Phải chăng tiếng nói của nhà thơ chưa rung động, chưa lôi cuốn được mọi người nên đã không có được sự cộng hưởng tri âm trong lòng người đọc? Những câu hỏi này, xin mỗi người làm thơ hôm nay tìm lời giải.
|
Những băn khoăn trên càng chứng minh, trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có dòng thơ nào mang sức nặng tinh thần lớn lao như thơ viết về đất nước trong chiến tranh và từ chiến tranh đi tới hòa bình. Ở đó, thi ca không đứng ngoài vận mệnh dân tộc mà trở thành tiếng nói đồng hành với nhân dân qua những năm tháng khốc liệt nhất. Điều ấy có thể nhìn thấy rõ trong sáng tác của các nhà thơ: Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Chính Hữu, Chế Lan Viên, Tố Hữu, Vũ Cao, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu… đã làm nên một hành trình lớn của Tổ quốc đi qua đau thương, máu lửa, hy sinh, để khẳng định phẩm giá, sức sống và vẻ đẹp bất diệt của con người Việt Nam.
Còn vọng mãi đến hôm nay, những câu thơ giàu tính sử thi trong bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã dựng lên hình tượng đất nước trong đau thương nhưng không chịu khuất phục.
“Nước chúng ta
Nước những người chưa bao
giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về!
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
...
Xiềng xích chúng bay không
khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không
bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà!”
Cũng với cảm xúc bi tráng như vậy, đến Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, hình tượng người chiến sĩ Giải phóng quân được khắc họa như một biểu tượng lớn khi người chiến sĩ vô danh không để lại tên tuổi, địa chỉ nhưng để lại “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”. Cái dáng đứng ấy là tư thế chiến đấu, tư thế hy sinh, tư thế bất tử của dân tộc:
“Anh tên gì hỡi Anh yêu quý
Anh vẫn đứng lặng im như bức
thành đồng
Như đôi dép dưới chân
Anh giẫm lên bao xác Mỹ
Mà vẫn một màu bình dị,
sáng trong
Không một tấm hình, không một
dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng
Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ:
Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.
Tên Anh đã thành tên đất nước
Ôi anh Giải phóng quân!
Từ dáng đứng của Anh giữa
đường băng Tân Sơn Nhứt
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.”
Còn nhà thơ Thanh Thảo trong Những người đi tới biển lại nói về chiến tranh bằng giọng suy tư sâu sắc của một thế hệ tự ý thức về sự hy sinh với những câu thơ:
“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
(Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi
thì còn chi Tổ quốc?
Cỏ sắc mà ấm quá, phải
không em...”
Với nhà thơ Hữu Thỉnh, sau mỗi trận đánh, điều đáng nhớ không chỉ là chiến thắng mà là vẻ đẹp bình dị của người lính, nó cho thấy mục đích cuối cùng của chiến đấu không phải là hủy diệt, mà là bảo vệ sự sống, đem lại mùa màng, bình yên cho nhân dân:
“Khi bản Đông thành một nấm mồ
Những hãng phương Tây đưa tin
nhớn nhác:
- Chưa bao giờ những binh đoàn
thiết giáp
Của đối phương lại áp đảo như đây
Sau bản Đông giải phóng vài ngày
Tôi với chiến sĩ xe tăng cầu
Chaki tắm mát
Một số anh thì đuổi nhau trên cát
Một số anh thì đổ dế, hái hoa
Các anh không nói nhiều về
chiến thắng những ngày qua
Chỉ mong mưa cho đồng bào
gieo lúa.”
Với nhà thơ Phạm Tiến Duật, cánh đại bàng của thi ca Trường Sơn thì chiến tranh hiện lên qua hình ảnh những đoàn quân ra trận, nhưng giữa đường hành quân vẫn có tình yêu nối liền hai phía Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây với niềm tin, hậu phương và tiền tuyến:
“Trường Sơn Tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường
gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không?
Em thương anh bên Tây mùa đông
Nước khe cạn, bướm bay lèn đá
Biết lòng anh say miền đất lạ
Chắc em lo đường chắn bom thù.
Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Đông Trường Sơn, nối
Tây Trường Sơn.”
Đáng chú ý, nhà thơ Lưu Quang Vũ trong bài thơ Tiếng Việt đã mở rộng tình yêu Tổ quốc sang tình yêu ngôn ngữ. Với ông, tiếng Việt là dòng sông thương mến, là vị muối chung của lòng biển mặn, bài thơ vì thế vừa tha thiết vừa đau đáu, nhắc rằng giữ tiếng nói dân tộc cũng là giữ linh hồn đất nước:
“Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi
đêm khuya?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc
cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình...”
Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm trong Những câu thơ viết đợi mặt trời đem vào thơ chiến tranh một tâm hồn trẻ trung, trong sáng và giàu mơ ước, thơ của ông vì thế có vẻ đẹp vừa chiến sĩ vừa sinh viên, vừa lãng mạn vừa tha thiết:
“Cuối cánh rừng, rơi xuống mấy
ngôi sao
Ngày mai ở đấy sẽ bay lên tiếng hát
Chung quanh đây nhiều hố bom
rách nát
Chung quanh đây nhiều chồi non
dịu mát
Sẽ là nơi tôi thức đợi mặt trời.
Sẽ là nơi tôi hát và đánh giặc
Đồng đội ơi! Thương mến đến
không cùng
Con suối hát những điều tôi chửa hát
Mưa rơi đều, tiếng rất nhỏ và rung.”
Còn nhà thơ Nguyễn Đức Mậu trong Màu hoa đỏ tiếp tục viết về người lính bằng cảm hứng tưởng niệm. Màu hoa ấy là màu máu, màu ký ức, màu bất tử. Sự hy sinh của người lính hóa thành vẻ đẹp của núi rừng, thành ngọn lửa đỏ trong tâm thức dân tộc:
“Có người lính mùa thu ấy ra đi
từ mái tranh nghèo
có người lính mùa xuân ấy ra đi
từ ấy không về
Dòng tên anh khắc vào đá núi
mây ngàn hóa bóng cây che
chiều biên cương trắng trời sương
núi mẹ già mỏi mắt nhìn theo
Việt Nam ơi! Việt Nam!
núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc
bạc nỗi thương con
Việt Nam ơi! Việt Nam!
ngọn núi nơi anh ngã xuống
rực cháy lên màu hoa đỏ phía
rừng xa rực cháy lên màu hoa đỏ
trước hoàng hôn...”
Với Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã đưa hành trình thi ca đất nước ra biển đảo. Nếu thơ kháng chiến trước đây thường gắn với rừng núi, đồng bằng, chiến hào, thì ở đây Tổ quốc hiện lên qua một hòn đảo giữa biển trời, nơi “đến một cái gai cũng không sống được”. Những người lính đảo sống trong thiếu thốn khắc nghiệt, nhưng chính họ làm nên sự hiện diện của Tổ quốc:
“Lều bạt chung chiêng giữa nước,
giữa trời
Đến một cái gai cũng không
sống được
Sớm mở mắt, nắng lùa ngun ngút
Đêm trong lều như trôi trong mây...
Những con chim kỳ quái thấy
hơi người
Mừng rỡ quá, cánh bay như bão thốc
Chỉ tiếng cánh chim bay quanh lều
nghe đã căng nhức óc
Sủi tăm dưới chân sàn, bóng mập
lượn vòng quanh...
Đảo tự giấu mình trong màu nước
lam xanh
Cái giọt máu thiêng dưới ngầu
ngầu bọt sóng
Tổ quốc ơi! Tiếng chúng tôi kêu lên
mà mắt chúng tôi nhìn xuống
Bóng chúng tôi trùm khắp đảo
Thuyền Chài…”
Còn rất nhiều bài thơ hay của các nhà thơ yêu nước khác, cho ta thấy chiến tranh đã đi qua, nhưng thi ca vẫn còn ở lại như chứng tích tinh thần của một thời đại. Chúng không chỉ ghi lại lịch sử, mà còn làm cho lịch sử có linh hồn. Đó chính là sức mạnh bền lâu của thi ca khi hành trình cùng dân tộc, để giữ lại vẻ đẹp con người, và tiếp tục nâng đỡ tâm hồn đất nước trong hành trình hôm nay.