Sự kiện & Bình luận

Khi thi ca hành trình cùng đất nước

Nguyễn Việt Chiến
Tiếng nói nhà văn 08:00 | 25/09/2026
Baovannghe.vn - Đã nhiều đêm tôi băn khoăn tự hỏi: phải lý giải sao đây khi thơ hiện đại mỗi ngày một thiếu độc giả? Phải chăng tiếng nói của nhà thơ chưa phải là tiếng nói của số đông?
aa

Phải chăng tiếng nói của nhà thơ chưa rung động, chưa lôi cuốn được mọi người nên đã không có được sự cộng hưởng tri âm trong lòng người đọc? Những câu hỏi này, xin mỗi người làm thơ hôm nay tìm lời giải.

Khi thi ca hành trình cùng đất nước
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến. Ảnh NVCC

Những băn khoăn trên càng chứng minh, trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có dòng thơ nào mang sức nặng tinh thần lớn lao như thơ viết về đất nước trong chiến tranh và từ chiến tranh đi tới hòa bình. Ở đó, thi ca không đứng ngoài vận mệnh dân tộc mà trở thành tiếng nói đồng hành với nhân dân qua những năm tháng khốc liệt nhất. Điều ấy có thể nhìn thấy rõ trong sáng tác của các nhà thơ: Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Chính Hữu, Chế Lan Viên, Tố Hữu, Vũ Cao, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu… đã làm nên một hành trình lớn của Tổ quốc đi qua đau thương, máu lửa, hy sinh, để khẳng định phẩm giá, sức sống và vẻ đẹp bất diệt của con người Việt Nam.

Còn vọng mãi đến hôm nay, những câu thơ giàu tính sử thi trong bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã dựng lên hình tượng đất nước trong đau thương nhưng không chịu khuất phục.

“Nước chúng ta

Nước những người chưa bao

giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về!

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

...

Xiềng xích chúng bay không

khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không

bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà!”

Cũng với cảm xúc bi tráng như vậy, đến Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, hình tượng người chiến sĩ Giải phóng quân được khắc họa như một biểu tượng lớn khi người chiến sĩ vô danh không để lại tên tuổi, địa chỉ nhưng để lại “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”. Cái dáng đứng ấy là tư thế chiến đấu, tư thế hy sinh, tư thế bất tử của dân tộc:

“Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức

thành đồng

Như đôi dép dưới chân

Anh giẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị,

sáng trong

Không một tấm hình, không một

dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng

Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ:

Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.

Tên Anh đã thành tên đất nước

Ôi anh Giải phóng quân!

Từ dáng đứng của Anh giữa

đường băng Tân Sơn Nhứt

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.”

Còn nhà thơ Thanh Thảo trong Những người đi tới biển lại nói về chiến tranh bằng giọng suy tư sâu sắc của một thế hệ tự ý thức về sự hy sinh với những câu thơ:

“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

(Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi

thì còn chi Tổ quốc?

Cỏ sắc mà ấm quá, phải

không em...”

Với nhà thơ Hữu Thỉnh, sau mỗi trận đánh, điều đáng nhớ không chỉ là chiến thắng mà là vẻ đẹp bình dị của người lính, nó cho thấy mục đích cuối cùng của chiến đấu không phải là hủy diệt, mà là bảo vệ sự sống, đem lại mùa màng, bình yên cho nhân dân:

“Khi bản Đông thành một nấm mồ

Những hãng phương Tây đưa tin

nhớn nhác:

- Chưa bao giờ những binh đoàn

thiết giáp

Của đối phương lại áp đảo như đây

Sau bản Đông giải phóng vài ngày

Tôi với chiến sĩ xe tăng cầu

Chaki tắm mát

Một số anh thì đuổi nhau trên cát

Một số anh thì đổ dế, hái hoa

Các anh không nói nhiều về

chiến thắng những ngày qua

Chỉ mong mưa cho đồng bào

gieo lúa.”

Với nhà thơ Phạm Tiến Duật, cánh đại bàng của thi ca Trường Sơn thì chiến tranh hiện lên qua hình ảnh những đoàn quân ra trận, nhưng giữa đường hành quân vẫn có tình yêu nối liền hai phía Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây với niềm tin, hậu phương và tiền tuyến:

“Trường Sơn Tây anh đi, thương em

Bên ấy mưa nhiều, con đường

gánh gạo

Muỗi bay rừng già cho dài tay áo

Rau hết rồi, em có lấy măng không?

Em thương anh bên Tây mùa đông

Nước khe cạn, bướm bay lèn đá

Biết lòng anh say miền đất lạ

Chắc em lo đường chắn bom thù.

Từ nơi em gửi đến nơi anh

Những đoàn quân trùng trùng ra trận

Như tình yêu nối lời vô tận

Đông Trường Sơn, nối

Tây Trường Sơn.”

Đáng chú ý, nhà thơ Lưu Quang Vũ trong bài thơ Tiếng Việt đã mở rộng tình yêu Tổ quốc sang tình yêu ngôn ngữ. Với ông, tiếng Việt là dòng sông thương mến, là vị muối chung của lòng biển mặn, bài thơ vì thế vừa tha thiết vừa đau đáu, nhắc rằng giữ tiếng nói dân tộc cũng là giữ linh hồn đất nước:

“Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển

Có gọi thầm tiếng Việt mỗi

đêm khuya?

Ai ở phía bên kia cầm súng khác

Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ

Quên nỗi mình quên áo mặc

cơm ăn

Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá

Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình...”

Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm trong Những câu thơ viết đợi mặt trời đem vào thơ chiến tranh một tâm hồn trẻ trung, trong sáng và giàu mơ ước, thơ của ông vì thế có vẻ đẹp vừa chiến sĩ vừa sinh viên, vừa lãng mạn vừa tha thiết:

“Cuối cánh rừng, rơi xuống mấy

ngôi sao

Ngày mai ở đấy sẽ bay lên tiếng hát

Chung quanh đây nhiều hố bom

rách nát

Chung quanh đây nhiều chồi non

dịu mát

Sẽ là nơi tôi thức đợi mặt trời.

Sẽ là nơi tôi hát và đánh giặc

Đồng đội ơi! Thương mến đến

không cùng

Con suối hát những điều tôi chửa hát

Mưa rơi đều, tiếng rất nhỏ và rung.”

Còn nhà thơ Nguyễn Đức Mậu trong Màu hoa đỏ tiếp tục viết về người lính bằng cảm hứng tưởng niệm. Màu hoa ấy là màu máu, màu ký ức, màu bất tử. Sự hy sinh của người lính hóa thành vẻ đẹp của núi rừng, thành ngọn lửa đỏ trong tâm thức dân tộc:

“Có người lính mùa thu ấy ra đi

từ mái tranh nghèo

có người lính mùa xuân ấy ra đi

từ ấy không về

Dòng tên anh khắc vào đá núi

mây ngàn hóa bóng cây che

chiều biên cương trắng trời sương

núi mẹ già mỏi mắt nhìn theo

Việt Nam ơi! Việt Nam!

núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc

bạc nỗi thương con

Việt Nam ơi! Việt Nam!

ngọn núi nơi anh ngã xuống

rực cháy lên màu hoa đỏ phía

rừng xa rực cháy lên màu hoa đỏ

trước hoàng hôn...”

Với Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã đưa hành trình thi ca đất nước ra biển đảo. Nếu thơ kháng chiến trước đây thường gắn với rừng núi, đồng bằng, chiến hào, thì ở đây Tổ quốc hiện lên qua một hòn đảo giữa biển trời, nơi “đến một cái gai cũng không sống được”. Những người lính đảo sống trong thiếu thốn khắc nghiệt, nhưng chính họ làm nên sự hiện diện của Tổ quốc:

“Lều bạt chung chiêng giữa nước,

giữa trời

Đến một cái gai cũng không

sống được

Sớm mở mắt, nắng lùa ngun ngút

Đêm trong lều như trôi trong mây...

Những con chim kỳ quái thấy

hơi người

Mừng rỡ quá, cánh bay như bão thốc

Chỉ tiếng cánh chim bay quanh lều

nghe đã căng nhức óc

Sủi tăm dưới chân sàn, bóng mập

lượn vòng quanh...

Đảo tự giấu mình trong màu nước

lam xanh

Cái giọt máu thiêng dưới ngầu

ngầu bọt sóng

Tổ quốc ơi! Tiếng chúng tôi kêu lên

mà mắt chúng tôi nhìn xuống

Bóng chúng tôi trùm khắp đảo

Thuyền Chài…”

Còn rất nhiều bài thơ hay của các nhà thơ yêu nước khác, cho ta thấy chiến tranh đã đi qua, nhưng thi ca vẫn còn ở lại như chứng tích tinh thần của một thời đại. Chúng không chỉ ghi lại lịch sử, mà còn làm cho lịch sử có linh hồn. Đó chính là sức mạnh bền lâu của thi ca khi hành trình cùng dân tộc, để giữ lại vẻ đẹp con người, và tiếp tục nâng đỡ tâm hồn đất nước trong hành trình hôm nay.

Đêm phương Nam - Thơ Huỳnh Thúy Kiều

Đêm phương Nam - Thơ Huỳnh Thúy Kiều

Baovannghe.vn- Ký ức nào còn sót lại ngã ba sông?/ Bầy cá linh đầu nguồn hồn nhiên nhảy múa
Cảm ơn cuộc sống - Thơ Trần Nhuận Minh

Cảm ơn cuộc sống - Thơ Trần Nhuận Minh

Basovannghe.vn- Bạn ít, hoạ cũng ít/ Cửa khép, phúc thêm đầy
Tín hiệu đáng mừng trên màn ảnh Việt

Tín hiệu đáng mừng trên màn ảnh Việt

Baovannghe.vn - Có lẽ đã lâu lắm rồi, tôi mới lại thấy một bộ phim giờ vàng khiến người thân trong gia đình ngồi kiên nhẫn trước màn hình, rồi cũng lại bắt gặp câu chuyện về nó trên xe buýt, giữa buổi chợ chiều.
Tự bạch - Thơ Trần Nhuận Minh

Tự bạch - Thơ Trần Nhuận Minh

Baovannghe.vn- Tôi sống trong cuộc đời như sống trong nhà mình/ Yêu thương cả những người từng làm tôi đau khổ
Cả nhà cùng về quê dịp Trung thu, VinFast VF MPV 7 đáp ứng ra sao?

Cả nhà cùng về quê dịp Trung thu, VinFast VF MPV 7 đáp ứng ra sao?

Baovannghe.vn - Với cấu hình 7 chỗ, chiều dài cơ sở 2.840 mm cùng quãng đường di chuyển 450 km mỗi lần sạc, VinFast VF MPV 7 đáp ứng tốt những chuyến đi đông người của gia đình nhiều thế hệ.