Sáng tác

Người cha già. Truyện ngắn của Vũ Thanh Hưng

Vũ Thanh Hưng
Truyện 13:59 | 04/09/2026
Baovannghe.vn- Chiều muộn một ngày cuối tháng ba. Trời trở lạnh như để níu thêm chút rét cho nàng Bân may áo.
aa
Người cha già. Truyện ngắn của Vũ Thanh Hưng
Minh họa: Kim Duẩn

Tôi hối hả đạp xe vượt chặng đường dài gần hai mươi cây số từ trường về nhà. Chiếc xe đạp là món quà mẹ tôi mua cho lúc tôi tốt nghiệp trường sư phạm, chuẩn bị đi làm. Đó là một chiếc xe đạp nữ lắp hàng nội địa, sơn màu xanh dương. Để có chiếc xe đạp ấy, mẹ đã phải bán mấy tạ thóc chiêm. Với tôi, nó không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là một tài sản quý giá.

Hết hai năm tập sự, tôi lấy chồng. Chồng tôi là Hiếu, bộ đội đóng quân ở Hải Phòng. Cưới nhau được một tuần, anh trở lại đơn vị. Tôi ở nhà với cha chồng.

Năm tôi về làm dâu, cha đã gần tám mươi tuổi, người làng vẫn trìu mến gọi cha là cụ Thảo. Cha từng là cán bộ lão thành cách mạng, sau đó làm ở ngành bưu điện rồi nghỉ hưu. Cha hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ, thông thạo chữ Nho. Tuy đã già yếu, mắt mờ, chân chậm, nhưng cha rất chịu khó. Hàng ngày, cha ngồi trên chiếc ghế đã cũ, kê ở giữa nhà, dịch chữ Nho sang chữ quốc ngữ, lúc dịch giúp người này tấm bia, lúc dịch giúp người kia câu đối. Người ta trả tiền công nhưng cha từ chối, không lấy tiền của ai bao giờ. Cha sống đạm bạc với đồng lương hưu và trợ cấp cán bộ lão thành. Khi đã dịch xong những bản chữ Nho, cha lại ra vườn làm cỏ, nhặt lá rụng, xới đất, trồng cây. Lưng cha đã còng khum khum mà có bận một mình cha tự đào, tự di chuyển cả một cây cau to tướng từ góc vườn này ra góc vườn khác. Tôi thắc mắc: “Sao bố làm giỏi thế?” Cha bảo: “Việc nặng, việc khó không cậy sức mà phải dùng mưu thì mới làm được.” Cha chỉ ra khỏi nhà khi đi họp, hoặc khi có việc cần thiết. Còn khách đến nhà chơi với cha thường là những người bạn già thời kháng chiến, người làng và người ngoại tỉnh tìm đến nhờ cha dịch chữ Nho.

Thỉnh thoảng tôi lại thấy ông Thẩm, người bạn già hàng xóm nhỡ tiền tiêu pha, sang vay mượn tạm, cha lại vào mở chiếc tủ cũ, lấy tiền cho ông Thẩm mượn. Vào những ngày quan trọng của làng, cha thường làm thơ gửi cho ông hội trưởng hội người cao tuổi. Những bài thơ của cha được người ta đọc trên loa phát thanh, cả làng đều nghe rõ, ai cũng khen thơ của cha hay, dễ hiểu, dễ nhớ và ý nghĩa. Là người có công với kháng chiến, lại sống chan hòa, mẫu mực nên cha được người trong làng, ngoài xã rất nể trọng.

Chiều chiều, sau khi lọ mọ nhặt lá, tưới cây ở ngoài vườn, cha vào bếp nấu cơm. Cơm thì cắm nồi cơm điện, chỉ luộc rau là đun bằng lá, bằng củi. Cha bảo đun lá, đun củi vừa ấm, vừa tiết kiệm; lá, củi nhiều, không dùng, bỏ nó phí đi. Dù làm vườn, dịch chữ Nho hay luộc rau, nấu cơm, cha cũng đều làm bằng tất cả tâm huyết của mình. Với cha, được làm việc, còn làm được việc chính là niềm vui, là ý nghĩa để sống. Cha bảo vậy.

Hôm đó, trời đã nhá nhem tối mà chưa thấy tôi đi làm về, cha đi vào nhà, lấy chiếc gậy ba toong, chống ra nhà anh Quang (anh Quang gọi cha chồng tôi là chú ruột) bảo anh đi tìm xem tôi có sao không. Chắc là cha lo tôi đi đường gặp bất trắc gì.

*

Tôi gò lưng đạp xe vượt con dốc dài lên mặt cầu. Chao ôi là mệt! Đi hết mặt cầu là con dốc xuống cũng khá dài. Tôi sung sướng để yên hai bàn chân trên hai chiếc pê-đan mà trôi xuống dốc. Lúc đó tôi ước giá như cái xe đạp này có phép màu, biến thành cái xe máy để đỡ tốn sức thì sung sướng biết bao! Ý nghĩ ấy chỉ vụt thoáng qua trong đầu tôi rồi biến mất nhanh chóng như lúc nó vừa xuất hiện. Khi xe trôi đã hết đà, tôi tập trung dồn sức, hối hả guồng pê-đan như một vận động viên chuyên nghiệp. Tôi quặt xe, rẽ vào làng. Con đường này cách đây mấy tháng vốn xa lạ với tôi, vậy mà giờ đây, nó đã bắt đầu trở nên quen thuộc. Tôi bất giác nghĩ đến thân phận người con gái trong ca dao truyền thống, nghĩ đến câu “Thuyền theo lái, gái theo chồng” và một đoạn ca từ trong bài hát Tàu anh qua núi. Tôi khe khẽ hát trong tâm tưởng, giống như một kẻ mộng du: “Là thương nhau, mấy suối em cũng lội. Là thương nhau, mấy núi em cũng trèo.”

- Có phải thím Hồng đấy không?

Tôi bừng tỉnh khi nghe có người hỏi. Tôi nhận ra anh Quang đang đi xe máy ngược chiều hỏi mình, tôi đáp:

- Vâng. Anh Quang đi đâu đấy ạ?

- Chưa thấy thím về, ông bảo anh đi tìm xem sao.

- Em không sao anh ạ.

- Ờ, thế thím về đi!

- Vâng. Em cảm ơn anh ạ.

Tôi bỗng thấy lòng mình thật ấm áp. Bởi khi về làm dâu ở nơi đất khách quê người xa xôi, tôi thấy mình không cô đơn mà được quan tâm và yêu thương, nhất là cha chồng tôi, người đã quan tâm và lo lắng cho tôi như con đẻ. Chiếc pê-đan dưới chân tôi bỗng trở nên nhẹ bẫng lạ thường hay tại bởi lòng tôi đang cảm động mà thành ra nó nhẹ nhàng như thế?

*

Hiếu đóng quân cách nhà hơn bốn mươi cây số. Mỗi tháng, anh tranh thủ về nhà một, hai ngày cuối tuần rồi lại về đơn vị. Cưới nhau được ba tháng, tôi có thai con so. Rồi không may tôi bị sảy thai. Nghe tin này, Hiếu xin nghỉ phép một tuần về chăm vợ. Anh nắm tay tôi thật chặt, không nói câu nào, chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt dịu dàng, sẻ chia như biết nói. Nhìn ánh mắt ấy và cảm nhận cái nắm tay ấm áp của chồng, tôi như được an ủi. Nghị lực và tình yêu cuộc sống lại trỗi dậy trong lòng tôi.

Rồi hai tháng sau, tôi lại có thai. Ba tháng đầu, tôi yếu ớt xanh xao như tàu lá. Đến tháng thứ tư trở đi, hết ốm nghén, tôi khỏe mạnh trở lại và lên cân rất nhanh. Sau chín tháng, tôi sinh con gái đầu lòng. Vợ chồng tôi nhờ cha đặt tên cho cháu nội. Cha đặt tên cháu là An. Năm năm sau, tôi sinh tiếp một bé trai, cha đặt tên cháu là Đức. Cha bảo cái tên của con người rất quan trọng, nó vừa gửi gắm tình yêu thương, mong ước của ông bà, cha mẹ dành cho đứa trẻ, vừa phần nào đem lại may mắn cho đứa trẻ trong cuộc đời. Vợ chồng tôi ưng cái tên mà cha đặt cho hai con lắm.

Hiếu đóng quân ở xa nên lần nào tôi sinh nở, anh cũng chỉ về chăm sóc vợ con được mấy ngày. Có lúc tủi thân, tôi rúc đầu vào ngực chồng, nói dỗi: “Lấy chồng bộ đội toàn phải ở nhà một mình, chăm con một mình. Thật chán!” Anh cười hiền, vỗ về động viên tôi: “Nhiều người như thế, đâu phải riêng mình. Anh biết em vất vả nhưng mình cùng nhau cố gắng nhé!” Tuy nói dỗi thế nhưng vì yêu chồng, yêu cái gia đình nhỏ bé thân thương này, tôi đã lặng lẽ vượt qua tất cả. Để vừa hoàn thành nhiệm vụ ở nơi công tác, vừa chăm sóc nuôi dạy hai con, chúng tôi phải biết ơn cha rất nhiều.

Cha có thói quen ngủ sớm, dậy cũng rất sớm. Tối, cha đi ngủ từ trước chín giờ. Chiếc đài nhỏ bằng hòn gạch luôn ở cạnh cha mỗi tối. Cha bảo nghe đài dễ ngủ hơn. Sáng sáng cha thường dậy từ bốn giờ. Cha xuống bếp nấu cháo, đun nước sôi đổ đầy phích. Bữa sáng, cha thường ăn một bát cháo trắng đầy, có hôm cha ăn kèm với đường trắng, có hôm ăn kèm nước mắm, có hôm ăn kèm với chuối chín hoặc mấy quả táo tàu. Bữa trưa và bữa tối, cha thường ăn hai bát cơm đầy với rau muống hoặc rau ngót luộc, kèm vài miếng thịt nạc. Cha tuyệt nhiên không bao giờ ăn thịt mỡ, tôm cá, sơn hào hải vị. Có lần tôi hỏi sao cha ăn kiêng khem thế thì cha bảo trước đây thời còn hoạt động bí mật gian khổ, cha bị bệnh đường ruột, bệnh lâu thành mạn tính nên không ăn được những thứ đó, ăn vào là đau bụng. Cha có tinh thần kỷ luật cao lắm, đã kiêng thì ai mời gãy bát gãy đũa cũng không ăn; dù ốm cha cũng không bao giờ bỏ bữa; và ngày nào cha cũng làm việc, lúc dịch chữ Nho, khi đọc sách báo, khi ra vườn trồng cây, nhặt lá, dọn cỏ. Cha bảo lao động là niềm vui, sống mà không lao động thì buồn chán lắm.

Khi tôi sinh nở, ở cữ tháng đầu, sáng nào cha cũng dậy sớm đun nước, nấu cháo cho mình và nấu luôn cả cơm, hấp hai quả trứng luộc vào nồi cơm rồi mang vào tận nơi cho tôi. Thấy cha làm như thế, tôi cảm động lắm và có ý ngại. Hiểu ý tôi, cha bảo đừng ngại, đó là việc dễ, bố có thể làm. Rồi cha kể những câu chuyện hồi trẻ đi kháng chiến, những câu chuyện về tình người thời chiến tranh gian khổ người ta đã sống tình nghĩa, giúp đỡ nhau như thế nào để vượt qua lúc ốm đau bệnh tật để mà sống, mà chiến đấu. Tôi vừa nghe, vừa mường tượng và cảm thấy cuộc đời cha thật phi thường. Thấy bao điều giản dị, ấm áp đời thường trong con người phi thường một thời trận mạc sương gió của cha. Những cảm nhận ấy, tôi không nói được bằng lời, chỉ thấy trong lòng trào dâng một niềm trân trọng và biết ơn vô bờ đối với cha.

Rồi hai đứa cháu nội cũng lớn dần. Con An sắp vào lớp một, thằng cu Đức cũng sắp tròn một tuổi. Chúng nó đẻ cùng tháng, chỉ cách nhau có một ngày và khác năm. Cha thường ăn cơm xong trước rồi trông hai đứa nhỏ để cho tôi ăn cơm và dọn dẹp. Cha cho chúng nằm võng, vừa đu đưa nhè nhẹ, vừa hát ru cho chúng nghe. Cha hát ru cháu bằng rất nhiều bài hát ru ngộ nghĩnh: thằng Bờm với cái quạt mo, con mèo trèo cây cau, chú chuột đi chợ đường xa vắng nhà, cái bống cái bang, con cò, con vạc... Tôi vừa ăn cơm, vừa dọn dẹp, vừa lắng nghe cha hát ru. Tôi cảm nhận hình như cha ru cháu bằng cả tâm hồn, tình cảm hồn nhiên, trong trẻo của cha. Tôi thấy các con mình thật may mắn, và bản thân tôi cũng thật may mắn khi có cha đỡ đần. Tôi thấy thương quý cha hơn, trân trọng cha hơn. Lúc nghe cha ru cháu, tôi thấy tâm hồn mình giống như một đứa trẻ, cũng hồn nhiên, trong trẻo và thuần hậu theo lời ru của cha.

Tôi bồi hồi nhớ lại lúc tôi và Hiếu tìm hiểu, hẹn hò. Hiếu kể cha anh là cán bộ tiền khởi nghĩa, hoạt động bí mật từ trước cách mạng. Cụ nội anh là địa chủ kháng chiến, sau cải cách ruộng đất, của cải ruộng vườn đều bị tịch thu hết, chia cho mọi người. Cha anh được học hành chu đáo nhưng cụ đã tham gia cách mạng từ đầu năm 1944, sau đó tham gia kháng chiến chống Pháp. Mải đi kháng chiến xa nhà, cha anh lấy vợ muộn, ngoài bốn mươi tuổi, hai cụ mới sinh ra anh. Mẹ anh mất từ năm anh học lớp mười. Cha ở vậy nuôi anh, vui với mảnh vườn, vui với chữ Nho và ghi nhật ký. Hôm theo Hiếu về thăm nhà anh, tôi thấy đúng là ông cụ hiền và nho nhã thật. Nhưng nghĩ đến việc về làm dâu, sống cùng với ông cụ cách xa mình những hai thế hệ, Hiếu lại vắng nhà, lòng tôi không khỏi băn khoăn, dao động. Mấy đứa bạn thân của tôi cũng khuyên tôi nên cân nhắc kỹ. Nhưng vì yêu Hiếu, đám cưới của tôi vẫn diễn ra. Trước ngày cưới, Hiếu đưa tôi về nhà anh. Cha anh đưa cho tôi chín đồng tiền, dặn tôi mua chín cây kim khâu và chín sợi chỉ màu, hôm lên xe hoa, đi đến ngã ba đầu tiên thì thả tiền và kim chỉ đó xuống đường. Tôi không hiểu để làm gì, cũng không dám hỏi, chỉ nhớ đinh ninh và làm theo lời cha dặn.

Từ ngày tôi về làm dâu, cha cư xử với tôi vừa thương như con gái, vừa nho nhã như một người khách quý. Cha không bao giờ để ý đến những việc vặt vãnh, không khắt khe, chưa một lần nặng lời với con dâu. Là người có cá tính và tâm hồn nhạy cảm, nhưng trước cách cư xử của cha, tôi dần cảm thấy hòa hợp, an lành, dễ chịu, ấm áp. Cũng tự nhiên, tôi nhận rõ trách nhiệm, bổn phận của mình với người cha đáng kính. Hai cha con, tuổi cách xa nhau hẳn hai thế hệ, không máu mủ ruột rà nhưng lại nói chuyện và cư xử với nhau thật hài hòa, tự nhiên. Tôi thì hồn nhiên, trong trẻo, lễ phép, hay nói hay cười, thỉnh thoảng pha chút hài hước. Còn cha thì nho nhã, hiền hậu, bao dung, trách nhiệm và chu đáo. Hiếu rất vui và yên tâm công tác vì ngôi nhà nhỏ của cha con anh từ khi có tôi về đã trở thành một tổ ấm thật sự. Cha như trẻ ra, nhất là từ khi có cháu nội để bế bồng, để ru hời. Anh hiểu, với cha, đấy chính là niềm vui tuổi già, có con cháu sum vầy, quấn quýt, yêu thương, dù có lúc bọn nhỏ làm ông mệt nhoài.

Hai đứa cháu nhỏ xíu, lít nhít rất bám ông. Lúc chúng trèo lên lưng, lên vai, lúc chúng đòi ông cõng nhong nhong. Ông vừa cõng cháu vừa hát: “Nhong nhong ngựa ông đã về/ Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn”, rồi ông cháu cùng cười rất vui vẻ. Cha già rồi nhưng lại thích trồng na, cha bảo trồng cây đâu phải chỉ để cho mình mà còn để cho con cháu. Nhờ tay cha chăm bón, mấy cây na lớn rất nhanh và bói lứa đầu, quả to như nắm tay. Có quả na nào chín cây, thắp hương cúng cụ xong, tôi hạ xuống mời cha, cha lại gọi hai cháu đến bên, chia cho các cháu phần nhiều, ông phần ít. Cả ông và cháu cùng ăn rất ngon lành. Nhìn cha vui, bọn trẻ vui, tôi cũng vui lây.

Mỗi năm một lần, nhà nước cho cha đi nghỉ dưỡng chế độ của cán bộ lão thành. Những ngày cha vắng nhà, bé An và cu Đức ngày nào cũng nhắc tới ông và hỏi mẹ bao giờ ông về. Cứ vài hôm, tôi lại đèo hai con đến viện điều dưỡng thăm ông. Bọn trẻ được gặp ông, gọi ông rối rít, bi bô nói chuyện khiến cho cả phòng cùng vui. Khi trở về, ông lại chia quà cho các cháu. Cha bảo ông có cái gì thì các cháu cũng có cái đó. Nhìn bọn nhỏ quấn quýt ông, tôi thấy thật ấm áp và thương quý cha hơn.

Thỉnh thoảng, thấy cha ngồi trên cái ghế ở trước cửa, tự cầm kéo cắt tóc, tôi lại nhanh nhảu bảo: “Bố, để con giúp bố!” Rồi tôi hớn hở, lăng xăng, nhanh nhẹn lấy tấm vải choàng, dùng kéo và lược y như một người thợ cắt tóc. Tuy không chuyên nghiệp nhưng tôi khá khéo tay. Tóc của cha lơ thơ, trắng như cước. Tôi cẩn trọng cắt, vừa cắt, vừa nói chuyện vui đùa hóm hỉnh khiến cả nhà ai cũng vui. Tôi rất thích cắt tóc cho cha vì nó rất dễ, không cần tạo kiểu, chỉ cần cắt sát, cắt cụt là xong. Có lúc, thấy cha mặc áo bị đứt cúc, sứt chỉ, tôi lại bảo cha thay áo, rồi lấy hộp kim chỉ khâu lại, giặt sạch, phơi phong và treo lên mắc áo. Có lần, mắt cha mờ, chưa thay thủy tinh thể, gắp thức ăn không trúng, chấm mắm toàn bị chệch xuống mâm, tôi nhìn cha, thương lắm, tôi gắp thức ăn, gắp rau, chấm mắm, đưa vào tận bát cho cha. Được làm những việc này cho cha, tôi thấy trong lòng rất vui, giống hệt một đứa trẻ đang trả ơn cho người cha yêu thương bằng tất cả tấm chân tình của mình. Mỗi khi được chăm sóc cha, tôi đều làm bằng cả trái tim, cẩn trọng và kính lễ. Tôi không nghĩ mình là con dâu mà là con gái của cha rồi.

Thỉnh thoảng đến trường, bạn bè đồng nghiệp lại kể những mẩu chuyện về quan hệ mẹ chồng nàng dâu cơm không lành, canh không ngọt hoặc phàn nàn về tính xấu, tính khó của bố chồng, tôi chỉ yên lặng lắng nghe. Tôi cảm thấy mình thật may mắn. Tôi ngẫm nghĩ và nhớ đến câu “tương kính như tân”, thấy câu nói đó không chỉ đúng trong quan hệ vợ chồng mà còn đúng với nhiều mối quan hệ khác trong đời sống. Tôi thầm kính nể cha lắm vì cha đã dạy cho tôi hiểu rằng: Biết cho đi, biết yêu thương thì sẽ nhận lại những gì tương thích; sự khác biệt về thế hệ, tuổi tác không phải lúc nào cũng tạo ra khoảng cách; nếu có cùng tầm nhìn, đủ lòng vị tha, bao dung thì mọi thế hệ đều có thể sống hòa hợp, yên vui trong một mái nhà.

Năm con An học lớp sáu, cu Đức vào lớp một thì cha ốm nặng. Tôi nấu cháo cho cha rồi bê vào tận giường, giục cha ăn. Chiều chiều, con An đi học về là đun nước lá thơm, lau người cho ông nội. Nó bắt chước mẹ rửa mặt cho ông trước, rồi nó dùng khăn, nhẹ nhàng xoa lên đầu, lên cổ, lên lưng ông. Người cha gầy, chỉ còn da bọc xương, tay nhăn nheo chi chít vết đồi mồi, nhưng khuôn mặt thì vẫn rất dịu hiền, thanh thoát. Chăm ông nội xong, nó lặng lẽ ngồi cạnh ông, vẻ mặt nó trầm tư, buồn rười rượi, y như người lớn. Còn cu Đức thì chưa biết làm gì, thỉnh thoảng nó vào nằm cạnh, bi bô đọc cho ông nghe bài thơ Cháu vào lớp một.

Rồi một ngày kia, cha đi thật nhẹ nhàng, không đau đớn. Cha mất khi sức già đã cạn kiệt ở tuổi chín mươi. Vợ chồng tôi lo liệu chu toàn cho cha. Con An ngồi phủ phục bên linh cữu ông nội. Nó không khóc thành tiếng, chỉ thấy mắt nó đỏ hoe. Còn cu Đức thì im lặng, đứng vịn tay ở đầu linh cữu, mặt nó buồn thiu, tần ngần.

Sau này, khi cha mất được đôi ba giỗ, con An học lớp tám, cu Đức học lớp ba, có lần, xem bài tập làm văn của con gái, bài văn được cô cho điểm 9 và phê “Văn viết chân thực, giàu cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, mạch lạc”, tôi tò mò đọc, thì ra con An kể về ông nội. Bài văn của con gái nhỏ đã làm sống dậy trong lòng tôi hình ảnh về người cha, người ông hiền từ, bao dung, tràn đầy tình yêu thương ấm áp hôm nào. Bé An đã tả, kể về ông nội của nó thật cảm động. Hình như con bé đã viết về ông nội bằng cả trái tim mình. Đọc bài văn của con, nước mắt tôi nhòe đi, nhạt nhòa, trái tim thổn thức, rưng rưng. Còn cu Đức, thỉnh thoảng tôi lại hỏi nó:

- Con yêu ai nhất?

Cu Đức trả lời ngay không cần suy nghĩ:

- Con yêu ông nội nhất, cả yêu mẹ nhất nữa.

Tôi lại hỏi:

- Thế hôm ông nội mất, con có khóc ông không?

Cu Đức hồn nhiên trả lời:

- Lúc ấy, con buồn lắm, nhưng mà không hiểu sao con không khóc được. Con chỉ biết đứng cạnh ông và rất buồn thôi.

Mỗi khi ôn lại kỷ niệm về cha cùng bọn trẻ, cả nhà lại bồi hồi. Có một ngọn lửa vô hình nhưng thật ấm áp trong lòng tôi. Con An và cu Đức cứ thế lớn lên, mang theo những ký ức đẹp đẽ, tươi sáng về ông nội kính yêu của chúng.

Hôm nay là ngày giỗ của cha tôi. Cha đã đi xa mười năm. Mười năm rồi. Con An đã lớn, đang du học ở tận nước Nga xa xôi, thằng Đức cũng đang là sinh viên đại học năm thứ nhất, tôi đã chuyển về dạy học ở một trường gần nhà hơn. Hiếu cùng đơn vị đi giúp đồng bào bị bão lụt ở miền Trung. Anh gọi điện về bảo:

- Em thay anh làm cơm, thắp hương cho cha nhé!

Tôi bảo:

- Em quen rồi, anh cứ yên tâm công tác và bảo trọng.

Tôi nhớ lúc còn sống, cha bảo: “Làm vợ bộ đội là con phải chịu thiệt thòi nhiều đấy, nhưng khi tình yêu đủ lớn, các con sẽ vượt qua tất cả.”

Tôi bồi hồi nhớ đến người cha kính yêu rất đỗi hiền từ. Tôi thắp hương, đứng trước di ảnh của cha, kính cẩn, xúc động gọi từ trong tim: “Cha! Cha ơi!”

Để vở diễn không “đóng màn” sau đêm công diễn

Để vở diễn không “đóng màn” sau đêm công diễn

Baovannghe.vn - Trong bức tranh phát triển công nghiệp văn hóa, sân khấu đang đứng trước yêu cầu lớn hơn việc chỉ tạo ra những vở diễn hay.
Thủ tướng Chính phủ, "tăng tốc, bứt phá" hoàn thành tốt nhiệm vụ, mục tiêu năm 2026

Thủ tướng Chính phủ, "tăng tốc, bứt phá" hoàn thành tốt nhiệm vụ, mục tiêu năm 2026

Baovannghe.vn - Chiều 3/9, Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2026 để thảo luận, cho ý kiến về nhiều nội dung quan trọng, xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới
Khai mạc Phiên họp thứ 6 của UB TVQH

Khai mạc Phiên họp thứ 6 của UB TVQH

Baovannghe.vn - Chiều 3/9, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khai mạc phiên họp thứ 6.
Cả nước đồng loạt tổ chức lễ khai giảng năm học 2026-2027

Cả nước đồng loạt tổ chức lễ khai giảng năm học 2026-2027

Baovannghe.vn - Theo chỉ đạo mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), lễ khai giảng năm học 2026 - 2027 và khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền được tổ chức từ 7h30 đến 8h30 ngày 5/9, theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến trên phạm vi toàn quốc.
Hí trắng - Thơ Lê Hải Kỳ

Hí trắng - Thơ Lê Hải Kỳ

Baovannghe.vn- Tôi như ngựa hoang/ chung thân đá xám/ mỗi ngày gặm một mảnh hồn mình để sống