Đầu năm 2025, ông đoạt giải C “Giải thưởng Văn học Nghệ thuật đề tài Hải quân nhân dân Việt Nam” do Bộ Tư lệnh Hải quân tổ chức với tập Thức với khơi xa (NXB Văn học, 2024) thì cuối năm lại có bản thảo tập thơ đoạt giải C trong cuộc “Vận động sáng tác ca khúc, tác phẩm văn học nghệ thuật về ngành Hậu cần - Kĩ thuật Quân đội” do Tổng cục Hậu cần - Kĩ thuật tổ chức. Sau một thời gian bổ sung, chỉnh lí, trong năm 2026 này, bản thảo ấy đã chính thức đến với bạn đọc trong quân đội nói riêng, cả nước nói chung qua sự ấn hành của Nhà xuất bản Văn học với nhan đề Những nẻo đường màu lá. Có thể coi đây là một bản hùng ca bằng thơ về những người giữ “lửa” và “thép” trong Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng - những người chiến sĩ trên “mặt trận Hậu cần - Kĩ thuật”.
|
Ngay từ tiêu đề, Hoài Khánh đã khéo léo chọn “màu lá” làm hình tượng xuyên suốt cả tập thơ. “Màu lá” trong tập thơ không đơn thuần chỉ là màu xanh của bộ quân phục, mà còn là biểu tượng của tuổi thanh xuân, của sự bình yên và sức sống mãnh liệt. Hình ảnh này xuất hiện ở mọi nẻo đường của đất nước, từ đại ngàn Việt Bắc, rừng sâu Trường Sơn, cho đến những nhà giàn, hòn đảo xa xôi ngoài khơi. Đó là màu áo xanh của người tân binh ngày nhập ngũ, là màu xanh của những vạt rừng che chở xưởng may kháng chiến, và cũng là màu xanh của niềm hi vọng mà các chiến sĩ quân y thắp lên trong hang tối.
34 bài thơ trong tập viết về hình ảnh người lính Hậu cần - Kĩ thuật trải dài qua chặng đường lịch sử của đất nước. Bạn đọc sẽ bắt gặp trong tập thơ hình ảnh người lính hậu cần - Kĩ thuật hăng say miệt mài làm việc suốt ngày đêm để kịp thời cung cấp vũ khí, đạn dược cho bộ đội đánh giặc trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ: “Đạn không ngủ, pháo không buông/ Xưởng ôm từng mảnh kim cương chiến trường/ Hàn bằng giấc mộng quê hương/ Để mai tiếng súng còn vương mặt trời” (Kể em nghe về người thợ quân khí). Tập thơ cũng khắc họa những bàn tay, khối óc đang làm chủ những công nghệ tiên tiến giúp quân đội ta tiến thẳng lên hiện đại hôm nay: “Vừa lắp chíp điều hướng cho một thiết bị bay” (Bàn tay người kĩ sư quân khí); sẽ thấy bóng dáng của những người anh hùng cả nước biết tên của ngành Hậu cần - Kĩ thuật như thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (Phố Trần Đại Nghĩa), đại úy Hoàng Cầm, người chế tạo ra bếp Hoàng Cầm trứ danh (Viếng mộ Hoàng Cầm)… cho đến những người lính thợ, những bác sĩ quân y bình dị, vô danh ở nơi rừng sâu, biển đảo (Hang Quân y trên đảo Cát Bà)… Tất cả những con người đó cùng chung tay kiến tạo, xây dựng ngành Hậu cần - Kĩ thuật quân đội “đi trước, về sau”, là bệ phóng, điểm tựa vững chắc cho mọi chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Bằng những câu chữ giản dị, mộc mạc Hoài Khánh dẫn dắt người đọc tới những kỉ vật gần gũi, những con người cùng những câu chuyện cũng rất đời thường, hằng ngày ta vẫn gặp. Chẳng hạn, chuyện về chiếc xe đạp thồ tải lương thực, vũ khí đạn dược đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm xưa nay đã trở thành chứng nhân lịch sử, nhắc nhớ các thế hệ sau này về những năm tháng gian khổ mà hào hùng, về ý chí kiên cường bất khuất cả nước vì Điện Biên của cha ông ta ngày trước: “Lốp đã mòn và khung sắt tróc sơn/ Nhắc thuở cha ông kiên cường tiếp vận” (Xe đạp thồ Điện Biên).
Nhà thơ trào dâng cảm xúc khi đến với những người thợ may bình dị ở những xưởng may kháng chiến: “Đôi tay thoăn thoắt miết hoài/ May từng nét nhớ lên vai áo người” (Những xưởng may kháng chiến). Bài thơ ghi lại không khí lao động khẩn trương trong các xưởng may giữa rừng già để kịp trang bị quân phục cho chiến dịch Điện Biên. Bằng thể thơ lục bát nhịp nhàng như tiếng máy may, bài thơ tạo nên sự giao thoa đẹp đẽ giữa “tình người” và “nghĩa núi”. Hình ảnh: “thùa khuy giấu cả nắng trời vào trong” là một sáng tạo nghệ thuật rất độc đáo. Một nét tạo hình đẹp nữa cũng được tác giả kì công gọt giũa là hình ảnh: “Những vạt áo ôm dáng chiến sĩ canh giữ từng tấc sóng” (Xưởng may 75 Hải quân). Những tấm áo tình nghĩa và trách nhiệm của những người thợ may của Công ty 26 hay Xưởng 75 Hải quân, mỗi người lính khi mặc vào đều thấy mình trở thành “cột mốc lưng trời”, thấy được “dáng hình Tổ quốc”.
Một trong những nét đặc sắc nhất ở tập thơ này là cái nhìn đầy nhân văn của Hoài Khánh dành cho ngành Kĩ thuật Quân đội. Ở tập thơ này có sự hòa quyện giữa chất thép và chất thơ. Thành công lớn nhất của ông là đã thổi hồn vào những sự vật vốn khô khan, cứng nhắc như súng đạn, ốc vít, xăng dầu, bảng mạch điện tử hay những cỗ xe tăng. Sự kết hợp giữa vẻ đẹp cứng cỏi của kim loại, máy móc với sự dịu dàng, lãng mạn của tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa đã tạo nên một vẻ đẹp rất con người, dung dị nhưng vô cùng cao cả. Tác giả cũng đã phát huy được thế mạnh của mình là sử dụng nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ, đạt hiệu quả cao. Dưới ngòi bút của ông, những cỗ máy vô tri bỗng trở nên có hồn, những khối thép lạnh băng cũng có nhịp đập của trái tim. Khẩu pháo già cũng là một cựu chiến binh kể lại những ngày tháng oanh liệt trên trận địa: “Ngày khỏe lại tiếng tôi vang như sấm/ Lòng cũng vui giữa trận địa reo hò” (Khẩu pháo già kể chuyện). Việc để khẩu pháo tự kể chuyện giúp bài thơ có chiều sâu tự sự. Câu kết: “Bài ca không cần cờ phất/ Bài ca đẫm ánh trăng ngà” mang vẻ đẹp sử thi hào hùng nhưng cũng rất lãng mạn.
Bài thơ Người sửa súng ở Trường Sơn viết về những người thợ quân khí thầm lặng trong hang núi, “hồi sinh” những khẩu súng để bảo vệ đồng đội. Đây là một góc nhìn riêng, rất mới của tác giả về vũ khí: Khẩu súng không vô cảm mà “biết lắng nghe hơi thở dài của lính”. Bài thơ đã khắc họa tinh tế thế giới nội tâm của người thợ kĩ thuật. Tác giả đã nhân hóa những khẩu súng vô tri, biến những tiếng lách cách của kim loại thành lời tâm tình tri âm, qua đó thể hiện sự thấu cảm sâu sắc giữa con người và vũ khí nơi chiến trường khốc liệt.
Mảng đề tài kĩ thuật quân sự thường khô khan, khó viết, nhưng thật mừng là Hoài Khánh có không ít bài thơ ca ngợi bàn tay tài hoa và trái tim đầy trách nhiệm của những người lính thợ. Bài thơ Khoang máy và trái tim có góc nhìn rất hiện đại, lãng mạn và vô cùng độc đáo. Sự kết nối giữa nhịp đập của máy móc, vòng quay bánh xích với hơi thở và tình yêu đôi lứa mang lại chất thơ mềm mại cho công việc vốn khô khan của người thợ kĩ thuật. Khoang máy xe tăng được ông ví như “trái tim của con thú thép” và những dây dẫn là “mạch máu lan nhanh”, nơi đây người kĩ thuật viên phải biết lắng nghe để thấu hiểu từng nhịp đập của “đồng đội” thì mới “siết một con vít như trao một nụ hôn”. Phải yêu nghề đến cháy bỏng, gắn bó với những cỗ xe tăng đến nhường nào mới có thể có một liên tưởng lãng mạn và thi vị đến như thế: “Chất thép” không chỉ nằm ở nòng pháo, khẩu súng mà còn nằm trong những dòng mã lệnh, trong sơ đồ mạch in và trong đôi mắt không ngủ của người lính kĩ thuật thời đại số. Chất thép ấy không rỉ vì “Được tôi bằng trí tuệ Việt Nam”.
Hoài Khánh sử dụng ngôn từ mộc mạc, gần gũi nhưng lại vô cùng giàu sức gợi hình, gợi cảm. Giọng thơ có sự biến hóa linh hoạt: lúc thì hào hùng, bi tráng khi nhắc về quá khứ khói lửa; lúc lại trầm lắng, tha thiết, rưng rưng khi nói về tình đồng đội, sự hi sinh; và đôi khi lại mang nét duyên dáng, lãng mạn của những người lính trẻ trong thời bình.
Có thể nói, tập thơ Những nẻo đường màu lá của nhà thơ Hoài Khánh là một nén tâm nhang tri ân, một bản tình ca đẹp đẽ dành tặng riêng cho những con người đã dâng hiến thanh xuân để giữ nhịp đập bình yên cho Tổ quốc.