Cứ cuối tuần là cả nhà họ lại rủ nhau lên nghỉ. Dấu hiệu dễ nhận ra sự có mặt của họ chính là tiếng tụi trẻ con lao nhao trên mấy tàng cây sát những ngôi nhà lợp tôn lụp sụp. Những ngày còn lại vườn nhãn vắng tanh, tụi trẻ con chúng tôi tha hồ đột kích vào vườn và làm đủ thứ trò kịp nghĩ
Đó là những ngày tháng ác liệt nhất của cuộc chiến tranh. Bom Mỹ thả mù trời. Người chết như rạ. Lính Đại Hàn về cả sư đoàn đóng ở phía bắc thị xã. Những đợt hành quân liên tục diễn ra. Nghe đồn có mấy đợt thảm sát nối nhau. Ngày nào cũng nghe điệp khúc đốt, hiếp, giết diễn ra đâu đó. Lúc đầu còn ở xa. Sau gần ngay sát thị xã. Một vùng ven đô rộng lớn kéo dài từ phía biển trải qua mấy cánh đồng xanh ngút ngát lên đến tận chân núi như đang lên cơn sốt. Nhưng rồi không còn đường lên núi nữa. Máy bay ken dày bầu trời. Pháo nổ liên hồi kỳ trận. Có cả pháo từ hạm đội ngoài biển bắn lên. Đứng từ đây nhìn lên phía núi vẫn thấy núi rừng cháy rừng rực hằng đêm. Và hỏa châu rực rỡ như những đêm hội pháo hoa. Pháo cầm canh ngày đêm đẩy những người nông dân bật khỏi làng, chạy dạt về phía mấy thị trấn, thị xã. Gọi là chạy “tỵ nạn”. Họ đổ về các chùa, nhà thờ hoặc trường học. Sau, đành phải lê lết vật vạ ở bất cứ chỗ nào có thể. Các tổ chức từ thiện và các tôn giáo bắt đầu nghĩ ra việc dựng các trại định cư đón dòng người chạy loạn khắp nơi đổ về. Trại định cư Sông Hanh do nhà chùa lập ra. Sau gần hai tháng thương thuyết với chủ đất, một cụ già vốn nghiện thuốc phiện nên khi nhà chùa đồng ý góp một số tiền khá lớn chủ đất mới chịu đồng ý. Đất hẹp nên khu định cư được xây như một cái dạ dày, các căn nhà chung vách kéo thành một vòng tròn, chỉ chừa một lối vào trại trông chẳng khác kiểu nhà dài của người miền núi. Trừ những “căn nhà đầu xóm” và “đuôi xóm” các căn còn lại nhìn vào nhau qua một khoảng sân khiêm tốn rộng độ dăm bảy bước chân. Nhà tôi có hai cha con nên chỉ được phân một căn phòng nhỏ rộng ba mét dài chừng bốn mét. Nhà mấy đại gia đình hình như gấp đôi. Sau này khi quá ác liệt cả nhà tôi đổ về thị xã thì cũng chỉ từng ấy. Giỏi lắm là kéo dài về phía sau vài mét là hết đất. Bởi phần đất phía sau ông chủ đã bán đổi thuốc phiện từ hồi nảo hồi nao rồi. Nhà lợp bằng sáu tấm tôn viện trợ và quây kín bởi những tấm cót mỏng như lá lúa nhìn rõ cả đất trời. Mùa nóng nóng như đổ lửa. Mùa mưa cứ rầm rập một nhịp điệu ồn đến độ phải rán hết gân cổ nói mới nghe được lõm bõm. Và dột tứ tung lung tàng không thể nào che hết. Người ta cấp cho hai ba tháng gạo ăn. Và sau đó, "tùy nghi di tản”. Người thì bán hàng xén, kẻ hớt tóc, người buôn gánh bán bưng. Kẻ đi bán cà rem, người bán bánh mỳ dạo. Người khá chút đỉnh đi mua những thùng gỗ từ các “sở Mỹ” về tháo ra cưa theo quy cách bán cho thiên hạ cơi nới, sửa chữa nhà cửa. Dạo ấy nhà chùa đang phá bỏ một ngôi chùa cổ để xây dựng trường học nên khá đông “cư dân trại định cư về làm cho nhà chùa. Lương lậu không cao bởi nhà chùa không nhiều tiền và vừa phải làm công đức nhưng được cái đủ ăn và nhất là có thể trốn lính được. Cái công trình vĩ đại không biết ngày hoàn thành ấy đã che chở không biết bao nhiêu người thoát khỏi chiến trường, nơi thần chết đến gõ cửa hằng ngày! Ba tôi là một trong số ấy. Nếu không dễ gì tôi cắp sách đến trường được.
Nhà tôi kẹp giữa hai nhà khác. Một vị dạy tiểu học vừa là chánh đại diện Phật giáo một xã. Vị kia nghe nói từng đi buôn chuyến tận bên Savannakhet sau bỏ về làm ruộng. Ông già có cả kho chuyện Tàu kể không bao giờ dứt. Đến tận bây giờ chúng tôi cũng quên không hỏi tại sao ông già lại có cả kho truyện quyến rũ đến dường ấy! Về ngự sau nhà ông cựu bí thư giấu nhiều câu chuyện bí hiểm khác là một ông già hớt tóc có bà vợ là con tri huyện nói tiếng Pháp như bắp rang. Ông già hớt tóc thì ít mà kể chuyện thì nhiều. Thỉnh thoảng ông ta lại lôi đâu đó ra một canh dầu phụng rin xuống chợ bán mang tiền về xài! Giữa lúc thiên hạ toàn xài dầu xà lách viện trợ thì chứ dầu phụng nguyên chất của ông càng được giá. Khi thì lại bán thứ khác. Không hiểu làm thế nào mà ông lại trữ được lắm thứ như thế giữa cuộc chiến tranh dầu sôi lửa bỏng đến nhường ấy! Thứ bảy ông ta lại dòng chó theo xe xuống tận cửa Đại Áp tắm biển. Ông còn có cả một thằng con là sinh viên văn khoa đâu tận Sài Gòn. Có điều nghe nói cứ học mãi năm thứ nhứt chẳng bao giờ lên lớp. Thằng thứ hai học trung học đệ nhị cấp dưới phố. Bọn trẻ con chúng tôi ngưỡng mộ ông ta như một kỳ nhân. Và thường bu quanh trại cắt tóc ông ta mỗi khi nghỉ học. Sau, thêm một ông già bỏ buôn bán ở chợ Ba Ra về làm thêm một cái vức* ở “đầu xóm" khiến không khí trại định cư có vẻ ấm cúng và nghiêm túc hơn (ba tôi nói sau ngày có cái vức ông Thiên, thiên hạ bớt chửi nhau hơn chẳng biết có đúng không). Chính nhờ cái vức này mà bọn trẻ nghịch như quỷ sứ tụi tôi có thể tự mình tụng cả viên kinh cầu an chẳng cần nhờ người lớn. Và biết đánh trọn vẹn một hồi trống bát nhã không một lần vấp khiến người lớn cũng phải bái phục. Ở vức ông Thiên, cứ vài ba tối người lớn lại tụ về cầu kinh những mong một điều tốt lành mơ hồ. Hay để quên cuộc sống tăm tối của mình. Để quên tiếng đạn cối ì oằm mỗi ngày. Bọn tôi cũng bắt chước người lớn tụng kinh gõ mõ. Rồi thuộc. Bắt đầu từ những câu chú ngắn. Án ma ni bát di hồng. Đến kinh cầu an. Rồi những đoạn kinh dài khác dành cho Vu Lan hay Phật Đản... Nhiều ngày vía khác nữa. Quanh năm. Chúng tôi lớn lên cùng những câu kinh ấy. Dù nhiều lúc chả hiểu mô tê gì. Ba tôi thì bảo rằng kinh “mắc” lắm. Dễ gì ngộ được. Chứ không thì thiên hạ đã thành Bồ Tát, thành Phật hết rồi đâu có khổ như thế này.
Đối diện nhà tôi là bà Sáu Thưng bán cá. Xéo chút nữa là nhà anh Nhãng đi lính địa phương, đóng quân đâu trên Ái Nghĩa. Đây là cặp vợ chồng chửi nhau như cơm bữa. Nhiều hôm vừa chửi xong hai vợ chồng đóng cửa kín mít, thỉnh thoảng lại lọt ra tiếng rí rỡn rít lẫn tiếng cười hin hít xen những tiếng “quỷ nề quỷ nề" giữa ban ngày ban mặt không thể hiểu nổi. Anh Nhãng giọng vịt đực nhưng hay hát nhất trại định cư. Hễ dứt chửi vợ là nghe “Tôi lại gặp anh, người trai nơi quán nhỏ. Tuổi ba mươi mà ngỡ như trẻ thơ. Lối gầy về nhà anh hoa vẫn nở. Màu xanh áo người thương xanh áo người thương...” Nhiều bữa bài “Trăng tàn trên hè phố” do anh ca nghe đến buồn thúi ruột. Hai vợ chồng nghe nói cưới nhau khá lâu nhưng chưa có con nên mỗi khi tức điên lên anh ta lại phơi tấm thân gầy những, phía dưới chỉ độc chiếc quần xịp, rượt bà vợ mập ú chạy quanh xóm cứ như thiên hạ chỉ độc mỗi vợ chồng họ! Có lần ba tôi kêu anh Nhãng ra khuyên nhưng anh ta lại bảo buồn quá chú ơi đi lính trận chẳng biết ngoẻo khi nào, lại không có đứa con nối dõi, nên nổi khùng vậy thôi chứ ai chẳng biết làm như thế là trật lất rồi. Sau lần ấy ba tôi không khuyên chú Nhãng nữa chỉ thỉnh thoảng lắc đầu bảo chú ấy tội nghiệp thật.
![]() |
Chúng tôi lớn lên mơ giấc mơ của Dạ Nguyệt, một nhà văn thời thượng chuyên viết về trẻ mới lớn thời ấy. Chúng tôi theo chân những thằng Cu, con Bẽm, những đứa trẻ bị chiến tranh làm bật gốc khỏi quê hương trôi về sống lăn lộn nơi phố phường mà lòng luôn đau đáu nhớ về mảnh vườn, con sông, cánh đồng xanh ngợp mắt. Là thằng Lâm Bồn với giấc mơ ôm trái bóng vượt đội Ba Tây giành chức vô địch túc cầu thế giới. Hay trong những câu chuyện Tam quốc mơ hồ “thế chân vạc" chia ba thiên hạ đầy những mỹ nhân cùng dũng tướng. Những anh em Lưu, Quan, Trương kết nghĩa vườn đào, dũng tướng Triệu Tử Long một mình xông pha giữa trận tiền tả xung hữu đột phò chúa cứu Thục. Hay chuyện Hàn Tín lòn trôn giữa chợ. Theo cả chuyện Tiết Nhơn Quý, Chinh Đông chinh Tây loạn xạ. Đêm về còn mơ giấc mơ ôm nàng Trại Ba công chúa mà ngủ trong tiếng súng dậy lên hằng đêm ở đâu đó để rồi buổi sáng thức dậy đua nhau chạy ra phía đường cái xem người ta chở xác lính tử trận trở về tiểu khu.
Gần vức nhà ông Thiên là nhà bà Hai Mặt Trắng. Bà Hai Mặt Trắng có đến sáu đứa con, toàn con gái. Hai đứa đầu đã có chồng. Một lính sư đoàn Ba, một biệt động quân. Hai đứa cuối đi học. Đứa áp út học cùng lớp với tôi. Hai đứa giữa làm gì không rõ. Có lần bà Sáu Thưng bán cá bảo tụi nó đi làm sở Mỹ, là làm đĩ Mỹ đó mi không biết à? Nhà bà ai cũng da trắng môi đỏ chứ không đen xỉn như bọn trẻ con tụi tôi. Và có cái gì đó là lạ, ngài ngại khó gần.
Thỉnh thoảng du kích ngoài Cam Hải vẫn đột kích các đồn nghĩa quân đóng ven đô. Có trận lọt cả vào các khu dân cư. Sáng ra còn thấy bẹ chuối rải đầy đường. Bẹ chuối dẫn đường cho bộ đội và du kích hành tiến. Có lẽ do địa hình giống như cái bao tử nên chưa lần nào du kích lọt vào trại định cư Sông Hanh. Cũng có thể họ sợ lọt vào đấy rủi bị quân Sài Gòn bao vây sẽ không có đường thoát ra. Một lần như thế, thằng Cẩn bán cà rem gần nhà ông chủ nghiện thuốc phiện đã bị cách mạng bắt đi. Cũng có tin đồn thằng Cẩn lâu nay hoạt động cách mạng nay sợ lộ nên theo du kích lên núi, vậy thôi. Sau này hắn trốn về bảo rằng đi núi cực quá chịu không thấu nên thoát chạy. Cũng lần ấy ở trại Thánh Tẩy thằng út con ông già hớt tóc cũng bị mất tích. Khác với thằng Cẩn, hắn lại nghe đồn đã tham gia chủ lực “Miền” gì gì đó. Mãi đến ngày giải phóng mới biết hắn về làm du kích dưới Cam Long và hy sinh trong một trận càn ở vùng Rừng Dừa. Sau lần ấy ông già hớt tóc chuyển hẳn về Sông Hanh này.
Không khí có vẻ tạm ổn của trại không được bao lâu. Một buổi có tin anh Hải con ông giáo viên tiểu học tử trận đâu ngoài ngã tư Quân Đoàn. Anh Hải học giỏi thi đậu vào trường Kỹ thuật Cao Thắng. Học Cao Thắng có lợi một tuổi khi lỡ bị gọi đi lính còn có cơ hoãn dịch. Không hiểu sao anh lại vào lính sớm thế. Mẹ anh thì khóc lu loa rằng vì không có tiền theo học nên thằng Hải con nhà bà mới phải đăng lính. Có người bảo quân đoàn cần lính tháo gỡ đạn dược nên xuống tận trường kỹ thuật tuyển người. Anh Hải học giỏi nên được tuyển ngay đợt đầu. Anh mới đi phép lần đầu tiên trong đời lính của mình. Mới ra đơn vị buổi sáng đến chiều thì hay tin anh chết khi đang ngồi trên xe. Anh cùng đội tháo gỡ đạn dược, gỡ mìn do du kích gài bên Hòa Hải. Về đến gần ngã tư quân đoàn thì một cậu lính ngồi trên xe đạp nhầm kíp nổ phụ khiến mìn phát nổ. Cả xe Jeep bốn người tanh bành cả bốn. Cái chết nhắc mọi người rằng chiến tranh vẫn cận kề và chẳng chừa một ai. Chúng tôi nghe tin anh Hải chết khi đang túm tụm cùng nhau hát vang bài Kinh khổ nơi chính nhà của thằng Quân, em anh. Nghe muốn rợn cả người. “Mẹ ngồi nguyện cầu hằng bao đêm. Lời kinh tình yêu nhạt phai dần. Trước khi mẹ khuất núi”* Cứ như lời ca viết riêng dành cho mẹ anh Hải vậy.
Một ngày xóm dây hẳn vào số đề. Và cầu cơ lên đồng là cách tìm số đánh. Một bữa thằng Thủy bảo hay là mình cứ lên đồng đại. Hắn tha đâu về bộ cầu cơ với con cơ nghe nói làm bằng tấm ván thiên của một ngôi mộ nào đó vừa mới bốc. Nghe kinh bỏ mẹ. Nửa đêm nghe bọn nó cầu cơ mà nước đái cứ muốn són ra quần. Bài cầu cơ rặt những câu hồn hỡi hồn.. nghe rờn rợn (sau lên học tú tài mới biết là nhái văn tế Thập loại chúng sanh của Nguyễn Du). Đêm ấy thằng Thủy nhập đồng thật khiến bà Mặt Trắng mẹ cô người yêu nó cứ chắp tay lạy như tế sao. Đêm đó chẳng đứa nào dám ngủ chung với nó. Đứa nào cũng bảo mày gần với thần linh rồi, ai dám gần. Báo hại nó phải co ro suốt đêm một mình. Sáng hôm sau thằng Thủy ghé tai tôi nói nhỏ rằng hắn giả đò chứ đâu có ai nhập mẹ gì. Tôi trợn mắt bán tín bán nghi. Chứ còn bà Mặt Trắng lạy mày cả đêm thì sao. Nó cười hô hố bảo bí mật bí mật, hé ra là chết cả lũ.
Tôi vẫn phải nghe bài ca buồn bã của chú Nhãng mỗi khi anh từ đơn vị về phép. Có bữa buồn muốn tự tử mà chết cho rồi. Buồn như vừa nghe tin có ai đó chết banh xác vì pháo Mỹ.
Thằng Hoan học võ ông Cửu Hoằng về tập lại cho bọn trẻ con mấy chiêu. Hắn bảo như thế là phạm môn quy, thương bọn mày lắm tau mới tập. Thằng Tứ ứ thèm, lại học riêng món gì đó bí mật. Hắn bảo là võ Miên. Ngực đeo nanh hồ tròng trong chiếc dây xích. Nó bảo thứ võ này không được chui dưới dây phơi đồ đàn bà. Hắn làm phép bằng cách chìa hai ngón tay thành hình chữ “V” mỗi khi chui ngang sợi dây nào đó. Ngực hắn xâm đủ thứ hình rồng rắn hổ mang đủ màu xanh đen đỏ gớm chết. Hắn bảo, là võ thần quyền học từ một người Miên. Tôi chẳng biết Miên miết gì. Chỉ thấy mấy người phụ nữ Miên da ngăm đen đầu đội khăn hay lội qua xóm bán đủ các thứ vải lẫn dầu Miên, không hiểu có phải là Miên này không. Ừ, thì cứ bảo là người Miên, kẻ tạo ra thứ võ kỳ bí ám ảnh suốt tuổi thơ tôi. Tứ bảo thứ võ này đạn bom cũng tránh. Sau này nghe nói thằng Tứ chết mất xác ở Thượng Đức hình như là năm bảy tư.
Ông Hàn bán tạp hóa có thằng con đầu học cùng lớp với tôi. Thằng này yêu một chị chàng hơn nó hai tuổi ở nhà chằm nón thế mới lạ. Nó bảo rồi nó sẽ cưới chị Nguyệt cho coi. Tưởng rằng chỉ là thứ lãng mạn kiểu “Tự lực văn đoàn” không ngờ sau giải phóng nó cưới thiệt. Nghe nói nó đi dạy học. Rồi bỏ dạy đi quấn thuốc lá điếu bán. Sau đi nấu rượu. Riết rồi rượu nấu nó. Giờ thì nó lặn đâu dưới ba tấc đất rồi.
Một bữa có đại đội lính địa phương về đóng quân ở nhà thằng Hoan. Sáng dông xe hành quân, chiều dông xe về. Bữa nào ồn ào là có thằng nằm lại. Bữa nào có vẻ lặng lẽ là có thằng què chân đổ ruột. Chuyện đại đội địa phương quân về đóng ở nhà thằng Hoan là bước chuyển mới của chiến cuộc vùng ven đô sau Tết. Nghe nói đại đội bị bóc từ một cái chốt ven một thị trấn trên kia, chạy về đây sau khi nướng hết gần nửa quân số. Một trận tập kích chớp nhoáng hồi không giờ ngày đầu tháng ba khiến cả đại đội trở tay không kịp. Sau này cậu tôi bảo thật ra không phải vậy, mà do thế trận của quân giải phóng ngày càng lớn mạnh nên bọn chúng không thể nào chống đỡ nổi. Một tiểu đoàn biệt động còn không ăn thua gì huống hồ một đại đội địa phương quân trực thuộc tiểu khu! Cậu tôi bảo quân của tiểu khu chỉ giỏi tác chiến độc lập. Làm gì có quân phối hợp. Lại càng không thể phối thuộc với pháo binh và không quân. Nên chết là phải. Chỉ còn biết loay hoay ngày nào hay ngày ấy. Dạt được về đây, chưa chết là may phước mấy đời rồi. Từ buổi ấy cái đại đội kỳ lạ ấy không còn quàng khăn tím mỗi lần đi hành quân nữa. Ông già hớt tóc bảo hay ho gì cái khăn tím dành cho bọn nữ sinh ấy, chỉ tổ giúp du kích nhắm làm mục tiêu bắn bia. Chúng tôi nghe ông già nói cứ rụt đầu lè lưỡi. Nghe kinh bỏ mẹ. Vùng ven đô bắt đầu chộn rộn thấy rõ. Anh Nhãng vất đồ trận mặc đồ xơ vin trốn đơn vị chạy về nhà đóng cửa im ỉm suốt ngày. Không thấy anh ta chửi hay rượt đánh vợ nữa. Mấy ngày sau chẳng thấy anh ta đâu. Ba tôi rỉ tai bảo tao thấy hắn ở dưới chùa. Chắc là trốn lính rồi. Bọn tôi nơm nớp lo thay cho anh. Không biết có trốn nổi bọn quân cảnh và an ninh quân đội hay không.
Ban đêm. Tiếng bom pháo cứ ì ầm miết. Ngày càng gần. Không đêm nào yên. Sự căng thẳng và hoảng hốt hiện rõ trên mỗi gương mặt cư dân trại Sông Hanh. Nhất là khi đại đội địa phương quân rút đi. Mấy người đàn ông thỉnh thoảng tụ lại một nhà nào đó bàn tán xầm xì cả buổi. Tôi học lớp mười, lớn tồng ngồng rồi nhưng vẫn chẳng hiểu mô tê gì cả. Thỉnh thoảng chỉ nghe lọt mấy tiếng đi, ở gì đó. Mấy người đàn bà thì đi mua dự trữ gạo, thức ăn và dầu hỏa. Một buổi sáng thức dậy thấy nhà bà Hai Mặt Trắng nhà cửa trống trơn. Ra là đứa con rể biệt động quân đã đưa cả nhà ra Đà Nẵng giữa đêm hôm. Cả con bé người tình trong mơ của thằng Thủy lần con bạn học có nguy cơ biến thành người tình của tôi cũng lặng lẽ ra đi không một lời từ biệt (Sau này có tin đồn người tình trong mơ của thằng Thủy lẫn con bạn Mặt Đẹp của tôi bị bọn thủy quân lục chiến hiếp rồi quăng xuống biển mất xác. Ấy là nghe đồn vậy chẳng hiểu đúng hay sai. Có điều chắc ấy là từ ngày ấy chúng tôi chẳng gặp một ai trong số mấy người đàn bà nhà Hai Mặt Trắng). Cả trại như lặng người đi. Ra là như vậy. Chiến sự đã kéo đến rất gần rồi. Ba tôi bảo hay là mình chạy về quê? Mẹ tôi khóc rấm rứt bảo muốn chết hay sao mà đi vào nơi hòn tên mũi đạn. Ba tôi gắt, chứ biết tính chi chừ… Biết tính chi chừ là chuyện đàn ông sao lại hỏi tôi? Thôi thôi đã rối ruột rối gan mà bà cứ khóc như rứa ai tính được chuyện chi! Hay là cho thằng Hai chạy trước ra Đà Nẵng? Mẹ tôi nức nở: Bộ ông muốn nó chết bờ chết bụi hay sao chớ? Ba tôi cúi gầm mặt đốt thuốc liên tục. Bọn chúng tôi tất thảy đều nghỉ học ngơ ngác nhìn nhau như bầy gà con lạc mẹ chẳng thiết chơi nhỡi gì. Riêng ông già hớt tóc vẫn bình chân như vại. Ông kể đến đoạn Khổng Minh những ngày cuối đời rồi bảo với bọn tôi đầy ẩn ý. Rằng biết trước thời thế như Khổng Minh rồi cũng chẳng được gì, thôi kệ chuyện gì đến tự hắn sẽ đến thôi! Nhà tôi, như nhiều nhà nghèo khó khác thuộc quân số cư dân trại Sông Hanh, sau một hồi tính lui quyết định: Chuẩn bị khăn gói hành trang sẵn sàng và... ngồi chờ! Chẳng biết sẽ chờ đợi điều gì? Một buổi tối cậu tôi ghé nhà bảo rằng đang “đi may đồ dưới phố tiện thể ghé qua”. Khác với mấy lần trước, cậu chẳng kịp ăn bữa cơm nào.
Nhà tôi chẳng đi đâu trong thời điểm chấp chới ấy.
Chẳng còn dấu vết gì của cái trại định cư. Bây giờ nơi ấy đã trở thành một cái liên hợp khách sạn to tướng. Một kiểu hotel – restaurants & spa thời thượng đang thịnh hành ở các thành phố lớn. Có điều muốn vào hotel qua cổng chính cũng phải đi qua cái ngõ nhà ông chủ đất chơi thuốc phiện có tiếng ho sù sụ vang lên suốt ngày và đôi mắt sâu hoắm như chứa cả ma lẫn quỷ. Khác cái là chủ spa - hotel & restaurants đã kịp mua một con đường nhỏ ăn thông ra đường cái ngang qua cái vườn nhãn của ông chủ người Tàu có tiệm buôn dưới phố. Cả hai con đường luôn trải thảm đỏ (theo nghĩa đen) mời gọi. Khách muốn vào ngả nào cũng được, tùy.
Lạ cái đã mấy mươi năm trôi qua rồi mà tôi vẫn không gặp khá nhiều người từng ở trại định cư ấy. Bà Sáu Thưng bán cá, anh Nhãng lính địa phương quân hát nhạc bolero và hay đánh vợ. Ông già hớt tóc thích kể chuyện Tam quốc lẫn bà Hai Mặt Trắng ham đánh số đề, ông Hàn bán tạp hóa, bà già con ông tri huyện nói tiếng Pháp như bắp rang. Cả ông Thiên cùng cái vức từng vang lên những câu kinh cứu khổ cứu nạn lẫn những hồi trống bát nhã gần đạt độ. Cả thằng Quân, thằng Cẩn, thằng Hoan. Thằng Thủy thì nghe nói đi vào đâu tận Bắc Ruộng mở tiệm kim hoàn trở thành đại gia nức tiếng một vùng. Hai người đẹp của tôi và thằng Thủy nghe đồn bị lính thủy quân lục chiến hiếp, cả mối tình chớm lóe đầu đời của tôi cũng bị hiếp nốt lại càng xa vời hơn...
Có vẻ như là cuộc chiến tranh đã rời rất xa...
----------
*Vức: một kiểu Niệm Phật đường- nơi các phật tử có lui tới tụng kinh thay vì đi lễ chùa
** Kinh khổ: Nhạc Trầm Tử Thiêng *** Bắn bia: bắn tỉa