Khi Nguyễn Văn Toan vừa sinh, po (bố) anh thả xuống ao cá trước nhà một con cá bỗng con vớt được ở dòng sông Lô xanh ngắt, bảo đây là cá bản mệnh của con trai, ước mong sau này con sẽ tự do như cá, vẫy vùng trong trời đất miền biên viễn nơi bản Lúp, Phương Độ, Hà Giang này. Mà lạ thay, lúc người bán cá giống đi qua, giữa rất nhiều cá ông chỉ chọn có duy nhất một con này chứ không mua cả mớ như những lần trước. Người bán cũng chẳng lấy tiền, khi biết chuyện chỉ uống ba bát rượu mừng, mặt phừng phừng rồi lại lóc cóc đạp xe đi. Nhìn kĩ, trên đầu con cá u lên hai gợn nhỏ như sừng rồng, ánh mắt linh hoạt, nhanh nhẹn, vừa cầm con cá lên ông đã ưng cái bụng nhiều lắm. Thả xuống nước rồi cá không lặn ngay, mà còn khoan dung bơi mấy vòng trước mắt ông như chào, như biết mình có nhiệm vụ quan trọng lắm cần hoàn thành.
Khi này, ú (mẹ) anh thấy thế định can, nhưng sợ chồng chẳng dám nói, mà trong lòng bà cứ dâng lên nỗi bất an khó tả. Mà thực có can cũng chẳng được, hai người con trai đầu ông cũng đều mua cá giống về rồi thả. Những con cá bản mệnh cứ thế lớn lên cùng những con cá thường, mà thực rồi cũng chẳng biết cá nào là cá bản mệnh nữa. Người trong bản khi đón thành viên mới trong nhà, nhà có ao thì thả thêm cá, nhà có vườn thì trồng thêm cây. Cái cây, con cá cứ thế gắn với vòng đời của một đứa trẻ. Nhìn đứa trẻ lớn lên, bươn bả kiếm sống, dựng vợ gả chồng, rồi già đi nơi bản. Nhưng cũng có những đứa trẻ đi mãi chẳng về, người bản bảo đứa trẻ ấy chẳng nhớ cái cây, con cá bản mệnh của mình nữa rồi...
Tôi đã bao nhiêu lần nghe Nguyễn Văn Toan kể về con cá bản mệnh của đời mình như thế. Bao nhiêu lần say anh kể đã có lần dùng lưới vét cạn cả ao cũng chẳng thấy con cá đâu. Nhưng rồi ngay hôm sau lại thấy cá nổi lên đớp sương rơi xuống từ tán cây sung trồng veo ao. Hai cái u, như hai cái sừng đỏ ngấu trên đầu chẳng lẫn vào đâu. Có phải vì thế chăng mà đến bây giờ bản anh, bằng tuổi anh, nhiều người đã lên ông nội ông ngoại, chỉ có anh vẫn ngày ngày miệt mài đọc Tuyển tập Franz Kafka do Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây làm năm 2003, dày hơn nghìn trang cất trên gác bếp ám khói, nhà văn của sự phi lí kiếm tìm, như anh cũng thế...
![]() |
| Nhà văn Nguyễn Văn Toan - Ảnh: TGCC |
Nhớ lại, tôi quen anh ở Trại sáng tác của tạp chí Văn nghệ Quân đội ở Đà Lạt cách nay hơn mười năm, lúc đó anh vẫn đang học năm hai khoa Viết văn - Báo chí (tiền thân là Trường Viết văn Nguyễn Du) thuộc Đại học Văn hóa Hà Nội. Trại đó, cái được lớn nhất của chúng tôi là cách thể hiện suy nghĩ của mình trước tác giả có tiếng, tức là mình có quyền nói lên tiếng nói của mình, hay nói hay, dở nói dở, không phải vòng vo, rào trước đón sau. Trại trưởng “mẹ chồng” Đỗ Tiến Thụy luôn có cách để cánh trẻ sôi lên trong mỗi hoạt động của trại. Các truyện sáng tác trong trại đều được gửi vào nhóm chung, mọi người cùng đọc rồi góp ý, mổ xẻ thẳng thắn cái được, cái chưa được. Có những cuộc xung đột vì văn chương đã “suýt” dẫn đến đổ máu, văn nhân tương tàn nếu như không kịp can ngăn. Nhưng rồi cuối cùng trại vẫn thành công tốt đẹp, về thơ không tính đến, nhưng truyện Núi gọi tên mày của anh là truyện đinh của trại, sau in đổi tên thành Nhau của núi. Truyện ám ảnh nhất ở chi tiết nhau của mỗi đứa trẻ sinh ra đều được cho vào ống bương gửi nơi cây cổ thụ trên rừng. Rồi đến khi lớp người trẻ dần không còn tin vào rừng, vào phong tục đó nữa, họ đưa máy móc lên đốn cây và xào nhau thai của đứa trẻ mới sinh lên ăn, cuối cùng chính họ phải gánh hậu quả mình gây ra. Nhưng dù có thế nào thì họ (khi đã mất đi), rồi người thân của họ nữa vẫn (buộc) phải gắn sinh mệnh mình với núi rừng, với sự mất mát đã hằn in trong lòng...
Ngày cuối ở trại, khi truyện ngắn được nghiệm thu (của tôi là truyện: Hai mẹ con và nhà thơ cùng phố) chúng tôi rủ nhau đi chợ mua dâu về Hà Nội làm quà. Ba thùng nặng, kèm thêm hoa quả sấy. Tôi đã thuyết phục anh đi cùng xe khách với tôi để trải nghiệm ngắm cảnh trên đường, dù trước đó anh đã đặt vé máy bay rồi, và anh đồng ý. Mọi chuyện đều suôn sẻ cho đến khi đêm anh không yên tâm về máy tính của mình để dưới đuôi xe. Cứ nửa tiếng anh lại bần thần lần giường xuống sờ ba lô xem máy tính của mình còn không. Dù tôi bảo kệ đi, vì ba lô tôi cũng để cạnh ba lô anh, mất thì mất rồi. Anh nhìn tôi kiểu kẻ trên trời, không biết lo lắng tài sản của mình. Cho đến nửa đêm về sáng, anh mệt quá ngủ thiếp đi và chẳng còn kiểm tra được nữa, lúc ấy thì máy tính biến mất. Đến sáng bảnh, khi xe dừng cho mọi người đánh răng rửa mặt, ăn sáng, anh buồn rầu thông báo với tôi: “Máy tính tao mất rồi mày ạ!” Tôi hoảng hốt: “Mất lúc nào?” “Chẳng rõ, nhưng sao bọn nó không lấy luôn dây sạc, máy tính cùi ấy anh tao cho phải cắm sạc mới lên, khổ thế.” Hóa ra anh lo cho cho kẻ trộm bật máy tính không lên, chứ chẳng lo sắp tới mình sẽ viết bằng gì, bản thảo dở dang trong máy thì sao.
Sau chuyến ấy ba thùng dâu đem về bỏ đi cả vì để cốp xe hỏng cả. Chúng tôi chia nhau mấy gói hoa quả sấy, rồi anh về trường, tôi bắt xe ngược Quảng Ninh, hẹn ngày tái ngộ không xa...
Bẵng đi ít lâu, khi tôi chuyển về tạp chí Văn nghệ Quân đội làm việc thì anh ra trường. Tôi hỏi anh có về quê làm không, anh bảo xem thế nào đã. Anh dấn thân vào đời sống phố thị bằng việc buôn chè, bán đặc sản vùng cao như: thịt sấy, mật ong, nụ hoa tam thất, giảo cổ lam..., cùng việc chạy grap hằng ngày. Lúc này, vợ chồng tôi đã rời thị trấn, thuê căn phòng nhỏ trên tầng năm, phố Cửa Đông. Cứ chiều chiều, anh chạy qua tạp chí đi đón con cùng tôi, anh vẫn gọi đùa là “a búc”, rồi trong lúc anh chơi với thằng bé thì tôi nấu ăn, xong làm vài chén trước khi chia tay. Lâu lâu, hai chúng tôi lại xuống Thanh Trì thăm người bạn bán sách cũ lẫn mới Khuất Hữu Nam, thường nấu cơm ăn cơm, xong đâu đấy xin vài cuốn sách rồi về.
Cho đến một dịp cận Tết, anh gọi hỏi tôi còn ở Hà Nội không, tôi bảo còn, anh bảo qua dãy tập thể sau trường Văn hóa, đến nhà ấy nhà nọ lấy thịt trâu khô về mà ăn. Hỏi ra mới biết anh bán chẳng lấy tiền trước, thịt trâu người ta ăn một nửa bảo dai quá, anh cũng ừ, đồng ý lấy về. Rồi còn bao chuyến bán hàng qua mạng, anh cứ ship đi chẳng thu tiền trước, đến khi nhận hàng thì chặn Facebook, chặn số, thế là mất hút.
Tưởng anh bám trụ mãi ở Hà Nội, thế rồi đùng cái anh thông báo về Hà Giang lập nghiệp. Lúc đầu, cứ nửa tháng một tháng anh lại xuống phố một lần. Sau lâu dần thành ba tháng, rồi sáu tháng, có đận cả năm chỉ xuống một lần. Tôi biết anh đang cai phố. Còn anh, anh bảo ở phố chật chội quá, trên quê thoáng hơn...
Nguyễn Văn Toan sinh năm 1986, học hết lớp mười hai anh đi làm bảo vệ công ty khai thác quặng chì và thép ở Tà Pan - Bắc Mê. Đã bao lần trong đêm anh phải đội mưa đuổi trộm lẻn vào bãi ăn trộm quặng. Cũng nhiều lần anh xém chết khi những kẻ trộm bị đuổi lúc đêm vác dao thái cỏ ngựa đi lùng vào ban ngày. Và trong những đêm yên tĩnh, qua màn hình trước điện thoại nhỏ anh đọc Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Márquez. Với bí quyết, đọc theo hành động nhân vật, không nhớ tên, vì nhớ tên là lẫn ngay. Từ đọc truyện anh làm thơ, bài thơ Đứa trẻ sinh ra bên bếp lửa đã ra đời như thế. Bài thơ sau anh gửi sơ tuyển vào Khoa Viết văn - Báo chí được A+, cùng chùm bốn bài thơ khác cũng viết về cuộc sống người dân bản anh.
| Tôi cứ nghĩ đấy là do con cá bản mệnh của anh thôi, nếu tìm thấy con cá biết đâu giờ anh đã con đàn cháu đống rồi chưa biết chừng. Phải chăng sự lo lắng của ú anh ngày po anh thả con cá bỗng xuống ao đã có cơ sở. Cũng nhiều lần tôi định hỏi lâu rồi anh có tát ao không nhưng không dám hỏi. Biết đâu đấy, ừ, con cá bản mệnh kia đã giữ rịt bản mệnh anh rồi... |
Những tưởng anh sẽ theo thơ, nhưng không, anh rẽ ngay sang văn xuôi chẳng vương vấn gì. Truyện gửi đăng tiu tíu bên báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội. Lớp trưởng, thủ khoa tốt nghiệp, tức là tác phẩm bảo vệ tốt nghiệp của anh được mười không có nhưng. Học giỏi thế, tính tốt, hào sảng, bóng hồng vây quanh anh ở khoa, ở lớp, bên trường cũng nhiều. Nhưng thi thoảng tôi lại thấy anh chụp ảnh khoe đi đám cưới người con gái tưởng là người yêu, tưởng cưới mười mươi rồi. Sau anh về quê làm bên báo tỉnh, lại thấy giang hồ đồn anh có thêm vài mối tình nữa. Có cả cô giáo mà anh đã chìa cho xem ảnh (dĩ nhiên), cùng cả ảnh bố mẹ cô trên bản xa. Nhưng qua đi ít lâu, cứ chăm chắm đợi tin báo chứ chẳng cần thiếp mời là ngược núi, bèn hỏi, thì anh bảo cô giáo giờ đã có chồng, đôi mặt con rồi.
Tôi cứ nghĩ đấy là do con cá bản mệnh của anh thôi, nếu tìm thấy con cá biết đâu giờ anh đã con đàn cháu đống rồi chưa biết chừng. Phải chăng sự lo lắng của ú anh ngày po anh thả con cá bỗng xuống ao đã có cơ sở. Cũng nhiều lần tôi định hỏi lâu rồi anh có tát ao không nhưng không dám hỏi. Biết đâu đấy, ừ, con cá bản mệnh kia đã giữ rịt bản mệnh anh rồi...
Thời gian cuốn đi thêm đôi ba khúc nữa, từ khi anh về phố bản, anh thông báo mình đã nghỉ làm báo về mở xưởng chè. Từ mở xưởng chè anh mở thêm quán ăn sáng buổi sáng và quán bia buổi chiều. Khi này gọi điện cho anh khó lắm, tức là buổi sáng bán ăn sáng anh say cùng bà con trong bản, tức là mỗi bàn đi qua chào hỏi đôi ba chén chứ không nhiều; tỉnh đến chiều thì anh lại say bia cùng cánh trẻ đến nửa đêm; có nhiều hôm say đến gần trưa chẳng kịp làm ăn sáng. Lời lãi chẳng thấy đâu, nhưng trước mắt là lãi tình cảm của mọi người, cùng bụng bia căng tròn. Vào ngày nghỉ cuối tuần anh nhắn tin than qua có đôi tháng mở quán mà đã tăng gần chục cân rồi. Xưởng chè giao cho thợ bỏ bẵng nên chất lượng cũng không duy trì ổn định được như trước. Tôi rủ anh xuống phố chơi, lần nào anh cũng khất, mùa hè thì bảo nóng, mùa đông bảo mùa làm hàng bán Tết không đi được, than rằng xuống phố sợ tắc đường. Tôi cũng chẳng dám hỏi anh sẽ viết vào lúc nào...
Sau bao nhiêu giục giã năm 2025 anh mới tập hợp bản thảo in tập truyện ngắn Tiếng bạc ngân trong sương, do Nhà xuất bản Dân trí phát hành. Tập truyện với mười truyện, gần hai trăm trang, cùng bút danh lạ lẫm: Châu Thoại. Anh mang sách lên núi chụp ảnh đẹp mê hồn up lên Facebook. Nhưng tất nhiên, sách anh rồi cũng ế thôi, như sách tôi và bạn bè của chúng ta nữa, “lứa nhà văn sách ế”. Nó ế vì thêm lí do nữa là do tên bút danh, lạ quá, đang Nguyễn Văn Toan bắt đầu có sự hiện diện, trấn giữ một vùng kí ức người đồng bào thì lại đổi tên bút danh. Dù trước đó anh cũng đã nhiều lần loay hoay vì việc đặt bút danh hay không. Nhà văn Uông Triều đã đề xuất nhiều cái tên ghép nối đủ cả nhưng không cái tên nào đi vào thực tiễn cả, hay cái chính là bản thân anh không muốn.
![]() |
| Tập truyện ngắn "Tiếng bạc ngân trong sương" của nhà văn Nguyễn Văn Toan - Ảnh: TGCC |
Tạm bỏ qua tên bút danh, tập trung vào nội dung, mười truyện trong tập là tổng kết lại một hành trình từ bản xuống phố rồi lại quay về bản của nhà văn Nguyễn Văn Toan. Bản ở đây là bản Lúp, anh lấy bản nơi mình sinh ra làm trung tâm của mọi truyện ngắn, của mọi mẫu nhân vật, của mọi hỉ nộ ái ố. Có thể nói tập truyện đã kết thúc một quá trình tìm tòi của sự viết, để quay lại những gì bản nhiên nhất, nơi mà kĩ thuật chỉ đóng phần thứ yếu, cái chính là hồn cốt của người Tày quê anh, nơi anh phô diễn được nhiều nhất phần kí ức của mình.
Anh cũng báo cho tôi mình đang viết tiểu thuyết, cần mẫn mỗi ngày một đoạn. Còn quán ăn sáng ăn chiều dẹp hết rồi, giờ chuyên tâm làm chè, đi các bản xa tìm nguồn hàng. Tôi nghe mừng cho bạn, nhưng vẫn không kìm được câu hỏi canh cánh trong lòng mà buột ra hỏi, rằng Tết này anh có tát ao bắt cá không để tôi đưa cả nhà lên núi uống rượu. Mà thực ra, việc uống rượu chỉ là phụ thôi, cái chính, biết đâu đấy tôi lại một lần hội ngộ con cá bản mệnh po anh đã thả mấy chục năm về trước. Con cá mà nhiều lần anh chắc chắn thấy lúc sáng sớm, to như bắp chân người lớn, mắt nhìn xoáy về phía anh, hai cái sừng u lên đỏ nhót.
Nếu thấy nó tôi sẽ làm gì nhỉ?