| Cho đến những nơi sỏi đá khô cằn nhất, hoa sim hoa mua cũng đem tới một cái cười - nó có tai tái đi một vài phần - cái cười vui sống của Tổ quốc. Ở chỗ xa xôi biên phòng như chân Điện Biên (...) những đóa hoa riềng dại, màu tím hường, mọc trên bờ ruộng chiến trường cũ và nông trường ngày nay. Hình như đất nước ông bà vẫn hằng nhủ ta rằng: Bất kể mùa nào ở bất cứ chốn nào sông núi, cũng sẵn có một cành hoa địa phương dành cho anh đấy. Anh hãy cứ đến. Có thứ hoa nó nở sẵn mà chờ anh từ lâu. Có thứ hoa sở tại khác, chỉ khi nào anh tiến tới đó, thì nó mới bắt đầu xòe cánh. (Báo Văn học, số Tết Quý Mão) |
Chuyến đi sông Đà mùa xuân đây, nghĩ mà cứ thấy tiếc tiếc cho anh em thủy thủ chiếc tàu thủy không tiếp tục đi cùng bọn này. Vì mức nước ở cái thác dưới kia quá cạn, không đủ chiều sâu cho mớn nước, đành phải bỏ lại tàu thủy dưới chân thác, và cả đoàn cứ đi tiếp. Đoàn chuyển sang thuyền đuôi én cổ điển, và lấy theo đi một xuồng máy, cái chân vịt chạy ét-săng thế mà cũng âm vang cả đoạn sông chói nắng. Giá có anh bạn tàu thủy cùng ngược dòng, thì sông xuân còn vui nhộn đến đâu. Thôi, tạm chia tay tàu thủy, cứ nằm đấy chờ đoàn! Bọn này ngược mất vài ngày, và xuôi độ một, hai ngày, vài bữa lại gặp lại nhau đấy thôi mà. Mùa cạn, tàu các cậu không đi được, thì mùa nước tháng sáu, tàu máy các cậu lại tha hồ mà chạy hết mấy nghìn tua máy! Và nay mai đóng kiểu tàu mới thì lại còn chạy cả mùa cạn nữa kia đấy!
![]() |
| Sông dài, rừng sâu, núi cao, thiên nhiên Tây Bắc thoáng qua một cái, là đủ thấy cái hùng vĩ của tạo vật... - Ảnh minh họa: Pixabay |
Sông Đà của tỉnh Sơn La vẫn là một lưu vực tù gió. Xuân lênh đênh đứng giữa dòng mà vẫn oi nóng. Trời lại đùng đục. Khô nắng mà không trong trẻo, đã gần tuần nay như thế trên sông Đà. Thế này mà anh nào thấy nắng tưởng bở định quay phim thì đến phèo mất. Từ cái mặt ghềnh phía bản Xá dưới kia lên đến cái thác mẹ thác con này, đầu tôi bỗng nhiên bận bận toàn về những việc làm phim tương lai cho sông Đà, trên sông Đà. Biết tôi hay đi đi về về Tây Bắc và sông Đà, anh em bên xưởng phim tài liệu (Tại sao lại không gọi là phim ký sự có đúng hơn không? Khi đã quen gọi những thể loại phim thời sự, phim truyện hư cấu, thì gọi là phim ký sự càng rõ ràng cái chức năng của nó chứ sao! Dùng danh từ phim tài liệu đã không nêu rõ hết thực chất nó, mà lại phần nào làm cho tính nghệ thuật của nó tầm thường đi) - anh em xưởng phim ký sự dặn tôi nên chú ý làm kịch bản phim sông Đà. Được thôi, vì đấy cũng là cái mong muốn của tôi. Cái khó là ở phần quay, chứ viết ra thì vẫn dễ hơn. Quay phim để thể hiện cái dữ tợn cái hùng vĩ của sông Đà, và cái lớn lao của mọi người lao động quên mình trên sông Đà, nhất định là mình cũng phải có cái dũng cảm, phải tỉnh táo trong những lúc lộng hiểm. Và phải tiêu nhiều tiền kia đấy.
Ví dụ như, khi tôn trọng cái xê-căng (đoạn) về cái thác Méo này, phải quay thế nào để thể hiện cho hết cái khía ác hiểm uốn chữ chi của đợt thác này vào mùa cạn. Ngồi trên thuyền quay cũng được, và đứng trên bờ xa mà quay vẫn cứ được. Nhưng hình ảnh thu được, nếu chỉ có ở mấy góc độ như thế thôi, nhất định sẽ bị hạn chế, sẽ bị bẹt đi, dẹt đét, kém hẳn sống động. Theo tôi nghĩ, phải dùng đến thứ tàu bay lên thẳng. Vẫn cứ quay bằng thuyền gỗ, bằng bè nứa, bằng phao, ngồi lọt vào phao thúng cao su mà quay, nhưng phải kết hợp với trực thăng nữa. Không phải chỉ ở xê-căng đoạn thác Méo này mới phải dùng tới trực thăng, mà ở nhiều con thác khác cũng vậy. Ngồi trên trực thăng mà quay xuống đỉnh thác, mà chĩa thẳng ống kính xuống, hạ trực thăng xuống cho chấm sát cái chỏm thác mà đặc tả thật là cận cảnh, rồi lại nâng dần trực thăng lên mà lấy trung cảnh toàn cảnh, ấy mới là phản ảnh trung thực về thực tế ghềnh thác sông Đà. Việc giao thông chuyển vận trên Tây Bắc bằng đường thủy sông Đà, nay vẫn phát triển theo phương châm kết hợp thô sơ với cơ giới, nghĩa là vẫn chèo thuyền chở bè, nhưng phải đóng ca-nô tàu thủy nữa. Việc làm nghệ thuật xi-nê-ma trên sông Đà lại càng phải kết hợp với cơ giới, với tàu bay quay phim. Nói đến cơ giới là nói đến tiền (Nhưng tiền này, lại thu về bằng vạn bằng triệu cái vé mua của người đi xem phim ký sự thỏa thuê về những miếng ảnh sinh động mình cung cấp cho họ). Hãy thử tính sơ sơ: Tiền thuê trực thăng cứ một phút là 40 đồng, một giờ bay làm việc mất 2.400 đồng. Nếu trời nắng nỏ và trong trẻo cả ngày hôm ấy, và quay luôn cả ngày, tính từ cất cánh Gia Lâm, thì một ngày 8 tiếng làm việc mất 19.200 đồng, gần hai vạn đồng riêng tiền trực thăng. Ngồi trong chiếc thuyền năm chèo đang chống sào đều đều mà tườn dần lên thác nặng, tôi hình dung ra một buổi đối thoại với một ông chủ nhiệm tưởng tượng của một cuốn phim ký sự sông Đà.
- Như thế đấy. Liệu có bay mà quay được không? Hay chỉ cứ chèo chống nguyên ở dưới đất thôi?
- Thì cứ viết đi đã!
- Có đảm bảo cho cách thể hiện mô-đéc đó thì dựng cốt phim nó thêm hào hứng. Lại cho biết xem là anh bạn chị bạn nào sẽ quay đây? Chắc ông cũng biết rằng có những kịch sĩ chỉ hoàn chỉnh được vở của mình, sau khi đã biết rõ diễn viên nào đó sẽ cho mình kích thước nhất định cho nhân vật mình đang hư cấu. Ở xi-nê-ma, người viết và người quay, cần ăn ý nhau lắm, cần có thanh khí trong phong cách cảm xúc.
- Thì cứ xong kịch bản đi đã!
Ngoài cửa khoang thuyền đuôi én, thác nước sông Đà cứ tuồn tuột mà xói vào lườn thuyền. Nắng xuân ấm xuyên qua nước thác, lòng thác ẩn ẩn hiện hiện toàn đá tảng, kẽ đá múa lượn những làn rêu xanh. Rêu rùng rùng lòng thác, theo một chiều nước đổ xuôi. Rêu xuân, và đá đầu sư, và nước thác cạn, mờ chồng lên nhau như phim sắp chuyển cảnh. Đánh bục một cái, tôi chồm dậy. Chưa rõ thuyền xô thuyền đâm vào gì, chỉ nghe tiếng quát: "Cứ ngồi im!" Trước mắt tôi không phải là một ông quản lý phim nào, mà chỉ là lồ lộ một ông lái đò người Thái Trắng cao lớn, bắp thịt tay bắp thịt đùi đang cuốn sóng thừng, oằn cả người lên mà đè bơi chèo xuống mặt sông. Cả ba tay chèo mũi, cả ba tay chèo lái, đang gò người xuống mà dìm chèo mình xuống lòng thác. Nước giận dữ càng hất cả chèo cả thuyền lên khỏi lưng sóng. Sóng chỗ này nặng quá. Nó đánh vào lườn thuyền, vào mũi thuyền, vào cuối thuyền, vào đáy thuyền, cứ đùng đùng, như nghe bục hết cả gỗ và tung tan hết ván thân thuyền. Vừa rồi, chẳng phải chạm vào hòn nào cả, mà chỉ là cái tiếng "bục" của sóng thác nó thúc vào đấy thôi. Thấy tôi quá xúc cảm với sông Đà, ông lái cười cười. Ông lõa lồ dưới nắng, đúng cái hình khỏa thân những thủy thủ chân chính trên sông vượt thác nặng, vừa chèo, vừa chống, vừa nhảy xuống dòng mà vần đò mà bốc đò. Tay tôi đang ôm cái quần tràm của ông lái quăng vội vào khoang. Liền vụt nhớ tới tục ngữ phương ngôn: Thuận buồm xuôi gió, chén chú chén anh/ Lên thác xuống ghềnh, bòi tôi dái chú. Hình như từ mấy trăm mấy nghìn năm nay, cứ đến cái thác này, là nhà đò Tây Bắc chính cống đều tung hê hết cả quần dài quần cộc mà lao vào nước, mà quần nhau hồi lùng với sóng thác. Trống tay chèo nào cũng như là thần sông hiện lên giúp người qua sông và độ thác. Tất cả, như mẫu người của một khóm tượng đồng đen. Nước sông ròng ròng tuôn từ cổ xuống vai xuống đùi các pho tượng sống. Và nắng đang bốc hơi trên những tấm lưng tấm ngực cháy kia.
![]() |
| Hoa ban sông Đà nở kia và chờ sẵn ở bờ sông mà động viên thêm cho cuộc sống mới trên mặt sông thượng ngàn - Ảnh minh họa: Mai Thanh Hải / Báo Thanh Niên |
Trên đỉnh thác nguy hiểm chết người xé bè tan thuyền đó, hoa ban nở trắng phau. Mấy chỗ thác đoạn sông dưới, ban nở rộ. Mấy con thác đoạn sông trên này, vẫn ban pún. Tôi không phải là người không biết chơi hoa, nhưng mấy ngày xuân trên sông Đà, nhìn bờ hoa trải trắng lên tường xanh vách sông nguồn, tôi nhiều lúc thấy khó chịu. Hoa trên bờ cao như đang cợt rỡn vái cái khổ của bọn này lụi hụi dưới lòng nước gian nan. Đầu khoang đò phía trước, một anh còn đùa to: "Các cậu nhìn kìa, trông ban pún nở rộ cả cây, giống cái kiểu Vân Dại sắp hát bài chèo con mụ điên!" Tôi gạt đi khỏi nhỡn quan tôi cái hình tượng vành hoa tóc lộn Vân Dại cười ở cửa rừng. Sông dài, rừng sâu, núi cao, thiên nhiên Tây Bắc thoáng qua một cái, là đủ thấy cái hùng vĩ của tạo vật. Từ khi nổi lên ở bờ này cái rừng nguyên thủy sơ đầu, và từ khi dềnh lên ở chỗ bãi đá này cái dòng sông Đà sáng thế, cây cỏ có lẽ vẫn rờn rờn một màu diệp lục bất tuyệt ấy. Cho đến cái ngày hậu lai trước mắt của thế giới vô sản đại đồng, cho tới lúc tất cả Phi Á Mỹ Âu cùng hát bài đồng ca lên khẩn hoang Mặt Trăng và Sao Hỏa, có lẽ sông Đà rừng vẫn xanh như thế, và nước sông cũng vẫn xanh như thế.
Nhưng, trên cái xanh um tự nhiên đó, nếu từ trước tới giờ nó chỉ có bấy nhiêu thôi, thì từ nay trở đi, nó càng phải có những cái gì khác nữa do bàn tay con người thêm vào. Hôm nay, mới chỉ là một mái ngói đỏ màu son nhì của cửa hàng mậu dịch bến Tà Bú. Và ngày mai đây, là tiếng còi tàu thủy trên sông Đà. Nghĩ cho cùng, cũng không thể sống khác được: Sông Đà phải nổi còi tàu lên đi thôi. Hôm nay cái thuyền én thô sơ của đoàn chúng tôi chưa có còi điện còi hơi nước, chưa có chân vịt máy, nhưng nhất định rồi chỗ sông này, ghềnh này, thác này, phải nổi còi lên, tàu thủy ngược sông Bờ qua đây phải rúc còi tu tu lên. Người xưa đánh trống thúc cho hoa nở. Nay, hoa ban sông Đà nở kia và chờ sẵn ở bờ sông mà động viên thêm cho cuộc sống mới trên mặt sông thượng ngàn.
| Thật là một sự kỳ diệu do hoa Tây Bắc thức dậy trong lòng tôi đang dào dạt như cả một dòng xuân sông Đà. Tôi như bừng thấy cái chân lý của hoa ban, một cái chân lý dung dị của hoa trắng thần thoại Tây Bắc. Hoa trên đỉnh thác như chuyện vãn với người đi dưới sông sóng. |
Ngược sông Đà, nếu có những lúc tôi hơi bực mình vì hoa ban, thì hôm xuôi sông Đà, tôi không thấy mảy may cái điều ấy nữa. Hình như chuyến lên chưa hiểu hết, thì chuyến về này đã hiểu hơn. Hoa vẫn nở trắng đều, cái thác đá dưới chân rừng hoa vẫn làm vỡ bè và chết người đi nhầm luồng, nhưng tôi thấy trong tôi có một cái gì không hoàn toàn giống cái điều của bữa nọ, Không, không phải vì chuyến ngược thì vất vả lao động chèo chống dài ngày, và xuôi thì thuận dòng, vèo một cái là về bến cũ ngay, không còn có gì là khó nữa. Không, chính xuôi thác mới lại hay chết người. Nó như là kiểu đường bộ, tai nạn trên đèo, không phải ở lúc lên đèo, mà thường hay xảy ra những lúc lao dốc. Kia kìa, cái xác thuyền ép dẹp vào gồ đá thác Bung Sung trước mặt kia là một cái chết xảy ra mới vài hôm nay lúc lao thuyền xuống, chứ không phải lúc ngược lên. Tôi lại còn nghiệm thêm một điều nữa. Là cứ ở những con thác nào hay cướp đò và cướp mạng người nhất, thì y như ở đấy hoa ban nở hết cánh hết cành, hết cây, nở cho kỳ hết cả cái cỡ rừng chỗ đó. Thế mới quái ác chứ. Hôm lên, anh gì bảo nó tờ tợ con mẹ Vân Dại cười điên trên đỉnh núi, thấy cũng phần nào có cái lẽ đúng của nó. Nhưng mà nhìn hoa ban mùa xuân nở trên sông Đà, cái niềm vui gì đang bừng mở trong tôi? Thật là một sự kỳ diệu do hoa Tây Bắc thức dậy trong lòng tôi đang dào dạt như cả một dòng xuân sông Đà. Tôi như bừng thấy cái chân lý của hoa ban, một cái chân lý dung dị của hoa trắng thần thoại Tây Bắc. Hoa trên đỉnh thác như chuyện vãn với người đi dưới sông sóng. Tôi nở để chờ các anh đấy! Các anh lên đây, tôi vui vẻ chào. Các anh xuôi về, tôi cũng chào, không kém phần vui vẻ, bởi vì rằng thuyền khảo sát của các anh các chị về chuyến này để rồi lại còn lên nữa, lên nhiều chuyến nữa. Trên sông Đà tôi nở nhiều hoa để còn chào nhiều chuyến thuyền tương lai nữa. Con sông này vốn là con sông khó. Nó còn thơ dại. Nó khỏe nhưng chưa biết thế nào là ác là thiện. Các anh ngày càng tìm hiểu nó, nó sẽ trở nên thông minh được, và sẽ giúp ích nhiều cho Tây Bắc đấy. Thời gian bao giờ cũng ủng hộ cuộc giao hoan giữa thiên nhiên và con người. Thiên nhiên Tây Bắc lớn đẹp như kia, nó động viên các anh lớn đẹp lên theo nó đấy. Có cái trí tuệ xã hội chủ nghĩa của các anh các chị, sông này núi này sẽ lành hơn, tốt hơn, đẹp hơn. Mỗi mùa xuân, tôi cứ nở sẵn ở hai bờ, dành những lời chào mừng tươi sáng nhất cho những người chiến thắng từng bước con sông dưới chân tôi kia. Mùa xuân này, tàu chưa chạy. Nhưng mùa xuân sau, mùa xuân sau nữa, còi tàu thủy các anh sẽ vọng lên chỗ rừng hoa này. Cái lòng tin của tôi đó, chính là nhựa xuân làm cho tôi năm năm đều đặn mà nở mà chờ ở suốt dọc đường sông Đà này.