Diễn đàn lý luận

Người đi tìm mùa thứ năm

Trần Linh
Chuyện văn chuyện đời 07:23 | 20/09/2026
Baovannghe.vn - Ở tuổi bảy mươi, nhà văn Cao Duy Sơn vẫn giữ lối nói chuyện của người kể chuyện bên bếp lửa: nhẩn nha, hay vòng lại, và thỉnh thoảng buông một câu triết lý.
aa

Ông sinh năm 1956 tại Cô Sầu, Trùng Khánh, Cao Bằng; mười bảy tuổi vào bộ đội, hai mươi bốn tuổi về làm phóng viên Đài Phát thanh Cao Bằng, in truyện đầu tay năm 1984, rồi về Hà Nội học Khóa 4 Trường Viết văn Nguyễn Du. ít ai biết rằng, ngay sau khi học xong, tiểu thuyết Người lang thang của ông đoạt Giải Nhì Hội Hữu nghị Việt - Nhật (1993), nhưng ông phải về Cao Bằng buôn bán mưu sinh. Cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu từ chính quãng đời ấy.

Người đi tìm mùa thứ năm
Nhà văn Cao Duy Sơn

- Trước hết, tôi muốn hỏi về quãng anh phải đi bán xăng dầu. Tôi từng nghe kể nếu không viết văn anh đã thành “đại gia xăng dầu”. Điều gì khiến anh quyết định như vậy? Trong những năm mưu sinh ấy, tâm thế và đời sống văn chương của anh thế nào?

Học xong phổ thông, tôi vào chiến trường. Giải ngũ, tôi xin vào làm ở Sở Văn hóa tỉnh. Năm 1984, trong một lần dự trại sáng tác, tôi viết truyện ngắn đầu tay Dưới chân núi Nục Vèn, được in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội. Sau đó, tôi học Trường Viết văn Nguyễn Du, tốt nghiệp với tiểu thuyết Người lang thang. Cuốn sách đoạt giải, nhưng học xong trở về quê, tôi lại thất nghiệp, xin nhiều nơi không được nhận.

Tức chí, tôi bàn với vợ đi buôn. Vợ gom hết tiền trong nhà được mấy chục nghìn đồng, mua một can xăng. Tôi kiếm cọc dựng lều ngồi bán xăng lẻ. Từ một, hai chai, rồi vài can, chúng tôi dần thành đại lý xăng dầu. Gia đình sống được nhờ nghề ấy. Ngày vục mặt vào thùng xăng, đêm dậy dăm bảy lần bán cho xe khách, vậy mà chẳng ốm đau gì. Ban ngày chẳng nghĩ gì đến chữ nghĩa được đâu. Buôn bán nó cuốn mình đi, phải lăn lộn với người ta từng đồng. Nhưng lạ thế này: đêm đến là lại ngồi vào viết. Uất đấy, mệt đấy, mà đêm vẫn viết. Như thể ban ngày mình sống một đời khác, đêm mới về lại đời mình.

Có lẽ tôi đã thành “trùm xăng dầu” (cười) nếu không có lần Tạ Duy Anh, bạn đồng môn, lên Cao Bằng. Thấy tôi lấm láp, nặng mùi xăng, anh xót xa cho tôi lắm. Về Hà Nội, anh viết bài về tôi trên báo Tiền Phong. Lãnh đạo tỉnh đọc được, sau đó điều tôi về cơ quan cũ.

Bây giờ nhìn lại, không có những năm lăn lộn ấy thì không có cái vốn người, vốn chợ, vốn đời trong những trang viết sau này. Văn chương đã kéo mình về, mà nói cho đúng thì nó không buông mình ra.

- Thế giới trong “Chợ tình” vừa gần gũi, vừa phảng phất màu sắc huyền thoại. Khi viết, anh có dựa vào nguyên mẫu nào không và để trí tưởng tượng dẫn mình đi đến đâu?

Những gì tôi viết thì đều có. Có thể có từ kiếp trước rồi. Có từ muôn đời rồi. Tôi có cảm giác mình đang viết ở một không gian thứ năm. Người ta nói bốn mùa tứ quý, nhưng những cái tôi viết ra, nó là cái mùa riêng của tôi. Xuân hạ thu đông có cả, nhưng có một mùa riêng nữa. Nó không có ở thực tế cuộc đời này, mà lại có ở tất cả.

Bởi vì cái gì mình tưởng tượng ra mấy đi chăng nữa thì cũng đã có ở cuộc đời này, trước, sau, hoặc đang có rồi. Tưởng tượng thế nào cũng không bằng thực tế đã diễn ra. Cho nên mình nghe ở đâu đó, ở truyền thuyết, ở câu chuyện người ta nói nhỏ với nhau trong một góc trời, nó thành tư liệu của mình. Nhưng có cái này: đừng tìm cái hiện tượng. Hãy tìm lấy cái tình của con người sống trong đó.

Tôi là người đi tìm mùa thứ năm, và sống với mùa thứ năm của mình thôi.

- Khi đọc lại những truyện anh viết từ lúc còn trẻ, tôi chú ý đến các nhân vật già: ông Sinh, ông Thim, những ông bà lão trong “Hoa bay cuối trời”… Tôi cực kỳ tò mò tại sao một người trẻ lại viết được về người già một cách tự nhiên và vững chãi như thế. Những trải nghiệm, quan sát và ký ức nào đã giúp anh đến gần đời sống của họ như vậy?

Có một điều rất lạ là tôi có trí nhớ khá tốt, mà không hiểu tại sao. Tôi kể ra, ngay người trong gia đình cũng không tin là thật. Tôi nhớ được chuyện khi mới một tuổi. Tôi nhớ mình ngồi bên bậu cửa sổ, nhìn qua cái giếng trời tròn giữa ba nhà, cứ thấy đám người ngựa đi qua, người lẫn ngựa, đi trên trời, đi rồi trở về. Có thể là tưởng tượng, nhưng tôi cứ nhìn thấy thế. Rồi sấm chớp, và tôi ngã từ cửa sổ xuống. Người ta còn nhờ mấy bà hàng xóm lấy nước tiểu trẻ con chữa cho tôi. Mọi người bảo: Sao mà nhớ được? Nhưng tôi nhớ được đấy, nhớ rõ là khác.

Còn những nhân vật già, thực ra hồi ấy trong phố nhiều người cổ xưa còn sống. Đấy là quan sát. Và những câu chuyện các cô kể cho nghe, chuyện đại hồng thủy, lũ to lắm, người chui vào quả bầu; chuyện nửa hư nửa thực, nó ăn sâu trong lòng rồi, thành ký ức, thành vốn. Cho nên viết về người già, tôi không phải cố. Mình đi vào nhân vật bằng phần cảm xúc của họ, chứ không phải tả cái dáng già bên ngoài.

Khi cụ Kim Lân đọc Người săn gấu rồi, lần tôi xuống tòa soạn tạp chí Tác phẩm mới, hồi cụ Nguyễn Đình Thi còn ở đó, nhận sách, lĩnh nhuận bút, cụ Kim Lân hỏi: “Ông là người viết Người săn gấu?” Tôi thưa: “Vâng ạ, cháu ạ.” Cụ bảo: “Cháu? Tôi cứ tưởng ông phải bảy mươi, tám mươi.” Còn bây giờ, hình như tôi vẫn ít viết về người trẻ. (Cười) Mình ít trẻ.

- “Người chợ” dài sáu mươi trang. Anh đã tổ chức câu chuyện ấy theo cách nào? Với anh, ranh giới giữa truyện ngắn và tiểu thuyết nằm ở dung lượng hay còn ở cách dựng truyện?

Thực ra Người chợ là một kiểu tiểu thuyết. Hồi gửi cho anh Trung Trung Đỉnh, anh ấy bảo: “Tao chưa thấy cái tiểu thuyết nào ngắn thế.” Nhưng đúng là tôi viết nó theo cách của tiểu thuyết, một thứ tiểu thuyết mini. Ngôi nhà xưa bên suối tôi cũng dựng theo lối ấy.

Có thể viết một cuốn tiểu thuyết bằng một cái truyện ngắn, cũng phải thử sức mình chứ. Nhưng thể ấy đòi rất nhiều vốn. Vốn mà anh không thuộc thì không thể viết nổi. Tưởng tượng, hư cấu mấy đi nữa, những hiện tượng anh từng thấy ở đâu đó đưa vào sẽ làm sự phù trợ cho câu chuyện.

- Viết về đời sống đồng bào Tày bằng tiếng Việt, anh làm thế nào để giữ được cách nghĩ, cách cảm và tiếng nói riêng của họ? Có nên nhìn công việc ấy như một cách “cứu” văn hóa Tày - Nùng, hay anh muốn nói đến một vai trò khác của văn chương?

Người viết phải lấy cái tư duy của người dân tộc đó để tìm ra được ngôn ngữ tương đồng, có tính phổ thông, mà chuyển tải ra, thì sẽ mang được hết. Mang được hết cả phẩm chất, bản sắc, từ tâm hồn đến ngôn ngữ. Khi ấy ta không cần một bản dịch nào nữa. Đọc vào đó, người ta sẽ nhận ra: đây là đời sống của đồng bào đấy, chỉ có đồng bào đấy mới nói như thế.

Ngôn ngữ là một tài sản chung. Có điều phải sử dụng nó khéo léo, không phải đánh bóng làm khéo, mà là tìm cái ngôn ngữ tương đồng nhất có thể.

Nhưng cũng có những phần mình viết bằng tiếng Việt cách mấy cũng không so được với cái hay của tiếng Tày. Như thơ Y Phương ấy, ông ấy dùng thẳng từ Tày. “Tốc tác hạt mưa…” tốc tác là từ của tiếng Tày, tả cơn mưa mới bắt đầu lộp độp. Trong tiếng Việt không có từ ấy.

Người ta vẫn chưa định hình được ngôn ngữ đóng vai trò lớn đến mức nào trong đời sống đồng bào Tày.

Còn nói “cứu” văn hóa Tày - Nùng, tôi nghĩ nó chẳng việc gì phải cứu cả. Chẳng có tình trạng gì để mà cứu. Nhưng có cái này: mở rộng nó ra, đưa nó đến đông đảo bạn đọc, để cùng được chiêm ngưỡng, cùng tiếp nhận. Nó là sản phẩm mà ở cuộc đời này người ta không thể sống thiếu. Cái đó mới là cái cần phải làm.

- Trong “Súc Hỷ”, anh viết về một người còn biết chữ Nôm Tày. Anh nghĩ gì về gốc rễ văn hóa của vùng đất mình và những di sản đang được một số ít người lưu giữ?

Thực ra đó là một sản phẩm ở dạng cao cấp của một dân tộc, khi đã có thiết chế, đã có tiếp xúc và giao lưu văn hóa một cách có khoa học rồi. Vùng đất này có gốc rễ của nó, tự nó có đầy đủ tất cả. Cho nên con người ta chẳng việc gì phải sống lệ thuộc vào một cái gì đó.

Nhưng cái gì đã qua rồi, đã mất đi, tìm lại nó khó lắm. Thế hệ đọc được chữ Nôm Tày hầu như không còn mấy. Ở Cao Bằng, lớp trẻ còn có cô Triệu Kiều Dung nắm được. Còn lại là mấy ông già, ông Ma Văn Hàn trên Hòa An này. Rồi có một cụ rất giỏi, cụ là thầy cúng cao tay, nổi tiếng, để móng tay dài cong vút như cánh hoa hoàng lan. Cụ là người giữ được những bài then cổ. Then cổ lạ lắm: lời cổ, mà lại hát bằng tiếng Kinh, trong khi người hát không nói được tiếng Kinh.

- Trở lại với “Chợ tình”, khi sinh hoạt này ngày càng gắn với du lịch, điều gì của chợ tình xưa khiến anh muốn giữ lại? Và khi phương tiện liên lạc đã thay đổi, hoàn cảnh từng làm nên những cuộc gặp gỡ mỗi năm một lần ấy còn tồn tại thế nào?

Thì chính truyện Chợ tình cũng là muốn cứu giữ lại những điều đó đấy chứ. Bây giờ nó làm du lịch rồi. Nhưng bản chất gốc của chợ tình xuất phát từ một điều hết sức thiêng liêng mà giản dị: Tình yêu. Một năm có một ngày cho những tình yêu đích thực không lấy được nhau, để gặp nhau. Không phải để làm gì cả đâu, chỉ gặp nhau, nói chuyện với nhau. Không phải để tiếp tục yêu đương gì đâu. Chợ tình ngày xưa nó nhân văn hơn bây giờ nhiều. Mà nghĩ xem: Bây giờ còn mấy ai để cho vợ mình đến chợ đi tìm người yêu cũ? Còn mấy ai để cho chồng mình đi tìm người yêu cũ?

Ngày xưa bọn tôi đi hát lượn, đứng núi này với núi kia, giơ khăn tay vẫy nhau, hẹn hò nhau bằng cái khăn trên tay thôi. Bây giờ ai cũng có cái gì đó trên tay rồi, áp vào tai là nghe được ngay, nhắn tin đủ thứ, chẳng phải ngại ngần.

Hệ thống thông tin làm gì còn chuyện một năm mới gặp nhau một lần. Cho nên chợ tình bây giờ chỉ còn mang một chút mơ hồ trong đời. Vẫn có người hy vọng đến đấy gặp lại người tình cũ như ngày xưa thôi. Còn nó đã thành biểu tượng, biểu tượng của tình yêu.

- Khi chợ tình trở thành nơi đông người đến xem, mua bán, thưởng thức những tiết mục phục vụ khách, điều gì còn lại phía sau sự đông vui ấy? Nếu trăm năm nữa chợ tình chỉ còn trong sách, trong chính truyện của anh, anh nghĩ sao?

Cái vỏ thì đông vui hơn, mà cái hồn thì loãng đi. Nhưng tôi không bi quan hẳn đâu. Nó đã thành một biểu tượng, biểu tượng của tình yêu. Ngày xưa những đôi lứa không được lấy nhau vì lệ tục, vì cách trở tộc người, thì cộng đồng bù đắp cho họ một ngày để gặp gỡ. Cái tình ấy, cách ứng xử ấy mới là thứ đáng giữ. Người ta có thể du lịch hóa cái chợ, nhưng không du lịch hóa được cái tình.

Còn nếu trăm năm nữa nó chỉ còn trong sách thì nó vẫn còn, còn ở dạng khác thôi. Mình viết là để nó còn mà. Miễn người đọc còn hiểu được rằng đã từng có một nơi, mỗi năm một ngày, người ta để cho nhau đi gặp người mình không lấy được, và cả bản, cả vợ, cả chồng đều coi đó là điều tử tế. Hiểu được thế thì văn hóa ấy chưa chết.

- Anh có nhắc đến việc quê mình đang khôi phục các sinh hoạt văn hóa cũ. Anh thấy người dân đang trở lại với truyền thống ra sao, trong một đời sống đã có nhiều phương tiện và cách tiếp nhận mới?

Rất lạ nhé. Tôi về quê, thấy trong quê đang phục hồi lại tất cả những sinh hoạt văn hóa ngày xưa của đất ấy, từ trang phục, quần áo, mọi cái. Giao thoa văn hóa là thứ không thể tránh được đâu. Hát bây giờ phải dùng micro, điện tử, ngày xưa không gian nhỏ hẹp thì hát chay thôi. Nhưng chính sự tiếp nhận lại đang thích thú hơn.

Như trò mộc thầu hí, tuồng đầu gỗ, rối đầu gỗ ấy: ngày xưa người ta dựng cái sân khấu nhỏ, căng phông che người biểu diễn ở dưới, điều khiển con rối bên trên. Giờ người ta dựng lại. Cái gì lên đến tận cùng rồi cuối cùng người ta vẫn quay về tìm cái gốc văn hóa của mình.

- Trong “Chích bông ơi!” và nhiều truyện khác, tôi cảm nhận được sự bao dung của anh với nhân vật. Điều ấy bắt nguồn từ quan niệm sáng tác hay tính cách ngoài đời? Khi đưa một con người có thật vào trang viết, có điều gì từng khiến anh day dứt, ân hận?

Nó là tình cảm của người viết, là thời gian, và là cá tính. Tôi hay áy náy lắm. Không muốn ai vì một câu nói của mình mà nghĩ ngợi. Có khi đêm cứ day dứt mãi, tại sao mình nói thế, hoặc mình có hành vi gì đó khiến người khác hiểu lầm. Nó day dứt ghê lắm, thỉnh thoảng mất ngủ vài ba tiếng chỉ để… chỉnh sửa lại trong đầu.

Có lẽ đấy là bản chất. Còn đúng hay không thì mình cũng không biết, chỉ thấy mình như thế.

Trong nghề viết, điều tôi ân hận nhất là trong Âm vang vong hồn, tôi lấy tên thật của một bà ngoài đời vào nhân vật. Đã định thay tên rồi mà lại để nguyên. Về sau con gái bà ấy giận tôi lắm: “Sao anh lại lấy mẹ em ra?” Đến giờ vẫn thấy mình thiếu sót với người ta.

- Anh đánh giá thế nào về đội ngũ sáng tác trẻ dân tộc thiểu số hiện nay? Điều gì ở cách họ viết khiến anh tin tưởng, và họ có những thuận lợi nào so với thế hệ anh?

Cái này nói khó lắm, vì số đông đâu đã đánh giá được phẩm chất. Lực lượng sáng tác trẻ dân tộc thiểu số hiện nay đang hình thành một đội ngũ, không đông, nhưng đủ mạch, cả văn xuôi và thơ.

Không lâu nữa đâu, chỉ vài ba năm, lực lượng này sẽ trưởng thành hơn rất nhiều, bằng kinh nghiệm, bằng tiếp xúc, bằng đọc. Và họ làm được cái việc mà văn học Việt Nam cần: Mang màu sắc văn hóa của vùng đất nơi mình sống chuyển thành tác phẩm. Họ đã biết lấy tư duy của dân tộc mình để chuyển tải bằng ngôn ngữ hiện đại. Tôi rất tin lực lượng này. Các bạn giỏi, thực sự giỏi. Và có cơ hội hơn lứa chúng tôi nhiều. Lứa tôi có cái thuận lợi là sống ở thời kỳ chỉ sau sơ khai một chút, còn các bạn bây giờ sống ở thời đủ đầy: kết nối, thông tin, chẳng phải đi tìm sách ở đâu xa.

- Danh xưng “nhà văn dân tộc thiểu số” liệu có trở thành cái khung khi người ta nhìn nhận tác phẩm? Theo anh, ý nghĩa của sự gắn kết giữa những người viết ấy nằm ở đâu?

Nó chẳng có cái lợi gì trong này đâu. Bởi vì văn chương nghệ thuật không cần đến sự chiếu cố. Tài năng không cần bất cứ sự chiếu cố nào hết, để mà áp đặt cho nó một cái dòng “dân tộc thiểu số”.

Nhưng có điều này: Những người làm văn học là người dân tộc thiểu số, người ta gắn kết lại với nhau để có một đội ngũ, và làm cái điều làm được trong thời kỳ mình đang sống, lúc mình sung sức nhất. Đó là làm sao mang được đời sống văn hóa nơi mình sống, những câu chuyện diễn ra ở đó, thành tác phẩm mang màu sắc của vùng đất ấy.

Phải mới về câu chuyện, mới về ngôn ngữ, nhưng phải từ cái tư duy. Bước đi ấy không dễ, không phải ai cũng làm được. Nó tùy vào năng lực mỗi người khi tiếp nhận ngôn ngữ phổ thông, tìm ra được cái ngôn ngữ thích hợp nhất để chuyển tư duy của mình sang. Cái ấy mới khó.

- Anh từng khuyên người viết trẻ: “Hãy viết về những điều mình quen thuộc nhất.” Vì sao sự quen thuộc lại quan trọng, và điều gì xảy ra khi người viết chưa thực sự thuộc về đời sống mình đang kể?

Sự quen thuộc mang đến cho người ta sự tự tin. Và nó không giả được. Nếu anh không quen, anh sẽ phải tìm cách uốn éo, đánh bóng, bù đắp vào đó bằng lý trí. Còn sự quen thuộc là cảm xúc.

Anh không thuộc về nó thì anh không thể viết ra một cách tự nhiên, nó sẽ bị áp đặt cứng nhắc trong tác phẩm. Mà cái giả trong văn chương dễ nhận thấy lắm: giả trong cấu trúc, trong ngôn ngữ, trong cách đặt vấn đề, trong xây dựng nhân vật, nó hiện lên rất rõ. Văn xuôi dễ nhận. Thơ lại càng dễ nhận hơn.

- Nhân nói về cái thật, cái giả trong văn chương, anh có nhắc đến một cây bút trẻ bị cho là lệ thuộc vào trí tuệ nhân tạo khi sáng tác. Là người đã theo dõi cây bút ấy, anh nhìn nhận câu chuyện này thế nào? Anh muốn nói gì với người viết đang gặp bước vấp đó?

Tôi theo dõi bạn ấy từ lâu, đọc cả văn xuôi lẫn thơ, cả tản văn. Giai đoạn đầu thì vẫn rất ổn, đấy là một cây bút có chất thật, có tiềm năng riêng. Về sau tôi mới ngờ ngợ: Văn chương này hình như không phải của bạn ấy nữa. Cái thất bại của bạn ấy là lệ thuộc vào AI, học theo AI phí lắm.

Nhưng đừng vùi dập bạn ấy vội. Không thể chê tài năng của bạn ấy được đâu, chẳng qua cái xu thế ấy nó cuốn đi. Đây là một bước vấp, một sai lầm về nhận thức, chứ không phải một kế hoạch bài bản để lừa ai.

Phủ nhận hết những cái đã đạt được của người ta đi rồi bảo thế này thế nọ là chặn đường trở lại của người ta. Khi xảy ra chuyện, tôi có dặn mấy anh em: đừng làm gì để bạn ấy nghĩ quẩn, nghĩ tiêu cực. Phải động viên. Nếu có một lời khuyên, tôi muốn nói: phải cắt ra khỏi cái điện thoại đi. Rồi quay lại với cái mình quen, cái mình thuộc. Văn chương phải được đẩy ra từ cảm xúc thật.

- Xin trở về phố Cô Sầu, nơi có những con người anh vẫn mang theo trong ký ức. Phố ngày xưa như thế nào? Lúc này, anh đang viết gì về họ, và những người của “mùa thứ năm”?

Cô Sầu ấy hả? Ăn chơi lắm. Giàu lắm. Thời Tây, vùng ấy gọi là phủ, phủ có mấy châu cơ. Khách từ Hải Phòng, Hà Nội đánh đường lên, bên Quảng Châu cũng kéo đến. Thuốc phiện, cờ bạc, hát xướng, nhà thổ, chốn ăn chơi nhất nhì vùng Đông Bắc. Đấy, vùng đất ấy nó có đầy đủ tất cả các tầng đời sống của nó.

Lúc này, tôi đang viết về những người ở phố Cô Sầu đã chết rồi. Tết vừa rồi tôi về, đứng giữa đường phố vắng, mưa trải suốt từ đỉnh núi phủ xuống, phố không một bóng người, lại lạnh. Tự nhiên tôi nhìn lại được quang cảnh của cái Tết thời xưa. Và những người xưa chết tự bao giờ, nhìn thấy tôi về, họ đứng đấy nói chuyện. Họ mang câu chuyện của họ ra trách: “Mày nói toàn những chuyện ngày xưa, mà tao sống thế nào mày viết có ra cái gì đâu.”

Tức là những cái mình chưa viết đúng về họ, họ về nhắc. Tôi sẽ chỉnh lại, sẽ viết lại những chuyện này. Những người đã chết rồi, tôi sẽ viết về họ. Viết cả cái đội tuồng của phố ngày xưa nữa, những người “mùa thứ năm” của tôi.

TRẦN LINH thực hiện

Âm nhạc châu Á tại giải Grammy: Thêm cơ hội cho nghệ sĩ bản địa

Âm nhạc châu Á tại giải Grammy: Thêm cơ hội cho nghệ sĩ bản địa

Baovannghe.vn - Mới đây, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Hoa Kỳ - đơn vị tổ chức giải Grammy danh giá thường niên - cho biết từ năm 2027, hạng mục Trình diễn nhạc Pop châu Á xuất sắc nhất sẽ được bổ sung vào cơ cấu trao giải, qua đó phản ánh thị trường âm nhạc toàn cầu vô cùng sôi động, đồng thời trao thêm cơ hội cho các nghệ sĩ bản địa.
“Tảng đá thơ” lay động

“Tảng đá thơ” lay động

Baovannghe.vn - Tôi thường chiêm nghiệm thơ của nhà thơ Thạch Quỳ (1941-2022), nhất là lúc tiếp xúc đời sống thơ ca hiện tại, có khi như… “trẩy hội”. Giữa sông suối thơ ca ấy, thơ Thạch Quỳ vẫn hiện lên như một “tảng đá thơ” lay động.
Thanh Thảo: Người sáng tạo các phương thức chở sử thi thời đại

Thanh Thảo: Người sáng tạo các phương thức chở sử thi thời đại

Baovannghe.vn - Có ý kiến cho rằng xét trên bề mặt của đời sống văn học từ sau 1975 đến nay thì điều dễ nhận ra sự khác biệt cũng như thành quả của nền văn học giai đoạn này chính là sự xuất hiện rầm rộ của thể loại trường ca.
Mùa hoa khế rụng. Tản văn của Đào Văn Đạt

Mùa hoa khế rụng. Tản văn của Đào Văn Đạt

Baovannghe.vn - Mỗi khi nghe ai đó nhắc đến hai chữ “về quê” lòng tôi lại nôn nao nhớ về ngôi nhà của ngoại. Nơi đó có cây khế cứ vào độ cuối xuân đầu hạ, hay bất cứ thời khắc giao mùa nào khế đều ra hoa kết quả rất trĩu cành.
Vùng nhớ - Thơ Phùng Hải Yến

Vùng nhớ - Thơ Phùng Hải Yến

Baovannghe.vn- Có một vùng hoa ban nở rợp tuổi thơ tôi/ Mẹ xõa tóc gội đầu bọt tung trắng suối