Đằng sau điều cao quý ấy là một hành trình dài, một quá trình “vào nghề” đầy trăn trở, “hành nghề” với bao tâm huyết “thực nghiệp” những thăng trầm và “đạo nghề” là kết tinh của cả một đời cống hiến. Bài viết này phác họa chân dung một người vừa dạy học, vừa viết báo và nghiên cứu văn hóa, trải nghiệm qua một hành trình của sự nghiệp. Đó là nhà giáo Trần Anh Thơ, một người thầy đào tạo nhiều thế hệ sinh viên lần lượt đã trở thành thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư; một người thầy luôn luôn lấy sự khiêm nhường và “biết đủ” làm lẽ sống. Ông đã đứng lớp liên tục ba trường đại học lớn ở Việt Nam: Đại học Sư phạm Hà Nội (từ 1960), Đại học Quốc gia Hà Nội (từ 1991) và Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (từ 1998). Đấy cũng là những địa chỉ mà cả cuộc đời dạy học ông đã mang lại niềm tin vững chãi cho các thế hệ học trò về kiến thức và nhân cách, về sự nghiêm cẩn hành nghề với tấm lòng nhân hậu.
![]() |
| Nhà giáo Trần Anh Thơ |
Nhà giáo Trần Anh Thơ từng tâm sự: “Tôi vào nghề, hành nghề, thực nghiệp và đạo nghề thế nào thì tôi dẫn dắt học trò như đã. Đó không chỉ là dạy được bao nhiêu điều, mà sống sao cho học trò, nhiều năm sau, vẫn muốn noi theo.” Ông thi vào Đại học Sư phạm với phẩm chất của một chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo ông, “vào nghề” không đơn thuần là ngày đầu tiên đứng trên bục giảng, mà là khoảnh khắc một trái tim rung động trước tiếng gọi của sự nghiệp “trồng người”. Đó có thể là tình yêu đối với học trò, là sự kính trọng dành cho những người thầy cũ, hay đơn giản là niềm say mê đối với tri thức và khát vọng được truyền lại. Theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người phải có phẩm chất đạo đức, thương yêu học trò với một tình cảm sâu nặng. “Vào nghề” là khi người ta nhận ra rằng nghề giáo không chỉ là một công việc để mưu sinh, mà là một lẽ sống, một sứ mệnh. Đó là bước khởi đầu của sự gắn kết thiêng liêng giữa con người với sự nghiệp giáo dục.
Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông được giữ lại làm cán bộ giảng dạy tại Khoa tiếng Anh. Vào nghề còn rất trẻ nhưng Trần Anh Thơ mang một khát vọng lớn là “sẽ góp nhặt càn khôn mà dựng xây nếp nhà sư phạm Việt Nam danh giá như đại học Sư phạm Sorbon Paris, Pháp!”
Thầy giáo Trần Anh Thơ đã sẻ chia những dấu ấn ngọt ngào khi ông còn là sinh viên Đại học Sư phạm, được vinh hạnh thụ giáo những điều hay lẽ phải về học thuật, nhân sinh, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội từ các “đại sư”, “biểu sư” như GS Phạm Huy Thông (Hiệu trưởng), GS Nguyễn Lân, Nhà nghiên cứu Văn hóa Nguyễn Văn Huyên, GS Hoàng Tuệ, GS Nguyễn Lương Ngọc, v.v.
Ông chia sẻ, quá trình hành nghề của người thầy là đem những kiến thức, kỹ năng sư phạm và cả tấm lòng mình ra phục vụ học trò. Đây là lúc người thầy đối diện với những khuôn mặt non nớt, những tâm hồn đang chớm nở và phải biết khơi dậy tiềm năng trong mỗi học trò. Người thầy không chỉ là người truyền đạt kiến thức một chiều mà còn là người truyền cảm hứng. Họ cần có tác phong trẻ trung, gần gũi, dí dỏm để tạo sự kết nối với lớp trẻ. Họ phải là tấm gương học tập suốt đời, không ngừng trau dồi bản thân, thậm chí học hỏi từ chính học trò. Việc dạy học đòi hỏi bản lĩnh vững vàng trước áp lực thành tích, lòng kiên nhẫn trước những “học trò khó bảo” và sự sáng tạo không ngừng để mỗi giờ lên lớp đều là một trải nghiệm đáng nhớ.
Những điều ông trao đổi, chúng như có một sức hút và sự thẩm thấu, nghiền ngẫm cao độ, tri ân, tri giả và tri nhân trước cánh cửa của kỷ nguyên số hóa và trí tuệ nhân tạo. Lắng nghe những điều chia sẻ về những trải nghiệm của đời và của nghề, tôi thật sự khâm phục nhân cách của thầy giáo Trần Anh Thơ, một tâm hồn rộng mở với trái tim nhân hậu đã tận tụy với nghề đèn sách, thắp lên ngọn lửa của lòng hiếu học như truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam.
Khi được hỏi về giá trị của “đạo nghề”, ông nói một cách say mê: “Đó là nền tảng của mọi nền giáo dục. Dạy chữ là truyền đạt tri thức, kỹ năng. Dạy người là mục đích cuối cùng.” Một câu hỏi mà ông chia sẻ là: “Bài học mà thầy giảng sẽ giúp các em trở thành con người như thế nào?” Ông nhấn mạnh: “Dạy chữ là dạy người, không tách rời. Học làm người trước khi học làm thầy. Người thầy phải sống trọn vẹn với những giá trị mình giảng dạy.”
Trước khi có nhiều cuộc gặp trao đổi với ông về nghề dạy học và nghề viết báo, tôi đã được ông lật giở cho xem mấy trăm bài báo viết về giáo dục, ngôn ngữ và văn hóa mà ông là tác giả. Tôi cũng đã đọc hết trên bốn trăm trang tuyển tập khảo luận, nghị luận và chính luận của ông nói về các vấn đề căn cốt của xã hội Việt Nam hiện nay, đó là cuốn 35 năm hành trình Văn hóa - Ngôn ngữ - Giáo dục, (Nxb Thanh Niên, 2022). Cuốn khảo luận nhắc tôi nhớ lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phát triển ngày một rộng khắp.” Thật vậy, giáo dục là chìa khóa then chốt để xây dựng và phục hồi văn hóa ngôn ngữ. Vai trò của nhà trường là cần lồng ghép giáo dục văn hóa giao tiếp vào chương trình và hoạt động ngoại khóa. Gia đình cần làm gương, xã hội cần tạo môi trường ngôn ngữ lành mạnh.
Bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt là bảo vệ hồn cốt dân tộc. Thấm nhuần tinh thần này, nhà giáo, nhà báo Trần Anh Thơ đã thổi hồn mình vào các trang viết nghiên cứu, khảo luận, nghị luận và chính luận về các vấn đề “nóng” của xã hội. Ông muốn nói lên tiếng nói của một nhà giáo nghiêm cẩn trong hành nghề dạy học đối với thế hệ trẻ Việt Nam, rằng trách nhiệm của toàn xã hội là xây dựng một thế hệ vừa hiện đại, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Với trải nghiệm qua sáu thập kỷ đứng lớp giảng dạy và viết báo, truyền tri thức và tình yêu tiếng Việt, ông nhận thức rằng: ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời. Ngôn ngữ vừa là thành tố, vừa là phương tiện chuyển tải văn hóa. Nhà giáo, nhà báo Trần Anh Thơ đã dành vốn kiến văn và phông văn hóa của mình để “Kể lại cho thế hệ trẻ nghe về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, giáo dục Việt Nam” (một mục trong tuyển tập vừa nêu). Vì vậy, giáo dục văn hóa ngôn ngữ đối với ông, với tư cách là một người viết, một nhà nghiên cứu, là một nhiệm vụ cấp bách.
Ông không muốn liệt kê trên mười đầu sách tiếng Anh đã phát hành khoảng bốn mươi năm trở lại, như: Văn hóa du lịch song ngữ Anh - Việt (tái bản 5 lần), Phật học cơ bản ở Việt Nam, Việt Nam sử giản lược, v.v. Nhưng do trách nhiệm của người viết về ông, tôi không thể không nhắc tới những sự việc lâu nay ông ít nhắc đến. Âu đó cũng là tính cách của một nhà giáo và một nhà báo cần mẫn và lặng lẽ hành trình với văn hóa - ngôn ngữ - giáo dục Việt Nam. Ông là một cộng tác viên lâu năm của tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, còn tôi là người đã từng biên tập các bài viết của ông. Cộng tác viên khả ái của tôi là một người nho nhã, hào hoa, lịch thiệp, mẫn tiệp, kính trên nhường dưới, vị tha và từ ái đối với học trò, đồng nghiệp và bằng hữu. Văn ông khúc chiết, minh tường, tư duy phản biện sâu sắc, trung thực và tinh thần trách nhiệm xã hội cao được thể hiện trong các bài viết trên các báo.
Là người gắn bó lâu năm với giảng dạy ngoại ngữ, Trần Anh Thơ càng thấu hiểu giá trị của tiếng Việt. Ông xem việc học ngoại ngữ là cánh cửa mở ra thế giới, nhưng cũng luôn luôn nhắc nhở rằng chỉ khi yêu cầu và sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, chúng ta mới có thể tiếp nhận triệt để tinh hoa văn hóa của nhân loại mà không đánh mất bản sắc dân tộc của mình. Trong lĩnh vực giáo dục, điều ông theo đuổi không chỉ là đổi mới phương pháp dạy học mà còn xây dựng một môi trường giáo dục nhân văn, nơi người học được tôn trọng, người thầy được sáng tạo và tri thức được nuôi dưỡng bằng tinh thần tự do học thuật, Đó là khát vọng xuyên suốt trong nhiều công trình nghiên cứu của ông.
Ông đã từng chia sẻ: “Nghiên cứu văn hóa không chỉ để lưu giữ quá khứ, mà để bồi đắp vốn liếng văn hóa, bản lĩnh và khát vọng cống hiến cho thế hệ trẻ Việt Nam trong kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo.”
Qua cuộc hành trình dạy học, làm báo và nghiên cứu văn hóa của ông, tôi nhận ra chân dung một nhân cách văn hóa. Ông tha thiết yêu con người, nặng lòng trắc ẩn, vị tha và bao dung, tri ân, nói đúng hơn là “đền ơn đáp nghĩa” đối với cộng đồng xã hội. Sống hòa mình và khiêm nhường. Nho nhã và đủ đầy với những ai mà ông cùng làm việc, cùng chung sống. Các trang viết của ông trong suốt năm, sáu thập kỷ nay là tình yêu sâu sắc đối với văn hóa dân tộc. Ông coi việc gìn giữ và lan tỏa các giá trị cốt lõi, bền vững của Việt Nam là sứ mệnh của mình.
Bên cạnh nền tảng tri thức về văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ và giáo dục, ở ông còn có một tư duy liên ngành, thông thạo việc kết nối truyền thống với hiện đại, kết hợp di sản văn hóa với những thành tựu của khoa học và công nghệ. Trong thời đại AI, tri thức không chỉ được lưu giữ trong sách mà còn được số hóa. Ông biết khai thác tầng bậc công nghệ để phục vụ nghề nghiệp giảng dạy và nghiên cứu. Giá trị lớn nhất của các công trình nghiên cứu không chỉ nằm ở việc phát triển tri thức mới mà còn ở khả năng gia tăng vốn liếng tri thức và thực nghiệm văn hóa cho thế hệ trẻ. Các bài viết về văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ và giáo dục của ông đã góp phần nuôi dưỡng lòng yêu nước, bồi đắp bản sắc dân tộc, nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt, khơi dậy tinh thần học tập suốt đời và hình thành bản lĩnh hội nhập trong thời đại số.
Tôi vốn là học trò của thầy Trần Anh Thơ từ năm 1973. Từ ấy đến nay, đằng đẵng trên năm mươi năm, người học trò nhỏ luôn luôn được may mắn gần gũi một nhà giáo - nhà báo mẫu mực, nặng lòng suy tư đổi mới, một đấng bậc khả ái nghiên cứu văn hóa cần mẫn, nhiều sáng tạo, một người Anh lớn giàu ân nghĩa.
Thiết nghĩ, không thể không nói đến rằng, ông sinh ra ở Sài Gòn nhưng từ nhỏ đã lớn lên và trưởng thành tại thành phố Cảng, Hải Phòng, nơi ngọn nguồn nuôi dưỡng và hội tụ nhiều tên tuổi lẫy lừng về văn hóa, văn học - nghệ thuật và báo chí. Buổi đầu, nhà giáo, nhà báo tương lai Trần Anh Thơ có nhiều dịp kết thân với các nhà văn, nhà thơ hơn tuổi hoặc ngang tuổi đã thành danh hoặc mới bước vào nghề. Thêm nữa, sự việc người cha đặt tên con (ban đầu) là Trần Văn Thơ cũng là ngụ ý thú vị biết bao! (Văn là văn học - nghệ thuật, văn chương, thơ ca là cái đẹp).
Chân dung nhà giáo, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa mẫn cán Trần Anh Thơ không chỉ được khắc họa bằng danh hiệu hay thành tích, mà chủ yếu bằng thành công đáng được nể trọng về nền nếp suy nghĩ và lao động bền bỉ, lòng yêu nghề và niềm tin vào giá trị của tri thức. Trong dòng chảy không ngừng của thời đại, những con người như ông giống như người gieo hạt “vàng”. Họ lặng lẽ gieo trồng ở hiện tại để nhiều năm sau, xã hội được đón nhận những mùa quả ngọt.