![]() |
| Minh họa Kim Duẩn |
1.
Dòng Đa Nhim khởi nguồn từ phía Bắc đỉnh núi Gia Rich của dãy Langbiang, đổ về xuôi theo những cánh rừng già của đại ngàn Nam Tây Nguyên. Trong tiếng Churu từ “Đà” là nước, “Nhim” là khóc, dòng Đa Nhim vì thế còn được gọi là dòng sông khóc, gắn với truyền thuyết đẫm màu huyền sử của nàng sơn nữ tiếc thương người chồng vắng số, nàng khóc lóc thảm thiết, tiếng khóc vang xa “tám núi, tám sông, tám rừng, tám suối”, nước mắt nàng tuôn chảy ngày đêm thành dòng sông cuồn cuộn giữa đại ngàn (*).
Trên dòng chảy của mình, dòng sông ấy đã tạo nên những thác ghềnh kỳ vĩ như thác Liên Khương, thác Gougah, thác Jraiblian, thác Pongour… cùng lòng hồ mênh mông của công trình thủy điện Đa Nhim, trước khi hợp lưu với dòng Đạ Dâng thành sông Đồng Nai rộng lớn. Cũng trên dòng chảy ấy có những đoạn êm đềm, lững lờ đi qua buôn làng, bồi đắp phù sa cho đôi bờ, tạo nên những vùng đất trù phú như Đơn Dương, Đức Trọng (cũ). Từ nhiều chục năm về trước người dân đã biết tận dụng nguồn nước mát lành của dòng Đa Nhim để trồng rau màu trên những triền đất màu mỡ phù sa phủ dày trên nền đất đỏ bazan. Ban đầu người dân chỉ trồng manh mún, nhỏ lẻ, đến nay nơi đây trở thành thủ phủ rau của cao nguyên Lâm Viên với những cánh đồng trải tận chân đồi, với sắc trắng của ruộng sú tươi tốt, sắc đỏ của cà chua chín mọng… Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng, diện tích rau tại Đơn Dương thời điểm năm 1992 khoảng 760 hecta, thì đến hết năm 2024 diện tích rau là 28.415 hecta, chiếm 34% trong tổng diện tích trồng rau của toàn tỉnh. Mỗi năm, vùng đất nhỏ bé bên dòng Đa Nhim cung cấp cho thị trường khoảng một triệu tấn rau tươi các loại, bên cạnh cây lương thực như lúa, bắp, khoai lang, đậu… cây công nghiệp, cây ăn trái.
2.
Dọc đôi bờ sông Đa Nhim có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như Churu, Cơ Ho Cil, Raglai… Đây cũng là nơi có người Churu định cư đông nhất tỉnh. Khác với tập quán du canh du cư của những tộc người ở Tây Nguyên, người Churu chỉ quần cư ở vùng bình nguyên bên dòng Đa Nhim. Nói về nguồn gốc của tộc Churu, nhà báo - nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên Uông Thái Biểu cho rằng, có thể họ có cùng tổ tiên với người Chăm. Cách đây 4-5 thế kỷ, vì một biến động nào đó mà một nhóm người rời đồng bằng, xa đại dương lên miền núi cao ẩn trú. Thân ở quê mới nhưng tâm thức của họ luôn hướng về nguồn cội. Sống giữa núi rừng nhưng họ lại giỏi những nghề của đồng bằng như thủy lợi, làm ruộng, đánh bắt, buôn bán, làm gốm…
Theo nhánh tẻ của dòng Đa Nhim, có plei Krănggọ nằm dưới chân núi Pnum T’rom Ủ, nổi tiếng về nghề gốm mộc. “Krăng” chỉ tên ông chủ đất khi xưa, “gọ” chỉ nghề làm nồi đất. Từ thuở xa xưa buôn làng đã sinh sống bằng nghề gốm.
Bà Ma Li 71 tuổi là nghệ nhân làm gốm lâu năm của buôn. Lúc chúng tôi đến, bà đang nặn chiếc gọpró (nồi nhỏ) để trên bục gỗ trước hiên nhà. Tay vừa miết vào gọ, chân vừa di chuyển vòng tròn để tạo hình. Bà giải thích. Điểm độc đáo của gốm Churu là không dùng bàn xoay, cũng không có nhiều dụng cụ, từ đôi bàn tay khéo léo cùng sự tỉ mỉ của người phụ nữ mà thành. Mỗi chiếc gọ phải làm từng phần, để qua một ngày cho khô mới nối thân đáy lại với nhau, để thêm một ngày nữa rồi đánh bóng, sau khi phơi nắng một tuần thì đem nung. Kỹ thuật nung quyết định khá nhiều đến chất lượng gốm. Gốm nung ngoài trời bằng củi, xen củi lớn với củi nhỏ để điều chỉnh lửa, lửa lớn quá hoặc cháy nhanh quá sẽ làm hư gốm. Chỉ nung gốm vào buổi tối, bởi ánh nắng hắt vào sẽ làm nổ gốm. Những chiếc gọ nhỏ nung khoảng 3 tiếng, gọ lớn nung suốt đêm mới đủ độ chín. Người làm gốm thức cả đêm châm củi, giữ lửa cho đến khi sản phẩm hoàn thành.
Hiên nhà bà Ma Li có nhiều nguyên liệu như cát, đất sét, nước, sàng, cối giã... Bà nói đất sét lấy từ núi Pnum T’rom Ủ, chỉ có đất ở đó mới làm ra gốm đẹp, bền, đúng chất lượng. Đất sét đem về giã ra sàng sẩy, nhào cho mịn, ủ vài ngày rồi đem phơi, rưới nước cho dẻo để nặn tạo hình. Bà hồi tưởng chuyện xưa, gốm Churu trước đây dùng để đổi hàng hóa với các buôn khác. Chiếc gọ nhỏ đổi gùi lúa nhỏ, gọ to đổi cả gánh lúa, 1 con heo con đổi 3 cái gọroồng… Những ngày ấy, Krănggọ nhộn nhịp từ sáng đến khuya. Ban ngày là tiếng đập đất, tiếng sàng sẩy, tiếng bán buôn trao đổi. Đêm đến là tiếng củi tí tách, lửa nung gốm bập bùng rực sáng cả buôn làng… Theo dòng chảy thời gian nghề gốm mộc không còn hưng thịnh. Bà vẫn bền lòng với gốm. Bà làm theo thói quen, để đôi tay linh hoạt, để giữ nghề của dân tộc.
Vài năm trở lại đây, với sự phát triển du lịch, gốm mộc Churu được nhiều người biết đến. Ngôi nhà bà đón nhiều du khách trong và ngoài nước, có đoàn từ Nhật, Úc, Ấn Độ, Pháp, có đoàn từ miền Bắc, miền Trung. Những dịp như vậy, bà Ma Li lại tất bật hướng dẫn khách tự tay làm các vật dụng, đồng thời bán được kha khá cho khách mang về. Cháu con trong gia đình bà Ma Li và những người lớn tuổi của buôn đã quay lại nghề. Tuy không được như xưa nhưng nghề gốm mộc Churu có cơ hội bảo tồn để kể câu chuyện về hành trình trăm năm của đất và nước bên dòng Đa Nhim…
3.
Nói đến Churu là nói đến nền âm nhạc dân tộc phong phú, giàu bản sắc. Người Churu từ trẻ già bé lớn, từ nam tới nữ đều biết hát, biết múa. Trẻ con vừa chập chững đi chân đã nhún nhảy theo các làn điệu tampa, miệng vừa bập bẹ gọi ame (mẹ) đã biết ngân nga theo giai điệu của bà của mẹ. Thanh niên chơi trống sơgơl, đánh chiêng ba. Người già thổi rơkel, phối tấu các bài hát cổ xưa trên nền nhạc cụ truyền thống…
Nghệ nhân ưu tú Ma Bio 68 tuổi, người dành cả đời để sưu tầm và bảo tồn các giai điệu cổ Churu, cho biết. Kho tàng âm nhạc Churu có hàng ngàn bài hát phản ánh tập tục cùng những sinh hoạt thường ngày, với nhiều giai điệu như ha ri, ka tha, cho hea… Phổ biến nhất là ha ri, một dạng hát đối, nhưng người hát vẫn có thể ngâm nga một mình. Ha ri thường được các già làng sử dụng để kể chuyện xưa, để khuyên nhau điều hay lẽ phải. Ka tha là điệu hát về mùa màng. Người già thường hát ka tha cho con cháu nhớ về thời tiết, lịch vụ mùa. Cho hea là điệu hát san sẻ, an ủi, chia buồn.
Nhạc cụ Churu là sự kết hợp giữa sar (chiêng), trống sơgơl, păhghinăng, rơkel (kèn bầu), trong đó chiêng là trung tâm, là linh hồn của bản hòa tấu. Người Churu sử dụng chiêng ba, gồm ba chiêng có núm đặt trên dàn, người chơi dùng dùi để đánh, khác với những dân tộc khác ở Nam Tây Nguyên như Cơ Ho, M’Nông… dùng chiêng sáu, mỗi người cầm một chiêng và chơi bằng tay. Dàn chiêng ba theo thứ tự từ phải sang trái, từ lớn đến nhỏ là ame (mẹ), dra (dì trẻ) và ànạ (con gái). Cồng chiêng trong văn hóa và tín ngưỡng của đồng bào Tây Nguyên không đơn thuần là nhạc cụ mà là vật thiêng, và họ tin rằng đằng sau mỗi chiếc cồng, chiếc chiêng đều có một vị thần ngự trị (Yàng Chiêng). Chiêng là máu thịt, là tài sản, chiêng càng cổ càng quý. Âm thanh cồng chiêng mang tính thiêng, được con người sử dụng như cách đối thoại với thần linh với núi rừng, gửi gắm mong cầu, nguyện ước đến các Yàng. Người Churu có số lượng bài chiêng phong phú với nhiều giai điệu. Đánh được chiêng không khó nhưng để đánh đúng bài, đúng điệu đòi hỏi các nghệ nhân phải am tường và tập luyện trong thời gian dài.
Tamya (múa) của người Churu được biết đến nhiều bởi sự uyển chuyển, linh hoạt, mềm mại trong từng động tác. Tamya sinh ra trên chính nền âm nhạc cổ cùng tên với điệu vũ, trình diễn tamya không thể thiếu tiếng chiêng và ngược lại, tấu chiêng không thể tách rời các điệu vũ. Phổ biến nhất là tamya-arya có tính cộng đồng cao, dành cho các cuộc vui, lễ hội; đến tamya-t’rumpô (chào mừng ông lớn), tamya-păhgơnăng (cúng thần linh)…
Không như múa xoang của các dân tộc khác thường dành cho nữ, tamya dành cho cả cộng đồng, nam nữ trẻ già đều có thể hòa nhịp khi chiêng trống tấu lên. Theo lời nghệ nhân Ma Bio, “Khi âm thanh của chiêng ba, trống păhghinăng và rơkel vang lên thì mọi người cùng hòa nhịp tamya. Đó là sự giao hòa âm dương, biểu hiện của sự tương giao bền chặt”.
Nhiều năm qua, nghệ nhân Ma Bio là linh hồn của đội cồng chiêng thôn Diom A, có khoảng 30 thành viên cả già lẫn trẻ tham gia. Những người già trên dưới thập tuần, có bà Ma Bio, bà Ma Công, ông Ya Ma, ông Ya Hinh… am hiểu các loại nhạc cụ, các điệu tamya, vừa truyền dạy vừa gieo cảm hứng cho lớp trẻ. Các bạn trẻ có Bnaria Phúc, Nai Niệm, Ma Ry, Đoan… thổi được kèn rơkel. Bà cũng kể tên các cháu trong gia đình như Nai Luyến, Touneh Ma Tina… thừa hưởng nhiều năng khiếu âm nhạc, là thành viên nòng cốt trong đội văn nghệ cũng như các phong trào tại địa phương. Đội thường xuyên biểu diễn tại các lễ hội, sự kiện trong và ngoài tỉnh, gần đây nhất là ở Ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam tổ chức tại Hà Nội.
Khi chúng tôi nhắc lại hình ảnh nghệ nhân Ma Bio say sưa đánh chiêng ba, nghệ nhân Ma Công hừng hực “cháy” bên trống sơgơl, các thành viên đội uyển chuyển hòa điệu tamya trong các buổi biểu diễn, bà Ma Bio cười kể “xấu” nghệ nhân Ma Công. Bà chơi sơgơl, păhghinăng, thổi rơgel điêu luyện, hát rất hay, nhưng hễ thấy máy quay phim là hát lẫn lộn đầu cuối. Cho nên lúc biểu diễn nghệ nhân Ma Công chỉ chơi trống hoặc thổi kèn bầu, “nhường” phần hát cho người khác...
Ngày nay, nhiều lễ hội theo vòng đời cây lúa không còn, nhưng người Churu vẫn giữ gìn các giai điệu truyền thống trong trí nhớ, trong các giai điệu cổ. Và mỗi khi mặt trời tắt nắng sau cánh rừng già, khi màn đêm phủ xuống đôi bờ Đa Nhim, buôn làng tụ họp, cùng nhau trình diễn tamya trong thanh âm sar, rơkel, sơgơl, păhghinăng rộn rã…
(*) Theo tư liệu Địa chí Đà Lạt.