Diễn đàn lý luận

Niềm tự hào của người lính Sư đoàn Đồng Bằng

Nguyễn Trọng Luân
Chân dung văn học 11:00 | 28/02/2026
Baovannghe.vn - Lúc ấy là cuối năm 1972, mùa khô ở Tây Nguyên, rừng cây hoa lá nắng vàng, đến cả bụi đất bazan cũng vàng. Chúng tôi hành quân từ phía biên giới Campuchia về mặt trận đường 19 ở phía tây Pleiku.
aa

Tiểu đoàn sinh viên chúng tôi vừa qua một đợt đi mót sắn bên kia biên giới nay được bổ sung về Sư đoàn 320 biệt danh “Đồng Bằng” để chiến đấu. Đó là những ngày mặt trận Tây Nguyên đói quay đói quắt. Tôi lên cơn sốt rét đã hai hôm nhưng vẫn bám theo đơn vị. Nghỉ giải lao, tôi ngồi tựa vào một gốc cây nghẹo đầu nhắm mắt. Có một đoàn vài người lính cũ đi ngược chiều chúng tôi về phía biên giới. Họ dừng lại và hỏi: “Đồng chí này sốt à?” Tôi mở mắt gật đầu. Họ ngồi xuống bên cạnh rồi hỏi: “Các đồng chí là tiểu đoàn sinh viên vào đoàn Đồng Bằng phải không?” Tôi lại gật đầu. Một người lính lớn tuổi đeo súng ngắn quay sang anh em bên cạnh hỏi:

- Ở đây có anh nào hay làm thơ không?

Cả đại đội tôi ngồi vạ vật dưới tán rừng đều cười. Có ai đó nói rõ vui: “Một đời lính ba đời tráng biết gì mà làm thơ.” Rồi có ai đó chỉ vào tôi mà bảo: “Đấy cái thằng sốt rét nó hay làm thơ lắm đấy.”

Mấy người lính cũ hỏi tôi.

- Đồng chí hay làm thơ có đọc Văn nghệ Quân đội không? Thích thơ của ai nhất? - Tôi vẫn nhắm mắt nhưng trả lời:

- Tôi thích thơ Phạm Tiến Duật và Khuất Quang Thụy.

Có một ai đó nói như reo:

- Đây, đồng chí ngồi bên cạnh anh là Khuất Quang Thụy đây.

Tôi mở bừng mắt ra nhìn anh lính nhàu nhĩ và cũng cỡ tuổi tôi bên cạnh. Người lính ấy tóc bờm xơm da xám ngoét vì sốt rét nắm tay tôi.

Niềm tự hào của người lính Sư đoàn Đồng Bằng
Nhà văn Khuất Quang Thụy tại phòng làm việc báo Văn nghệ.

- Anh tên là gì?

Nghe anh nói giọng con bò vàng các từ không dấu khiến cả câu nói cứ ngã ngửa về phía sau thật ngộ. Tôi nắm tay Khuất Quang Thụy nghĩ thầm, con người nhỏ thó trông hệt trai làng cóc cáy quê tôi lại là người viết những bài thơ mà mình thích mê đây sao? Thật kì lạ. Chiến tranh nó mang tuốt tuột cả những người nhiều chữ hay ít chữ người tài người giỏi vào chung một đội ngũ đánh giặc. Không phân biệt sang hèn sau trước. Tất cả đều hành quân ra trận. Chỉ thế thôi rồi chúng tôi chia tay nhau. Mãi sau này tôi mới biết đó là nhóm cán bộ tuyên huấn của sư đoàn đi công tác, hễ cứ gặp tân binh từ ngoài Bắc vào là họ hay hỏi như vậy để tìm kiếm hạt nhân văn nghệ.

Tôi về Trung đoàn bộ binh 64 rồi lên chốt trên dãy Chư Rông Ràng phía tây Pleiku. Tháng 3 năm 1973 quân ta và phía VNCH cùng xây dựng một khu nhà “Hòa hợp” ở vùng giáp ranh nhằm mục đích hàng ngày đại diện hai bên giao lưu với nhau cùng thực hiện Hiệp định Paris vừa kí kết. Một hôm thấy cậu liên lạc dẫn một lính cũ bò lom khom đến hầm tôi. Thì ra là Khuất Quang Thụy. Thụy cười nhe răng:

- Tớ vừa ra nhà Hòa hợp. Xong việc tớ xuống Tiểu đoàn 8 rồi xin mãi tiểu đoàn mới cho lên chốt thăm cậu. Các ông ấy cho liên lạc dẫn đường cẩn thận quá.

Thụy chui vào hầm và tròn mắt nhìn những cái ống lồ ô được xỏ vào cây làm cái giá dựa súng xoay tròn được. Những ống lồ ô đã cạo vỏ xanh trở thành trắng ngà. Chúng tôi làm thơ bằng cách viết vào cái ống lồ ô ấy. Viết đến đâu xoay tròn đến đấy rất tiện mà đọc. Khuất Quang Thụy đọc rồi chép mấy bài thơ của tôi. Trong đó có 2 bài sau này tôi chép lại và gửi đăng trên Văn nghệ Quân đội vào năm 2011. Thụy về rồi, đại đội trưởng hỏi tôi:

- Làm sao mà cậu quen được Khuất Quang Thụy?

Tôi trả lời

- Tôi gặp trên đường hành quân ngoài sông Pô Cô.

Chuyện tôi được Khuất Quang Thụy đến thăm ngoài chốt cả tiểu đoàn biết. Từ đấy mọi người cũng nể tôi, nể là vì ai cũng biết tên tuổi và quý Khuất Quang Thụy.

Ở đơn vị một thời gian tôi mới biết Thụy là lính bộ binh dưới tiểu đoàn 9. Là lính nhập ngũ từ trường phổ thông cấp 3 Phúc Thọ Hà Tây tháng 3/1967 rồi tham gia hơn chục trận đánh từ tháng 2/1968 đến tháng 8 năm 1968 Sư đoàn 320 rút ra Quảng Bình. Mới 18 tuổi Khuất Quang Thụy đã có những bài thơ đến là hay. Đặc biệt là bút kí Trên chốt thép tiền tiêu được đọc trên đài Tiếng nói Việt Nam. Cả sư đoàn nể lắm. Cuối năm 1969 TCCT vào mở lớp viết cho sư đoàn ở miền tây Quảng Bình. Khuất Quang Thụy được lên học và là học viên xuất sắc nhất lớp, được các thầy Hồ Khải Đại, thầy Xuân Thiêm khen lắm. Cũng từ đấy Thụy được sư đoàn rút lên Tiểu đoàn Thông tin với ý định giữ chân người viết. Cho đến khi vào đánh chiến dịch Phản công Đường Chín Nam Lào thì Khuất Quang Thụy chính thức về Tuyên huấn Sư đoàn. Lúc này cả sư đoàn biết tên tuổi Khuất Quang Thụy. Các ông Chính ủy và Sư đoàn trưởng rất yêu qúy Thụy. Cán bộ dưới trung đoàn biết tiếng Thụy và quý mến mỗi khi gặp anh. Đi chiến dịch Thụy là lính ít tuổi bên cạnh các sĩ quan nên Thụy làm tất tật mọi việc hệt như người liên lạc, như người cảnh vệ kiêm phần ca cóng đun nấu trên đường hành quân. Thế mà Thụy vẫn viết, tranh thủ viết mọi lúc mọi nơi. Viết trong lúc chui rúc trong hầm, viết giữa hai đợt pháo kích. Là con nhà nông nên Thụy rất chăm chỉ siêng năng. Trong thơ, Thụy gọi các cô lính pháo Quảng Trị là em. Tôi cứ ngạc nhiên 18 tuổi mà viết thơ như già lắm, đàn anh lắm.

Qua cầu chẳng sợ gió bay

Chỉ sợ cầu treo tròng trành em ngã

Anh cố ép nỗi lo mà sao khó quá

Cầu nghiêng

Cầu nghiêng

Con cá bồn chồn

(1969)

Tôi cứ nghĩ, vì sao cũng chỉ hơn mình một tuổi mà Thụy lại biết cả con cá bồn chồn khi nhìn cô gái qua cầu. Thụy không hoạt ngôn không mồm mép mà sao nhời nhẽ hay thế. Thụy là người văn viết chứ không phải là văn nói. Có ông sĩ quan sư đoàn bảo thế. Ừ có thế thật. Giá mà Thụy hoạt ngôn thì hay hơn cũng nên.

Thụy nhìn cái gương xe ô tô mà tình tứ biết bao.

…Bên buồng lái em có chiếc gương soi

Ai làm ra xe mà chu đáo quá

Khi em cười ửng hồng đôi má

Cô lái xe trong đó cũng cười theo

(1970)

Tôi cam đoan rằng đến lúc ấy Thụy mới một lần được lên ngồi thùng ô tô tải, đó là lần hành quân đi đánh Quảng Trị năm Mậu Thân. Sau này ở Tây Nguyên có lần Thụy đã kể cho tôi nghe và đọc những bài thơ viết trên đường đi chạy công văn khi ở trung đội truyền đạt của tiểu đoàn thông tin D18. Thụy kể nhà nghèo và đông em lắm. Hai chúng tôi rất giống nhau về hoàn cảnh gia đình. Trong điều kiện chiến đấu ác liệt và vô cùng thiếu thốn ở một sư đoàn chủ lực cơ động như sư đoàn tôi mà những người làm tuyên huấn đã viết và xuất bản được một tập kí sự Hoa đồng bằng vào năm 1970 thì thật là kì diệu. Công lao của Khuất Quang Thụy, chàng lính mới 19 tuổi này không nhỏ tí nào cho sự thành công của cuốn sách ấy. Những người lính sư đoàn chúng tôi vô cùng tự hào về cuốn sách viết về mình.

Khi vào chiến trường Tây Nguyên, một người lính trơn mà có đài SONY đó là Khuất Quang Thụy. Đài của Thụy còn có giấy phép dùng nó hẳn hoi. Đó là giải thưởng thơ văn của Thụy mà mặt trận Tây Nguyên trao tặng. Cuối năm 1969 khi được điều về Tiểu đoàn Thông tin Sư đoàn làm lính truyền đạt. Những người lính cựu ở trung đội này đến nay vẫn kể chuyện lúc đóng quân ở Quảng Bình, Thụy đi bắt cua rất tài. Thực ra những ngày ấy Thụy chuyên làm bích báo cho bọn trẻ con học cấp 2 nơi đóng quân, đổi lại mấy đứa bắt cua hộ cho Thụy. Thế là trung đội truyền đạt thường ưu tiên Khuất Quang Thụy không phải đi công tác mà ở nhà đi bắt cua. Tháng 4 năm 1972 Sư đoàn 320 đánh cao điểm 1015 để phá vỡ phòng tuyến tây sông Pô Cô (điểm cao 1015 còn gọi là đồi Sạc Li ở Sa Thày). Thụy làm tờ tin Đồng Bằng trong hầm. Pháo địch bắn trúng hầm, quả đạn rơi vỡ khay mực tăng - xin mà không nổ. Thụy chạy xuống tuyên huấn trung đoàn 64 mượn khay mực. Giữa đường trực thăng địch quây bắn xuýt chết. Thụy kể với tôi. “Cụ Khuất Duy Tiến trung đoàn trưởng 64 thương quá, lúc tao chạy về cụ cho bánh lương khô dặn cẩn thận cháu nhé. Trên đường chạy về tao gặp mấy thằng C10 cũ, tao lại cho chúng nó mấy cục thuốc rê. Nhìn nhau giữa đường đầy bom pháo rơi nước mắt mày ạ.”

Bom đạn ác liệt là thế, lại hết chiến dịch này sang chiến dịch khác thế mà gia tài văn thơ của Thụy ngày càng dày thêm. Thụy viết về cô gái giao liên thật là tài tình.

Em gái giao liên chưa biết làm thơ

Sao em nói những lời rất đẹp

Thấy trên đường dọc ngang dấu dép

Em bảo rằng mặt đất trải đầy hoa

Đưa bộ đội hành quân trong mưa

Dép tuột quai em xách tay lủng lẳng

Đất thì đỏ mà chân em thì trắng

Hoa dấu chân em gửi lại trên đường

Năm cánh xoè về một hướng - Tiền phương.

Chỉ những người lớn lên ở nhà quê mới thân thuộc với những bước chân trần lội trong bùn. Những bước chân xòe năm ngón bám vào đất đỏ thành những cánh hoa. Những cánh hoa cứ hướng về phía trước về phía súng nổ, phía tiền phương, phía chiến thắng. Mùa mưa năm 1973 chúng tôi tham gia Hội diễn văn nghệ mặt trận đường 19 kéo dài. Đây là hội diễn của nhiều trung đoàn cùng Sư đoàn 320 đang tác chiến ở cánh trung thuộc mặt trận Tây Nguyên. Khuất Quang Thụy là tác giả của nhiều tiết mục, nhiều thể loại. Thụy viết hoạt cảnh chèo. Viết tấu nói. Viết lời cho ca khúc và thơ cho tiết mục ngâm thơ. Chúng tôi từ ngoài trận địa về Đức Cơ sống vài ngày trong náo nức văn nghệ sao mà sướng thế. Cái tên Khuất Quang Thụy khiến cả hội diễn trầm trồ. Những người lính dưới đơn vị ai cũng muốn chen vào bắt tay Thụy. Thụy chia cho mỗi đội văn nghệ một ít giấy màu vàng bổi, cái thứ giấy in báo Nhân dân ngày ấy. Thụy động viên anh em về cố gắng mà viết. Tôi nhớ mãi Thụy bảo rằng, đừng nghĩ là mình viết văn, cứ chép lại những gì mình đã sống đã đánh nhau với địch, đã nhớ bố mẹ nhớ quê hương thế nào, cứ trung thực rồi sẽ trở thành tác phẩm. Tác phẩm của lính trước hết phải đúng là lính rồi mới tính đến hay hoặc dở. Về sau mới hiểu những tác phẩm của Thụy luôn nhiều chi tiết trung thực với đời sống người lính như thế. Là người viết nhưng là người sống nhiều, sống dồi dào mãnh liệt nhưng không ồn ã. Trong con người Thụy có rất nhiều cuộc sống mà cuộc sống nào cũng tận lực tận tình. Có một lần vào mùa mưa năm 1974 tôi ở trên chốt nhận được quà và thư của Thụy. Thụy gửi cho tôi nắm thuốc sợi của Miên và một lá thư. Thư Thụy có vài dòng dặn tôi chịu khó viết, có được cái gì ở phía trước gửi về phía sau cho Thụy. Nhớ mãi Thụy bảo tôi rằng… đổi cả ngàn cân quặng chữ mới được một chữ đấy mày ạ. Tôi nể quá. Nghĩ thầm chắc hắn đọc ở đâu ra đấy chứ. Ở dưới tiểu đoàn chiến đấu lính tráng hay hỏi tôi. Luân ơi, ông Thụy hồi này có viết được cái gì cho đơn vị mình không? Luân ơi, Khuất Quang Thụy có vợ chưa hả mày? Ông ấy học lớp mấy mà giỏi thế. Cái tên Khuất Quang Thụy ở Sư đoàn tôi trong những ngày chiến đấu thật gần gũi thân thương. Những người lính Sư đoàn Đồng Bằng ai cũng như thể đã gặp và rất thân quen với Khuất Quang Thụy. Đến nỗi lính tráng gặp nhau hỏi quê mày ở đâu? Trả lời quê Phúc Thọ Hà Tây là người khác nói ngay, à à mày quê Khuất Quang Thụy. 22 tuổi Thụy mang cấp hàm trung sĩ. Hai mươi hai tuổi Thụy đã làm công tác của một cán bộ chính trị thuần thục tin cậy động viên các đơn vị phía trước đang chiến đấu giữ vùng giải phóng Tây Nguyên.

Tháng 8 năm 1974, Phòng Chính trị Sư đoàn 320 tổ chức một lớp bồi dưỡng những hạt nhân viết lách cho các tiểu đoàn và các đơn vị trực thuộc. Lớp viết có 28 người tuyển chọn từ đơn vị lên. Ba tuần được rời trận địa hầm chốt ra phía sau học cách viết tin ngắn và gương tốt việc tốt trong một tuần còn hai tuần dành cho viết kịch ngắn viết hoạt cảnh chèo và viết kí sự. Những kiến thức về các làn điệu chèo tôi được học ở đây đến giờ vẫn nhớ. Tôi học cách viết một hoạt cảnh chèo, thứ mà bộ đội sư đoàn Đồng Bằng rất thích. Thầy dạy tất tật các kiến thức trên là Khuất Quang Thụy. Chúng tôi ngạc nhiên hết sức. Tại sao mà Thụy dạy được tất cả các môn như vậy. Khuất Quang Thụy bảo, bộ đội là thế, đến giết giặc “nó” còn làm được thì cái gì mà ”nó” không làm được. Thời gian 3 tuần này tôi với Thụy ngủ cùng hầm với nhau. Ngày đêm Thụy làm việc như không nghỉ. Đống bản thảo ghi chép của Thụy một ba lô căng phồng. Thụy kể hồi năm 1972 tao không bị cháy ba lô ở Kon Tum thì còn nhiều lắm. Thụy trầm ngâm, “khi cháy mất đống bản thảo trên Sa Thày tao khóc hu hu đến nỗi ông Bùi Huy Bổng phó Chính ủy Sư đoàn phải quát lên. Chiến tranh còn nhiều điều mất mát quý giá hơn nhiều cậu nghe chưa! Tao im không khóc nữa. Ừ mà thật, những mất mát của chiến tranh không thể gì định lượng được mày ạ. Tập bản thảo của mình đã là gì. Chúng mình còn hạnh phúc chán. Đến tận giờ này mà vẫn sống là hạnh phúc lắm rồi.” Nghe Thụy nói mà tôi phát ớn. Nghĩ bụng không biết mình sẽ hi sinh vào lúc nào? Tôi còn may mắn là vẫn giữ được tấm ảnh lớp viết trong rừng Tây Nguyên mà thày dạy là Khuất Quang Thụy đến tận bây giờ. Trong tấm ảnh lớp viết 28 người lính năm 1974 ấy có 3 người lính sau này trở thành nhà văn. Đó là Khuất Quang Thụy, Hoàng Dân và Nguyễn Trọng Luân. Năm 1975 chiến dịch Giải phóng Tây Nguyên cuốn như thác từ rừng ra biển. Hôm chúng tôi vừa đánh xong trận Củng Sơn trên đường số 7 thì đoàn tuyên huấn của Thụy cũng ào đến nơi. Giữa trưa nắng bộn bề súng đạn thấy Thụy đeo cả máy ảnh. Thụy gọi tiểu đội tôi đứng bên bờ sông Ba chụp cho tiểu đội tôi tấm ảnh. Thụy cười cười cứ chụp nhỡ đâu sau này có ảnh mà thờ. Sau giải phóng Sài Gòn, Thụy in tráng rồi gọi tôi dưới đơn vị lên. Chỉ vào tấm ảnh hỏi có thằng nào chết không? Tôi bảo có một thằng chết ở Tuy Hòa. Bây giờ tấm ảnh đó là của quý của gia đình tôi và những người trong tiểu đội.

Cuối năm 1975, trở về miền Bắc, tôi về trường Đại học Cơ Điện học tiếp hai năm cuối, Thụy thì đi học Viết văn Nguyễn Du. Hai gia đình chúng tôi hàn vi như nhau. Tôi ra làm kĩ sư ở một công ty thép. Lăn lộn thương trường khốn khó thời đất nước gian lao. Tôi ít biết Thụy được những giải thưởng gì về văn chương nhưng những ngày đói kém của hai nhà thì cả hai đều biết. Con cái học hành thi cử ra sao thì hay bàn với nhau. Những lo lắng những khúc quanh của cuộc đời đều kể cho nhau. Lúc nào buồn nhất thì đến ngồi nhìn nhau, nhìn lâu lâu rồi về. Đời người chả ai nói trước điều gì, muốn thăng tiến đừng đa đoan. Đa đoan mà không hời hợt cũng là đáng nể. Có lúc chở vài tấn thép cho bạn làm nhà. Có lúc chồng bát xô lệch nhà này nhà kia lại đến với nhau. Thụy bảo chỗ công ty mày là nơi rèn giũa quân lính theo định hướng thương trường, tao cho thằng lớn vào đó một hai năm cho cứng cáp. Con trai lớn của Thụy làm quân kinh doanh Thép của tôi hai năm rồi mới đi làm nơi khác. Lại nói những năm 80 thế kỉ trước khi Khuất Quang Thụy nổi tiếng với truyện ngắn Người ở bến Phù Vân, ở cơ quan vợ tôi ai cũng sụt sịt khóc mỗi khi nghe truyện này đọc trên đài. Vợ tôi bảo, anh Khuất Quang Thụy là bạn thân của chồng em. Cả tổ nhao lên, mày nói phét nhà mày mà lại quen được Khuất Quang Thụy? Chỉ được cái nói phét. Vợ tôi im không thể cãi được. Sau này tôi viết được vài cuốn truyện kí và ba tập thơ có vài nhà văn bảo tôi làm đơn xin vào hội. Tôi hỏi Thụy, liệu tao vào được không? Thụy bảo mày không vào được. Hỏi vì sao? Thụy bảo, chưa đủ tầm. Cuối năm 2016 tôi ra đời cuốn tiểu thuyết Rừng đói. Thụy khen được đấy. Năm 2018 tôi làm đơn vào hội. Cũng phải mất hai năm sau mới được vào. Thụy bảo thế cho lành. Ngày xưa bọn mình còn thử thách bằng cả mạng sống cơ mà.

Hàng năm cứ vào dịp tháng 1 dương lịch là những người lính sư đoàn 320 lại tụ họp để chào đón ngày truyền thống Sư đoàn. Hàng trăm hàng ngàn người lính cựu sư đoàn lại nói về Thụy. Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỉ mà tên Khuất Quang Thụy và những bài thơ những tác phẩm của Thụy vẫn trong trí nhớ trong kí ức mỗi người lính sư đoàn. Ai cũng kể vanh vách những là Trong cơn gió lốc, Không phải trò đùa, Góc tăm tối cuối cùng, Giữa ba ngôi chúa, Anh Sức… Nói đến chiến dịch Quảng Trị năm Mậu Thân là nói về Bức tường lửa, nói về chiến dịch Đường Chín Nam Lào về chiến dịch Tây nguyên 1972 là nói đến Đỉnh cao hoang vắng… Chúng tôi ngồi bên nhau hồi ức những trận đánh xa xưa, kể lại những ngày đã từng sống chết bên nhau suốt chặng đường đánh giặc. Nhắc đến Khuất Quang Thụy là ai cũng thấy tự hào về một người lính chiến đấu dũng cảm hiền lành đã viết nhiều tác phẩm văn học về đời sống chiến đấu của sư đoàn. Thật hiếm có một nhà văn mà tên anh thân thuộc với nhiều thế hệ của một Sư đoàn anh hùng đến vậy.

Những năm gần đây, tôi cũng ốm đau nhiều, mỗi lần gọi điện thoại Thụy bảo tao cũng ốm lắm. Thụy động viên tôi: Thôi cứ phải cố lên mà sống mày ạ. Kể từ ngày 30/4 năm 1975 là bọn mình lãi to rồi. Đùng cái Thụy đi. Đúng vào ngày tôi bị COPD cấp đang nằm viện. Nằm trong viện nghe một nữ nhà văn gọi: “Anh ơi anh Thụy vừa đi rồi, anh ấy mới đi được ba mươi phút.” Tôi nằm trên giường bệnh khóc. Bác sĩ điều trị hỏi ông làm sao vậy? Tôi nắm tay vợ tôi. Em ơi anh Thụy đi rồi. Chúng tôi im lặng không ai nói gì với nhau rất lâu…

Tháng 12/2025.

"Hòa nhạc Mùa xuân"- Bữa tiệc âm nhạc đa sắc chào năm mới 2026

"Hòa nhạc Mùa xuân"- Bữa tiệc âm nhạc đa sắc chào năm mới 2026

Baovannghe.vn - Dưới sự dàn dựng và chỉ huy của nhạc trưởng Trần Nhật Minh, bức tranh âm nhạc đa sắc giao hòa giữa tinh thần lễ hội Vienna, vẻ tráng lệ của sân khấu opera Italy, chất trữ tình lãng mạn Pháp và những vũ điệu cuồng nhiệt Mỹ Latin sẽ bùng nổ vào tối 14/3, tại Nhà hát Thành phố HCM
Thơ không đứng ngoài dòng chảy đô thị

Thơ không đứng ngoài dòng chảy đô thị

Baovannghe.vn - Tọa đàm "Đô thị thi ca" do Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh thực hiện đã diễn ra vào gày 27/2, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật, nhằm làm rõ về vị thế, diện mạo và tương lai của thơ trong dòng chảy đô thị hiện nay.
Cảm tác hồ Gươm - Thơ Trần Chấn Uy

Cảm tác hồ Gươm - Thơ Trần Chấn Uy

Baovannghe.vn- Chiều Hà Nội, mưa xuân mờ phố cũ/ Bóng người xưa đáy nước, lạnh hồ Gươm.
Tẩm hương. Truyện ngắn của Lương Khả Tú

Tẩm hương. Truyện ngắn của Lương Khả Tú

Baovannghe.vn - Tôi thích mùi dầu gội mẹ dùng. Tôi không biết tên nó. Lúc đó tôi chưa biết đọc ngoại ngữ, chỉ nhớ nó có mùi dừa.
Với nhà thơ - Thơ Lê Minh Hoài

Với nhà thơ - Thơ Lê Minh Hoài

Baovannghe.vn- Lương tri? Vẫn đầu tiên đến trước/ Sự thật đến sau