Chưa bao giờ Lùng thấy nội hay Pá nói đến chuyện bán trâu trắng, khi con trâu trắng già này chết đi, con của nó sẽ kế thừa tên Vài Khao và nghiễm nhiên trở thành con đầu đàn. Mấy lần Lùng tò mò hỏi Pá nhưng chỉ nhận được những cái lắc đầu.
Đàn trâu nhà Lùng không nhiều như đàn nhà ông Phin nhưng nhiều hơn nhà chú Minh hai con. Mỗi buổi chiều đi học về, Lùng lại cùng Pá đi chăn ở đồi Đin Ba. Mới gần mười tuổi nhưng nó đã nhớ hết tên từng con trong đàn, Vài Khao đầu đàn luôn nghiêm nghị với các thành viên kể cả những chú nghé con, Vài Tẩu - rất hay đi riêng, bao giờ cũng tìm thấy nó cuối cùng nhất. Vài Hàn hung hăng luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu nếu như có con trâu lạ xuất hiện quanh đàn, nó chỉ sợ mỗi Vài Khao, cũng có đôi lần nó đã thử sức hòng muốn chiếm vị trí đầu đàn nhưng đều thất bại. Vài Đông có vẻ thân thiện hơn, tuy to lớn hơn, nhiều tuổi hơn Vài Hàn nhưng luôn nhún nhường chẳng bao giờ tranh giành cao thấp, như một ông cụ từ tốn, nó luôn âu yếm trước sự tinh nghịch của mấy chú nghé con rảnh rỗi. Ba chú nghé chưa có tên chẳng bao giờ chịu ở yên một chỗ. Dường như chúng chẳng bận tâm đến việc ăn cỏ, cũng chẳng cần biết đến cái bụng no hay chưa vì khi về chuồng chúng lại rúc vào bú mẹ.
![]() |
| Minh họa: Internet |
“Con trâu trắng dẫn đàn lên núi
Vểnh đôi tai nghe sáo trở về”
Hôm ấy Lùng được học bài thơ Trâu đồi(*), nó nhớ ngay đến đàn trâu nhà, một ý nghĩ lóe lên trong đầu. Chiều hôm ấy, mặc Pá đang cặm cụi đẽo những chiếc mõ mới, Lùng tự lên rừng tìm một đoạn trúc mang về đẽo gọt. Nếu như mọi hôm nó cũng ngồi cạnh Pá làm mấy cái mõ con con để dành riêng cho mấy chú nghé nhưng chúng đã có đủ rồi. Hôm qua đeo mõ, con nào cũng lắc lắc đầu tỏ ý không hài lòng, con của Vài Tẩu cứng đầu nhất nhưng cũng phải đứng im sau một buổi chiều bị cậu chủ truy đuổi khắp đồi. Ngày nào Lùng cũng làm thêm mõ mới, cái nào không ưng thì lại đổi, mấy con nghé đã quen với việc bị cậu chủ tìm suốt buổi hôm nay tự dưng lại được thong thả đùa nghịch. Dường như thấy có điều lạ, chúng tụ nhau lai ngó nghiêng nhìn về phía cậu chủ đang ngôi trên mỏm đá.
- Tuút... tuút... tu.. tu..!
Tiếng kêu lạ phát ra càng khiến mấy chú nghé tò mò hơn, Vài Đông nghiêm nghị là vậy cũng phải nghiêng đầu nghĩ ngợi xem chuyện gì đang xảy ra. Mỗi lần tuút .. tu là cả đàn lại ngẩng đầu lên nhìn. Pá đang làm mõ trâu ở xa cũng đến gần hỏi Lùng:
- Con làm gì đấy?
- Con tập thổi sáo.
- Để làm gì?
- Bí mật.
Nhìn cây sáo trên tay Lùng, Pá mỉm cười.
- Thôi để mai Pá cho cái sáo đẹp hơn, kêu hay hơn nhé.
- Hoan hô!
Cả buổi chiều hôm đó, tiếng tuút tu vẫn vang lên, thậm chí nhiều hơn, to hơn. Phải đến khi ông mặt trời tắt nắng, Pá giục mấy lần về Lùng mới chịu để đàn trâu được yên tai.
Buổi tối, Pá sang nhà chú Minh, Lùng học xong vội chạy lên nhà ông Kim để xem phim. Sáng hôm sau đi học về đã thấy chiếc sáo bằng nứa để trên bàn. Lùng cầm theo chạy cùng Pá lên Đin Ba chăn trâu.
- Tuýt... tuýt... tuýt!
Cả buổi chiều, Lùng vẫn mải mê với chiếc sáo. Đàn trâu sau khi quen với tiếng tuýt tuýt đã không thèm vểnh tai lên nữa. Mấy chú nghé lại tiếp tục trêu đùa xung quanh bác Vài Đông. Chẳng thèm đếm xỉa đến những âm thanh vô nghĩa phát ra từ mỏm đá.
Ngày hôm sau mọi chuyện vẫn tiếp diễn như vậy. Pá thấy vậy liền đến hỏi Lùng:
- Con sang nhờ chú Minh dạy vài lần là sẽ được mà.
Từ hôm đó buổi tối Lùng không đi xem phim nữa, học xong nó chạy qua nhà chú Minh. Gần một tuần sau, lũ trâu đã được nghe tiếng sáo hay hơn, theo bài mà chỉ Lùng mới biết. Mỗi buổi chiều Lùng đều hí hửng lấy sáo thổi gọi đàn trâu về nhưng khi ông mặt trời gần chạm vào sườn núi Pù Toòng, Pá vẫn phải lên trên đồi đuổi từng con. Lùng buồn lắm, nó đứng ở cửa chuồng nhìn mấy con trâu, đôi mắt chớp chớp. Mấy chú nghé lại gần nó dùng cái sừng mới nhú cọ cọ vào người cậu chủ. Pá lại gần Lùng nói:
- Con có bí mật, muốn nghe bí mật của Pá không?
Rồi Pá thì thầm vào tai Lùng, nó thôi buồn, nhảy chân sáo đi về nhà.
Hôm sau, khi đàn trâu vừa tắm xong đã nghe thấy tiếng sáo của cậu chủ vang lên. Quen tiếng, cả đàn lẳng lặng vào chuồng, nhưng khi tiếng sáo kết thúc cả đàn lại nhao lên. Cậu chủ tiến lại gần chuồng, trên tay cầm “vũ khí bí mật” được chuẩn bị từ trước. Thấy muối, đàn trâu nháo nhác lên, mấy chú nghé vẫn chưa được ăn muối lần nào nên ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì. Lùng cầm từng nắm muối nhỏ xoa xoa lên miệng từng con. Pá cũng phụ giúp Lùng một tay, Vài Đông trầm tư là thế mà cũng ngẩng cổ lên đợi đến lượt mình. Mấy chú nghé đã biết được hương vị “đặc biệt” từ món ăn mới nên chạy theo cậu chủ khắp chuồng. Xong việc, Lùng ra ngoài tảng đá thổi thêm một bài chỉ nó mới hiểu rồi cùng Pá về để lại phía sau những ánh mắt tiếc nuối của Vài Tẩu, Vài Khao, Vài Đông... và những chú nghé đang mải mê tìm những hạt muối còn sót lại.
Cứ như vậy, sau gần một tuần, đàn trâu dần quen với tiếng sáo của Lùng. Mỗi buổi chiều, tiếng sáo cất lên cũng là lúc cả đàn nháo nhác đợi cậu chủ chia phần. Lùng cũng đã thổi được hay hơn, biết thêm nhiều bài mới hơn. Chiều hôm ấy, Lùng cất tiếng sáo thổi, một bài, hai bài.... đàn trâu từ trên đồi nghe thấy tiếng quen thuộc vội vã về chuồng, chẳng đợi ông chủ lên tìm như mọi hôm nữa. Pá nhìn Lùng rồi xoa đầu nó cười. Trong chuồng, cả đàn đã ngay ngắn đợi cậu chủ đến chia quà.
Con đường về nhà hôm nay thật đẹp, chiếc sáo nứa màu vàng nhạt trong tay nó khua khua hòa cùng sắc vàng của nắng, của lá. Cơn gió thổi xào xạc như tiếng vui reo khắp con đường. Ông mặt trời cố nán lại một chút nhìn Lùng rồi thu lại những tia nắng cuối cùng về núi. Lùng nhảy chân sáo đi cạnh Pá lẩm nhẩm câu thơ:
“Con trâu trắng dẫn đàn lên núi
Vểnh đôi tai nghe sáo trở về”.
Triệu Hoàng Giang