Bên đường có hàng cây bạch đàn thân trắng cao vút, quanh năm xao xác rì rào. Mùa hè có những con cồ cộ bụng vàng mắt đỏ bay về, lặng lẽ đậu trên lớp vỏ bạch đàn trắng tinh và hút từ đó ra một thứ tinh dầu trong suốt.
Mặc dù khá gần hồ, mùa hè ở nơi đây vẫn rất nóng. Những ngày nắng gắt, nhựa đường chảy ra dính bết vào chân, và nếu để ý có thể nhìn thấy hơi nóng từ mặt đường bốc lên rung rinh như sóng.
Nhà tôi trông ra cánh đồng lúa trải dài đến một quả đồi trồng bồ đề. Khuất sau quả đồi đó là những đồi chè của nông trường nằm rải bên hồ Thác Bà. Những buổi trưa nóng nực, có lúc từ ngôi nhà ven đồi bên kia cánh đồng vọng sang tiếng kêu:
- Thơ Tây Ban Nha chiến đấu!
Tôi bước ra sân, cất tiếng kêu đáp lại:
- Thơ Tây Ban Nha chiến đấu!
Như những con gà đua nhau gáy, đó đây trong xóm cũng rộ lên: “Thơ Tây Ban Nha chiến đấu!” Rồi im. Đồi núi lại thiêm thiếp ngủ yên trong nắng hè bỏng rát.
Thơ Tây Ban Nha chiến đấu là tên một tập thơ dịch có trong kho sách của bố tôi. Tập thơ được Nhà xuất bản Văn học in năm 1973, có bìa màu cỏ úa vẽ hình ngọn lửa nhỏ. Chẳng nhớ vì sao bọn trẻ chúng tôi ngày ấy lại lấy sáu chữ đó làm tín hiệu để gọi nhau. Thơ Tây Ban Nha chiến đấu, cũng có nghĩa như mày còn sống không, tao còn sống, tao đang ở nhà nhé, mày không ngủ trưa à.
Nhà tôi có cây ổi trồng ở mé vườn cành vươn ra sát đường quốc lộ. Hồi bé, em gái tôi hay trèo lên cây này và nhanh nhảu chào hỏi tất cả những ai qua lại trên đường, kể cả người xa lạ. Nó chào đến mỏi mồm mà không biết rằng chỉ cần chào những người quen thôi. Còn tôi, có đêm mùa hè ngủ mơ thấy những người đàn ông lực lưỡng cởi trần đi bộ trên đường, và trong mơ tôi đã làm thơ tả cảnh ấy:
“Mùa hạ có lắm lão cởi trần
Nở nang, thư thái, vẻ thanh tân…”
Đó là “bài thơ” đầu tiên tôi làm trong đời, khi còn là một cậu bé. Làm ngay trong giấc mơ.
Trẻ con nông thôn thường trốn ngủ trưa vào mùa hè. Phần vì ham chơi, phần vì nóng quá không ngủ được. Cái thời chưa có điện, suốt mùa hè chỉ biết phe phẩy quạt nan, phải tìm chỗ nào đó để chơi cho hết buổi trưa oi bức.
Những buổi trưa im vắng ấy, bọn trẻ chúng tôi thường đến trường. Trường phổ thông cơ sở của xã, nằm cạnh cánh đồng cách nhà tôi một quãng ngắn, vẫn mở cổng suốt ba tháng nghỉ hè. Phía sau trường có rặng tre râm mát, hành lang lớp học là nền xi măng tróc lở nhưng vẫn còn vài chỗ phẳng phiu mát lịm có thể nằm khểnh hóng gió hoặc bày trò chơi. Chân tường có những khóm dền cơm, chị em tôi hay nhổ về nấu canh dù cả lá lẫn thân vàng khè vì lấm đầy bụi đất. Trên mặt cát ở đó rải rác những lỗ hình phễu là tổ của những con cun cút to bằng cúc áo, một dạng ấu trùng của loài kiến sư tử mà trưa nào cũng có đứa mải mê tìm bắt bằng cách dùng sợi tóc câu chúng lên khỏi lỗ như đi câu cá ở hồ.
Những trưa hè niên thiếu của tôi đã qua đi trong ngôi trường đó, cũng chỉ với dăm ba đứa, con gái chơi chuyền còn con trai đấu cờ vua. Môn thể dục ở trường ngày ấy được học cờ vua, và tôi đã biết đến tên hai nhà vô địch thế giới cờ vua giữa thập niên tám mươi, đều sống ở Liên Xô, là Anatoly Karpov và Garry Kasparov.
Trên nền xi măng lấm bụi, bọn con gái rải mười chiếc que vót nhẵn lên thanh gỗ sứt sẹo rồi tung quả chuyền là một trái bưởi non, vừa bắt quả lượm que vừa nhẩm đếm.
Que mốt. Que mai. Con trai. Con hến. Con nhện. Chăng tơ. Quả mơ. Quả mận. Chần chận. Lên bàn đôi…
Đôi chúng tôi. Đôi chúng nó. Đôi con chó. Đôi con mèo. Trèo bàn ba…
Lúc ấy nắng chang chang trên khắp sân trường. Lúc ấy gió xôn xao thổi qua lũy tre già xanh rợp. Phía con trai đang vào hồi căng thẳng khi con tốt đã đến sát chân thành sắp được phong hoàng hậu. Phía con gái cũng sang bàn mười với tiếng lượm que lách chách và đôi tay thoăn thoắt dẻo dai.
Chuyền chuyền một, đủ một đôi. Chuyền chuyền hai, đủ hai đôi…
Trò chơi nào cũng đòi hỏi sự nhanh nhạy, tinh mắt, khéo tay. Trò chơi nào cũng cần có đôi, có nhóm. Chắt chuyền, cờ vua cùng với trồng nụ trồng hoa, rồng rắn lên mây, đánh khăng, đánh đáo, trốn tìm, hay gọi điện cho nhau qua sợi chỉ dài nối giữa hai ống nghe bằng nứa bịt da ếch… đã giúp bọn trẻ xóm tôi lớn lên hồn nhiên, khỏe khoắn, lanh lợi. Ai đã sống qua những năm bao cấp ở nông thôn miền Bắc đều không lạ gì các trò chơi dân dã ấy, còn với trẻ con bây giờ, một thế hệ cô đơn trong không gian máy tính, điện thoại, thì đó là những trò lạc hậu đã chìm xa vào kí ức một thời.
Mùa hè ở nông thôn miền núi ngày ấy còn là những trưa nắng bì bõm lội đồng bắt cua. Nước trên đồng nóng như nước sôi nhưng tôi cứ ì oạp lần theo bờ ruộng, tay thọc bừa vào các hốc bùn mà không biết là hang cua hay hang rắn, nếu quờ phải cục gì cưng cứng ngọ nguậy thì biết là cua rồi. Có lần tôi nhìn thấy một con cua to gộc đang ra sức dùng càng lôi một con đỉa đen sì vào trong hang của mình, không biết bắt về làm vợ hay để làm bữa tối. Thịt đỉa dai thế, làm sao nó gặm được!
Trong những mùa hè nóng bức ấy, thi thoảng có những bữa cơm chiều thảnh thơi, trải chiếu dọn mâm ra hè, cả nhà quây quần xung quanh đĩa cua rang muối đỏ au, đĩa rau muống luộc xanh rờn và bát nước rau luộc dầm sấu. Lúc ấy đồi xa còn nắng, và mặt trăng trắng nhợt hiện trên nền trời còn xanh.
Ăn cơm từ lúc hoàng hôn, thường là để đi xem chiếu bóng.
Ôi chiếu bóng, niềm vui của một thời gian khó! Hễ nghe thông báo có đội chiếu bóng lưu động từ huyện về thì dù bận đến mấy nhà nào cũng nấu cơm ăn thật sớm, đợi nhá nhem tối là náo nức đi bộ vài cây số đến một bãi đất rộng cạnh con đường vắng dẫn vào nông trường chè. Màn ảnh là tấm phông lớn màu trắng viền đen được căng trên hai chiếc cọc dài, bên phông có chiếc loa nén. Bầy thiêu thân, như thường lệ, sẽ nhảy múa như điên trong ánh điện vàng vọt. Còn đám đông, sẽ không ngừng nhốn nháo trong tiếng máy nổ ầm ĩ và tiếng loa gấp gáp gọi mời.
Đồng bào chú ý! Đã sắp đến giờ chiếu, xin mời bà con cô bác còn ở ngoài khẩn trương mua vé ổn định chỗ ngồi để buổi chiếu được bắt đầu...
Trước cổng soát vé, đôi khi diễn ra một cuộc “bạo loạn”. Những gã “anh hùng xóm” không chịu mua vé sẽ tập hợp lại thành lực lượng. Một hiệu lệnh được phát ra:
- Hai... ba... nào!
Khối người nhất loạt ùn lên, xô ngã hai người soát vé. Cổng rào đổ sập, bọn họ tràn vào bên trong.
Hai người lồm cồm bò dậy, phủi bụi trên áo quần, tiếp tục làm nhiệm vụ.
Buổi chiếu nào cũng bắt đầu bằng phim tài liệu sau đó là phim truyện. Máy chiếu xè xè chạy, trong đêm tối một thế giới xa lạ và vô cùng hấp dẫn hiện ra. Thích nhất là phim truyện chiến đấu của Liên Xô với màu xanh bạt ngàn của những cánh rừng Taiga, với hoàng hôn xanh lam và vó ngựa dập dồn trên thảo nguyên xa thẳm. Nhiều đứa thích ngồi cạnh máy chiếu để có cơ hội nhặt những thước phim đứt, mang về “nghiên cứu” xem tại sao người và vật trong đó khi phóng lên màn ảnh lại có thể chuyển động như thật trước mắt mình.
Ở ngoài cổng, những người không có tiền mua vé vẫn không chịu ra về. Họ trèo lên các mô đất, chăm chú theo dõi hình ảnh mờ mờ ở mặt sau của phông. Có người kiên nhẫn chờ mở cổng tháo khoán khi phim sắp hết để vào xem. Có kẻ liều lĩnh chui trộm qua lớp rào tre lúc người soát vé không để ý.
Xem chiếu bóng ngoài trời là kỉ niệm khó quên trong những mùa hè niên thiếu. Sau mỗi bộ phim, bọn trẻ chúng tôi còn bàn tán mãi về nó cho đến tận mùa thu, khi đã bước vào năm học mới, ở trường.
Mùa hè ở nông thôn, với tôi, còn là những buổi trưa lấy que tẩm nhựa mít lang thang trong nắng bẫy chuồn chuồn, hay vác cây sào đi bắt những con cồ cộ đậu trên thân cây bạch đàn, bóp mạnh vào đầu làm nó kêu inh ỏi. Nhớ mùa hè, còn nhớ những buổi chiều đi nhổ rau má rau sam trên đồng bãi, hái rau tàu bay tầm bóp trong vườn tươi tốt sau mưa, rau dớn mọc xanh bờ ruộng. Và nhớ nhất những buổi chiều đi chăn bò, hoa mua mùa hè nở tím sườn đồi, mồm miệng đứa nào cũng tím ngắt vì ăn quả mua. Nhớ lúc trèo lên ngọn cây cao vút đón cơn giông, cả vùng đồi núi chuyển động ào ào, cây cối rạp mình phơi mặt trái lá trắng như bạc…
Trong Bông hồng vàng, Paustovsky viết: “Trong tuổi thơ và trong thời niên thiếu, thế giới tồn tại khác hẳn lúc ta đã trưởng thành. Với tuổi thơ, mặt trời nóng bỏng hơn, cỏ rậm hơn, mưa to hơn, trời tối hơn và con người nào cũng thật là thú vị”, “Cảm thụ thi vị về cuộc đời, về tất cả những gì quanh ta, là tặng phẩm vĩ đại nhất mà tuổi thơ đem đến cho ta”.
Trẻ em bây giờ, nhất là ở thị thành, ít gần gũi với thiên nhiên cũng chẳng được dầm mưa dãi nắng. Và đáng sợ là chúng phải học quá nhiều. Nhìn những đứa trẻ đến trường với chiếc cặp lớn hơn người, tuổi thơ không được nghịch được chơi, hỏi làm sao có thể thông minh và khỏe mạnh.
Ít sống với thiên nhiên, trẻ em ngày nay dường như đã bị tước đi món quà lớn nhất của tuổi thơ, như Paustovsky nói, là sự cảm thụ thi vị về cuộc đời.
May mắn cho tôi, lớn lên trong thời bao cấp ở nông thôn, tuy vất vả đói nghèo, đã có một tuổi thơ đúng nghĩa.
![]() |
| Đánh chuyền - trò chơi dân gian xưa. Nguồn: Pinterest |