Đêm ở làng, Viết trên đỉnh núi quê nhà… Mỗi bài thơ là một lát cắt của ký ức, được ông gìn giữ, nâng niu.

“Bao cái Tết xa quê tôi trở về làng cũ/ Chiếc cầu gỗ già nua/ Lưng còng xuống trên dòng sông nhỏ/ Hoa lục bình tim tím nở bâng quơ”... “Chậu cúc vàng hàm tiếu đợi khai xuân/ Ông nội tôi lom khom xén cúc tần bờ dậu/ Bao kỷ niệm của một thời thơ ấu/ Bỗng ùa về trong nỗi nhớ không nguôi” (Làng tôi).

Làng quê với chiếc cầu gỗ già nua, chậu cúc vàng, ông nội lom khom... hiện lên thanh bình, yên ả, tạo ra xúc cảm với người đọc về ký ức. Thơ Trần Chấn Uy, dẫu viết về làng luôn có những thi ảnh ẩn dụ, toát lên vẻ đẹp của sự liên tưởng. “Chiếc cầu gỗ già nua/ Lưng còng xuống trên dòng suối nhỏ”, quá xuất thần. Chiếc cầu nhẫn nại, đến mức “lưng còng xuống”, chiếc cầu trở nên có “hồn vía”. Đó là vẻ đẹp, chỉ có trong thi ca.

Quê hương dù theo quán chiếu nào cũng thiêng liêng. Theo nghĩa hẹp, quê hương, nơi có gia tiên, ông bà, bố mẹ - con người nào cũng cúi xuống thành kính. Nghĩa rộng hơn, quê hương là nơi có những người dân làng “Bao gương mặt như cánh đồng phơi ải” (Đất làng). Cho đến bây giờ những người nông dân vẫn lam lũ mưu sinh, một nắng hai sương. Đó là tiếng nói nhân văn, chia sẻ.

Khuôn mặt thơ Trần Chấn Uy đa diện, đến vùng quê nào cũng bật lên trong ông thi hứng. Thế nhưng đọc ông, nhiều người thích “khuôn mặt làng”. Mỗi người có một “cái bóng” xác định cá tính thơ. Với Trần Chấn Uy đó là bóng làng. “Trâu lững thững như một nhà hiền triết/ Vểnh tai nghe tiếng trống tan trường”… “Hoa dong riềng nhóm lò than nóng hổi/ Con chuồn kim khâu vội ánh chiều tà” (Bóng làng).

Làng hiện lên trong thơ ông đầy đủ không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật; là “mảnh đất” để ông “phô diễn” ngôn từ, thổ lộ tình cảm, tưởng tượng, sáng tạo. Người đọc nhận ra một cá tính, một tâm hồn mang tên ông. Đó là khi Trần Chấn Uy biết im lặng để con chữ “phát biểu”.

Mỗi người đều có một quê hương, thuộc về một quê hương. Không ai bứng được Trần Chấn Uy khỏi cố hương: “Trọn đời đất khách quê người/ Thương quê, ta lại bồi hồi chốn quê/ Gió trăng bát ngát đường về/ Người xưa xa vắng, lòng tê tái chiều” (Nghe tiếng cuốc kêu).

Làng trong thơ Trần Chấn Uy còn có một hiện thực ẩn dụ, day dứt. Với mẫn cảm của nhà thơ, Trần Chấn Uy nhận ra ở đó ngoài sự lam lũ là biết bao vấn đề đã mất, đáng lo nhất là về văn hóa truyền thống, tình làng nghĩa xóm. “Bóng làng bỗng nhòa trong mắt đắng/ Giọt thương đau mặn chát ở đầu môi”, (Bóng làng).

Hẳn đối với Trần Chấn Uy, một nhà thơ thì ký ức là một tài sản.

“Núi vẫn núi nghìn năm trước/ Cỏ cây xanh, xanh buốt tựa muôn xưa/ Ngày trở lại, quá nửa đời tóc bạc/ Núi trẻ trai hồi hộp đón ta về” (Viết trên đỉnh núi quê nhà).

Nhà thơ Trần Chấn Uy, dù ở Nha Trang hay ở Hà Nội, ngữ cảnh cà phê hay đi nhậu... lúc nào ông cũng chỉn chu, rất ấn tượng. Tôi suy nghĩ và tự trả lời, vốn làm nghề giáo, rồi sau làm quản lý ở Đài Phát thanh và Truyền hình Khánh Hòa nên ông ăn mặc ngay ngắn vậy.

Quê xưa thì nghèo nhưng gia cảnh Trần Chấn Uy đã thuộc dạng phong lưu. Ông nội Trần Chấn Uy vốn là Đại thần triều Nguyễn, nên có thể gọi ông thuộc dòng dõi “danh gia vọng tộc”.

Con người ngang tàng, gai góc, dữ dội của ông biến mất khi hồi tưởng quá vãng. Trong con người Trần Chấn Uy, hóa ra thẳm sâu một “khoảng trống”, muốn được nương tựa, lấp đầy. “Nhiều khi buồn/ Ngắm dung nhan mà tủi” (Chân dung tự họa), ông lắm khi ngơ ngác, trầm buồn cũng chính vì ký ức.

Như đã nói ở trên, mỗi lần ra Hà Nội, khi ngồi ở quán bia, Trần Chấn Uy luôn nhắc lại những kỷ niệm cũ với Hà Nội. Bởi tự thắm sâu, ông đã dành cho Hà Nội một tình yêu đặc biệt.

Trần Chấn Uy yêu từ ngọn cỏ, cành cây, bốn mùa hoa, góc phố, con đường,... đến ẩm thực Hà Nội. “Hà Nội mùa thu, Hồ Gươm sương khói/ Vẫn hào hoa trong nét đẹp kinh thành” (Gặp gỡ mùa thu). Dường như tâm hồn Trần Chấn Uy, có một góc riêng dành cho Hà Nội; hay Hà Nội “xâm lấn” tâm hồn thì may ra chính ông mới giải thích rành rẽ.

Khi ông sáng tác thơ về mùa thu, đấy là mùa thu Hà Nội, cho dù ông viết trong một đêm bị muỗi đốt ở miệt vườn U Minh. Trong thơ Trần Chấn Uy có một không gian nghệ thuật, ở đó có đầy ắp biểu tượng mùa, biểu tượng thời gian... Mùa xuân tràn đầy sinh khí, nảy nở, phồn sinh; mùa hè khoe sắc, rực rỡ, chói chang; mùa thu hoài niệm; mùa đông ẩn mình, chất chứa, linh nghiệm.

Bốn mùa chuyển động trở thành dinh dưỡng tinh thần của Trần Chấn Uy, ở đó thế giới ngoại cảm và thế giới nội tâm, tương cảm, giao thoa và cộng hưởng tạo nên những sinh thể thi ca. Tần suất mùa trong thơ Trần Chấn Uy may ra AI mới có thể đếm được, bởi không chỉ nằm ở tên thi phẩm mà còn là thi ảnh trong lòng từng thi phẩm.

Trong bốn mùa, có lẽ mùa thu mang đến nhiều cảm xúc cho nhà thơ. Mùa thu ký thác vào thơ ông. Khi ông “mượn mùa thu” để đối thoại, đọc lên biết ngay về mùa thu Hà Nội, mùa đẹp nhất của Thăng Long ngàn năm văn vật.

“Trời đẹp thế, thu đã tràn qua phố/ Những hàng cây mắt lá rưng rưng/ Sông cởi áo những hàng khuy cúc trắng/ Sóng đôi bờ xao xuyến đất Thăng Long.” Và ông đọc ra mùa thu ngan ngát suốt chiều dài lịch sử: “Mùa thu đã nao lòng ngàn năm trước/ Nghìn năm sau vẫn thế mùa thu/ Thời gian trôi cõi người không khác được/ Tháng năm xanh mới đó đã xa mờ” (Mùa thu Hà Nội).

Mùa thu Hà Nội bước vào thơ Trần Chấn Uy trong: Gặp gỡ mùa thu, Đừng trách mùa thu, Chớm thu, Lập thu, Mùa thu, Hồn thu, Dáng thu, Cuối thu, Thu tàn... Đối với ông, mùa thu không còn là một mùa của vòng quay trời đất, mà là người bạn tâm giao, để sẻ chia, trao trút khi chếnh choáng, lúc cô đơn, muộn phiền. Mùa thu, chính nó cũng là một sinh thể có tâm hồn, mang tâm thức của thi sĩ, một người rất yêu Hà Nội.

Ông yêu Hà Nội đến độ, trong tập Thơ Trần Chấn Uy có đến 16 bài có địa danh Hà Nội hoặc địa chỉ cụ thể thuộc về Hà Nội.

Không ai nghi ngờ tình yêu của Trần Chấn Uy dành cho Hà Nội. Hà Nội với ông không chỉ bốn mùa hoa, sự quyến rũ của đất trời, mà còn tinh thần Hà Nội nằm trong những giá trị phi vật thể, tạo nên hồn cốt Thăng Long. “Ta lật giở từng trang sử Việt/ Nghe hồn thiêng sông núi gọi tên mình/ Xin Long vương thêm một lần mượn kiếm/ Để con cháu vua Hùng gìn giữ đất Thăng Long” (Cảm tác Hồ Gươm).

Hà Nội không chỉ là phong vận. Ngoài vẻ đẹp huyền nhiệm của thiên nhiên, những khúc quanh của bản thể, ý nghĩa tồn sinh và nỗi khốn khổ của một kiếp người và rộng lớn hơn, những vấn đề thời cuộc qua quán chiếu đất trời Hà Nội hiển lộ.

“Thế là hơn bốn mươi năm tuổi đời/ Thành giọt giọt tràn qua hố mắt/ Rụng xuống đường đời/ Mặn chát những dấu chân” (Đường đời). Bài thơ này Trần Chấn Uy viết năm 1998, đúng sinh nhật tuổi bốn mươi. Cái lớn nhất của nhà thơ là khả năng tự mình trở thành đối tượng mà mình biểu hiện. Câu nói này của nhà thơ Mỹ, D.Baude, đúng với Trần Chấn Uy. Thơ là người, tiếng nói của tâm hồn. Với Trần Chấn Uy thơ ông cất dày dặn giai điệu bản thể.

Hoa người, hoa bản suối tiên. Bút ký của Chung Tử

Hoa người, hoa bản suối tiên. Bút ký của Chung Tử

Baovannghe.vn- Đường số 293 lên thị trấn Tây Yên Tử không còn thấy xa heo hút khúc khuỷu mà đã được mở rộng và trải nhựa phẳng lỳ.
Có một bài thơ - Thơ Vương Long

Có một bài thơ - Thơ Vương Long

Baovannghe.vn- Có một bài thơ chưa rõ tứ/ Bỗng về rung nhẹ ở trong anh
Trọng lượng của kí ức trong tiểu thuyết Vũ Thành Sơn

Trọng lượng của kí ức trong tiểu thuyết Vũ Thành Sơn

Baovannghe.vn - ...Tiểu thuyết của Vũ Thành Sơn, dù là tiểu thuyết thế sự - đời tư hay tiểu thuyết lịch sử, đều có dung lượng ngắn (trên dưới 200 trang), ít nhân vật, ít hành động và sự kiện, nhưng lại mở ra nhiều khoảng trống cho những suy tư và khả năng diễn giải tiếp tục...
Nghị định 334: Đổi mới cơ chế tự chủ, tài chính trong giáo dục đại học, giáo dục nghề

Nghị định 334: Đổi mới cơ chế tự chủ, tài chính trong giáo dục đại học, giáo dục nghề

Baovannghe.vn - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian.
Cánh bay chuồn chuồn ớt. Truyện ngắn của Đặng Thảo

Cánh bay chuồn chuồn ớt. Truyện ngắn của Đặng Thảo

Baovannghe.vn- An có thể phân biệt tiếng khóc của con giữa hàng trăm âm thanh khác nhau. Tiếng nghẹn ở cổ là đau bụng. Tiếng rít mỏng như hơi gió là sắp co giật. Còn khi Bin phát ra những âm khục khục rất khẽ, nghĩa là ngoài cửa sổ đang có nắng.