Diễn đàn lý luận

Lững thững một niềm thơ

Nguyễn Tham Thiện Kế
Chân dung văn học 18:01 | 07/11/2026
Baovannghe.vn - Mùa thu 1984, thư viện tỉnh Vĩnh Phú, đầu giờ chiều thứ bảy, tôi bỗng gặp một trong những thần tượng của mình ở vùng trung du.
aa

Hồi đó, tôi vừa giã từ lính biên giới về nhận việc ở phòng Xuất bản, Sở Văn hóa - Thông tin. Hơn chục nhân sự, ba tháng ra một số tạp chí Văn hóa Vĩnh Phú, cấp giấy phép xuất bản nhất thời. Thưa việc, chưa có mấy bạn nên tôi có mỗi thú đi thư viện lục sách, hóng báo chí mỗi buổi chiều. Bữa ấy, tôi bước vào phòng đọc thấy vắng teo, định toe toét cười trêu thủ thư Bích Hạnh thì chị đưa tay lên miệng “suỵt”, đánh mắt vào góc phòng đọc có cửa sổ lớn nhìn ra bãi cỏ bên hông tòa nhà. Nơi đó, một người đàn ông trung niên, áo cộc tay vải kẻ xanh, trán cao, tóc đen vắt ngôi trái, mũi cao, khuôn mặt trắng và đôi mắt sáng một cách khác thường, đang ngồi chú mục vào trang báo Văn nghệ. Cuốn sổ tay bìa nâu cài chiếc bút Trường Sơn nhựa nâu tím. Chiếc mũ vải úp cạnh chiếc cặp da bò cồng kềnh những khóa mạ và đai chằng.

Lững thững một niềm thơ
Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh

Nhận được tín hiệu phải thận trọng, tôi nín phắc, khẽ hỏi thì thào:

- Nhân vật nào đấy ạ?

- Em chưa biết thật à? Về được ba tháng rồi mà không biết nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh sao? Tuần nào mà anh ấy chẳng đến thư viện!

Trời đất. Tôi đâu có nghĩa vụ phải biết một ai đó nổi tiếng. Nhưng quả thực cái tên Nguyễn Đình Ảnh ít nhiều đã khiến tim tôi xốn xang. Ký ức tôi như được cởi niêm phong về những buổi Tiếng Thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Chỉ riêng bài Chào đất nước, sáng tác năm 1970, lần lượt được ca sĩ Phan Muôn trình diễn bằng giọng nam trung đến giọng ngâm chuông vàng huyền thoại của nghệ sĩ Vũ Kim Dung thể hiện, đã đủ tô son cho tên tuổi ông. Chưa kể những bài thơ lẻ ký tên Nguyễn Đình Ảnh xuất hiện thường xuyên trên tạp chí Văn nghệ quân đội, tạp chí Sáng tác mới, báo Văn nghệ, báo Quân đội nhân dân, đã đồng hành với tôi suốt bao năm quân ngũ.

Thời mà tác giả có bài đăng báo là cả một sự kiện. Ba, bốn tác giả gộp dồn in chung thi phẩm, xếp hàng dăm năm mới đến lượt ra tập sách mỏng không in nổi chữ gáy bìa... Vậy mà cái tên Nguyễn Đình Ảnh quý nào cũng chình ình trên các ấn phẩm. Giờ đây, ông bằng xương bằng thịt ngồi trước tôi - một kẻ ham danh chữ tuổi đôi mươi, thực sự đã tạo nên một làn sóng hâm mộ cuồng nhiệt.

Ở thời khắc mà hình ảnh thi nhân trong tôi đang nhuốm màu huyền bí ấy, thì hành động tiếp theo của nhà thơ lại khiến tôi xây xẩm mặt mày vì ngỡ ngàng. Vâng, người thơ dừng bút ghi, với tay kéo chiếc cặp da sáp căng phồng như con ba ba sắp đẻ trứng, lạch xạch mở khóa. Cái nắp cặp lật ngửa, bàn tay vừa cầm bút xong đã thận trọng bày ra mặt bàn một loạt “báu vật”: một “móm” cọ đựng trám đen - ống điếu thuốc lào bỏ túi có cái nõ nhôm đúc sáng nhoáng dài hơn gang tay, và một hộp sắt tây để đựng thuốc lào. Đã hết đâu, rồi “kịch” một phát, chiếc nậm rượu sứ men lam dộng xuống mặt bàn gỗ lim, miệng bọc đồng vàng, nút bần rượu vang được gọt lại, đi kèm là một chiếc chén mắt trâu bạch định. Khề khà, nhà thơ xoay xoay hộp thuốc lào, nhón rút vài sợi, nhồi chặt vào nõ rồi lom khom lách qua mấy hàng ghế và dãy bàn trống. Ông đi vòng ra phía ngoài hành lang đầu hồi, ghé lưng lên thành bồn hoa sặc sỡ những bông hoa bóng nước và mười giờ. Trên tay ông bỗng xuất hiện chiếc bật lửa và vỏ bao diêm xé mảnh thay cho đóm tre ngâm. Bặm chặt miệng, đôi mắt nhắm tịt, khói thuốc lào đùn ra trắng xóa như bếp mới nhóm củi ướt… Hút một nõ còn khả dĩ, đằng này nhà thơ “thiêu” liền hai bi. Khói chưa kịp tan, hai tay ông đã quờ quạng như vồ chuồn chuồn trong không khí, người lắc lư, mồ hôi vã ra, mắt lờ đờ đảo lên toàn lòng trắng. Ôi, hình tượng thanh tao của nhà thơ sụp đổ trong tôi như bù nhìn trát bùn rơm gặp mưa rào. Lát sau, nhà thơ lại lững thững trở vào phòng đọc. Lại ghi chép. Lại đứng lên ngồi xuống lượn quanh các ô ngăn chứa báo chí. Chỉ đến khi ông rót rượu. Cầm chiếc chén sứ bạch định nâng ngang mặt - một hình ảnh tao nhã mà tôi mang máng thấy trong bức ảnh chân dung mờ nhòe của cụ Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Thao tác xoay chén rượu, thẩm vị, định hương hồi lâu mới ghé môi nhấp, gọi là một sự tiếp hơi nhận khí, thì cảm xúc kính ngưỡng của tôi dành cho nhà thơ mới thực sự quay trở lại.

Ngôi nhà đồi gió reo, nắng rải và cây trĩu trái của Nguyễn Đình Ảnh chẳng mấy khi vắng tiếng nói cười. Đặc biệt là khách văn chương, bè bạn thân thiết thì ông chẳng bao giờ thiếu. Những Bằng Việt, Đỗ Chu, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai… hễ có dịp đi công tác mạn ngược, cứ qua ngả Việt Trì là bao giờ cũng phải tạt vào ghé thăm ông để đàm đạo thơ văn, thời thế.

Không hiếm khách văn cùng ông bình tán chữ nghĩa, rù rì dẫn trích, tranh biện quên thời gian. Nhưng đến bữa, vợ ông vẫn bưng mâm cơm có cá kho, đậu rán, canh cua, cà pháo cùng chai rượu nút lá chuối, giục giã mươi lần họ mới chịu xoa tay ngãng ra, thưa mời bạn chén rượu nhạt.

Ông giữ chức Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1997-2002, là thời điểm hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc vừa được tái lập. Dù đang đương chức Chủ tịch Hội, hằng ngày ông vẫn lọ mọ với dáng người mỗi ngày một khòm, tự đi bộ từ nhà ra cơ quan. Tự đun nước. Tự lấy sách báo. Rồi lại ghi ghi chép chép. Những cuốn sổ tay của ông cứ mỗi ngày một dày thêm. “Cứ vui như thế buồn như thế/ Ai biết ngày mai sẽ thế nào.” Dù có làm gì hay gặp hoàn cảnh ngặt nghèo đến mấy, ông lúc nào cũng giữ vẻ điềm tĩnh: Áo bỏ thùng, dây lưng cài khít quanh eo, quần là phẳng phiu, chiếc mũ đã chuyển màu rêu dạ mịn, và đôi dép xăng đan chầm chậm bước. Dường như mỗi bước chân cắm cúi của ông là một nốt dấn sâu vào những ý nghĩ văn chương mung lung nào đó. Chỉ khi nào phải sang tỉnh họp hành, người ta mới thấy ông chỉnh tề ngồi ô tô, thắt cà vạt, mặc áo sơ mi trắng và đi đôi giày mõm ngóe. Tiền kinh phí cấp trên phân bổ thế nào thì ông gói ghém dùng thế ấy. Ông không bao giờ hạ mình chạy chọt, và cũng chẳng biết chạy đường đi nước bước sau hậu trường, càng không bịa tạc lý do để xin kinh phí mở các trại sáng tác nhưng chủ yếu chỉ để giao lưu. Ông tùng tiệm, chắt chiu sao cho đủ ra tạp chí, đủ đầu tư cho các hội viên có bản thảo tốt được xuất bản, và đủ để tổ chức hội họp đầu năm cuối năm là đã viên mãn.

Nguyễn Đình Ảnh vốn là môn sinh của trường Cấp III Hùng Vương (thị xã Phú Thọ) - ngôi trường trung học đầu tiên của đất tổ, cũng là một trong 7 ngôi trường trung học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là bạn đồng tuế với nhà thơ Phạm Tiến Duật. Thời đi học, khi tham gia cuộc thi giải toán khó trên báo Người giáo viên nhân dân, Nguyễn Đình Ảnh đã xuất sắc ẵm giải Nhất nhờ một lời giải bằng thơ độc đáo có một không hai. Sự kiện ấy vang dội đến mức, đích thân nhà thơ Xuân Diệu lặn lội lên tận trường để trao giải thưởng cho người học trò đặc biệt này. Chẳng biết có phải do cú huých định mệnh đó hay không mà từ một cậu học sinh chuyên toán, Nguyễn Đình Ảnh bỗng quay ngoắt để trở thành một tín đồ trung thành của thi ca.

Bước chuyển tiếp trong cuộc đời đưa ông đến với khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - một trong những cái nôi học thuật nghiêm cẩn và danh tiếng thời bấy giờ. Sau đó, ông nhập ngũ, trưởng thành và nổi tiếng trong màu áo Quân chủng Phòng không - Không quân, là bạn đồng ngũ với những tên tuổi lẫy lừng như Đỗ Chu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Trí Huân… Khi tiếng súng chiến tranh khép lại, người lính ấy lựa chọn trở về quê hương, lặng lẽ phụng sự cho phong trào văn nghệ tỉnh nhà.

Ông sớm nổi tiếng và được bạn bè, đồng nghiệp trân quý. Đặc biệt, khi bài thơ Trước cổng trời của ông được lựa chọn đưa vào giảng dạy trong chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, rất nhiều người đã đến chúc mừng. Thế nhưng, trước vinh dự ấy, ông chỉ cười buồn rồi đáp:

- Ừ, thì cũng gọi là vui. Nhưng một tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa không có nghĩa là nó đã được bảo đảm về giá trị nghệ thuật. Đôi khi, nó chỉ đáp ứng đúng các tiêu chí về mặt ngữ liệu sư phạm, thuộc về một chủ đề nào đó mà thôi. Nhà văn, nhà thơ thực sự thì đừng nên coi việc được đưa vào sách giáo khoa là thước đo.

Giữa đám đông, ông không bao giờ tỏ ra vượt trội hay lớn tiếng. Ông thường chọn một góc chẳng ai để ý, loay hoay với chiếc điếu thuốc lào bỏ túi hoặc mở sổ ghi chép, chú giải thêm điều gì đó. Thế nhưng, mỗi khi trong cuộc gặp gỡ xảy ra tranh luận về văn chương, cần phân giải đúng sai các dữ kiện lịch sử hay điển tích, ai đó lại nháo nhác bảo:

- Ông Ảnh đâu nhỉ? Chuyện này phải hỏi “Y-sức-un” thì mới ra ngô ra khoai!

Lúc ấy, ông mới sực ngẩng lên, ngơ ngác:

- Cái gì thế…?

Khi được mọi người kể lại câu chuyện tường tận ngọn ngành, ông chỉ cần phán một câu ngắn gọn là đám cãi vã lập tức im bặt, ai nấy đều tâm phục khẩu phục.

Nguyễn Đình Ảnh tuyệt nhiên không bao giờ hòa mình vào những cuộc chuyện trò thị phi. Trong những cảnh huống ấy ông lặng lẽ cầm lấy chiếc điếu cày bỏ túi, kéo lệch chiếc mũ vải trên đầu rồi lẳng lặng bước ra ngoài.

Đóng góp thực sự của ông không hề dừng lại ở những bài thơ khiêm tốn được truyền thông tung hô từ những ngày đầu cầm bút. Di sản ông để lại dày dặn và đa dạng hơn thế nhiều. Nó nằm ở tầng thứ hai nếu phân định vị thế trong dòng chảy thơ ca chiến trận, thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội cho đến giai đoạn đổi mới và hội nhập, đặt cạnh những tên tuổi như: Trúc Thông, Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu, Trần Nhuận Minh… Bởi ở vị trí đỉnh cao phía trên đã là những cây đại thụ như Nguyễn Khoa Điềm, Trần Mạnh Hảo, Hữu Thỉnh, Thu Bồn, Thanh Thảo…

Chỉ riêng phần thơ về chức phận công dân được ông tiếp nối một cách dày dặn, khúc chiết với tư thế đàng hoàng, cao giọng - cái cao giọng được bảo chứng bởi học vấn và cảm xúc thời đại mang lại. Nó trải dài từ đời sống quân ngũ phổ khắp đất nước cho đến những miền quê hương Đất Tổ. Đi theo dấu chuyển dịch của số phận nhà thơ, phần di sản này đã đủ để làm nên diện mạo thơ ca của cả một vùng đất.

Mảng thơ tình của ông sâu sắc, chan chứa nỗi đau, sự hy sinh, mất mát mà vẫn vẹn nguyên tình yêu đời sống, một thế giới đẫm chất triết lý ẩn sau muôn vàn sắc màu tình cảm luôn chuyển dịch của con người. Tôi từng may mắn có thủ bút của ông chép tặng hai bài thơ tình nổi tiếng: bài Sắc cầu vồng và Cây tường vi mùa đông. Xung quanh hai bài thơ này có nhiều giai thoại, nhưng tôi xin phép không bàn sâu, chỉ xin dẫn lại trọn vẹn bài Sắc cầu vồng để thấy cái tình e ấp, nâng niu của thi sĩ: “Chỉ cách một dòng sông/ mà hóa hai vùng đất.../ Qua một cồn cát hẹp/ chiếc thuyền nan bềnh bồng/ chỉ sang bên kia sông/ là hai ta gặp mặt!/ Nhưng tôi vẫn chưa sang/ vì sao, em có biết?/ Em ở trong xa cách/ như một sắc cầu vồng/ tôi sợ... nhỡ qua sông/ sắc cầu vồng biến mất!”

Trong bài Lại nói với em về hạnh phúc, những câu chữ không thể giản dị hơn nhưng lại có sức lay động chúng ta mãnh liệt sau bao nhiêu năm tháng: “...Chiều quê hương gà rúc rích lên chuồng/ em cặm cụi ngồi thổi cơm dưới bếp/ Mưa. Khói ẩm, không thể bay lên được/ quấn quanh anh làm mắt cứ cay xè/ Những hạt lạc đỏ và tròn xoe/ cứ thơm dần lên khi nồi rang bén lửa/ anh bế con ngồi bên bậc cửa/ nhìn em, nhìn mãi, thế thôi!...”

Đặc biệt, với vốn văn hóa phong phú và tinh thần chịu đọc, chịu học, phần thơ viết về các danh nhân văn hóa thế giới cũng như những nghiệm sinh cuộc đời của Nguyễn Đình Ảnh luôn mang một giá trị cực kỳ sâu sắc. Dù muốn, tôi cũng không thể dẫn trích hết những bài thơ, những câu thơ của ông xứng đáng để chúng ta nghiền ngẫm, mang theo trong hành trình suy niệm về cõi nhân sinh - những câu thơ được bật ra từ nỗi đau trầm lặng, kín kẽ của kẻ sĩ luôn bị giằng co giữa nghĩa vụ thân phận và giấc mơ sáng tạo.

Không chỉ tiếp đón bạn bè văn chương phương xa, tư gia của Nguyễn Đình Ảnh còn là một “địa chỉ đỏ” cho những tâm hồn yêu thơ, những người làm thơ trẻ tuổi tìm đến để tầm sư học đạo. Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh vốn đã ưa tửu, lại được vợ tâm lý chiều chuộng, nên trong nhà chẳng khi nào cạn rượu, vơi lạc. Lạ thay, hầu như ai làm thơ ở xứ Việt này đương nhiên đều mê cái sự “thơ kèm rượu”. Đặc biệt là đám đệ tử thơ của ông, từ những gương mặt thuộc vệt gót cuối của thế hệ chống Mỹ như Trần Quang Quý, đến thế hệ chống chiến tranh biên giới như Nguyễn Hưng Hải, Ngô Kim Đỉnh, Vũ Khánh, Hải Thanh… rồi sau này là Phạm Việt Đức, Hà Thành… Ai nấy đều mang cái khí chất lãng tử của cánh đàn ông thời ấy: “Làm trai cho xứng nên trai/ Chai thì nửa lít, chai thì sáu lăm!” Thời đoạn đó, xét về uy tín nghề nghiệp và chữ nghĩa, Nguyễn Đình Ảnh đương nhiên là “chủ soái” của hội thơ ca Vĩnh Phú, cũng giống như nhà văn Sao Mai giương cao ngọn cờ bên mảng văn xuôi. Vì lẽ đó, các “đệ tử” thường xuyên mời thầy, hoặc chính thầy đứng ra triệu tập các trò để cùng nhau tạo nên những diễn đàn văn chương, tự hào khoe với nhau các sáng tác mới. Cái hay của Nguyễn Đình Ảnh là ông không bao giờ bắt ai phải rập khuôn theo lối thơ của mình, hay chịu ảnh hưởng từ phong cách của mình. Khi xem bản thảo, ông chỉ nhận xét thẳng thắn trên câu chữ thực tế, chỉ ra cái hay, cái dở bằng cảm quan nghệ thuật nghiêm cẩn.

Nguyễn Đình Ảnh đã sống và viết một đời kiêu hãnh tài hoa lẩn vào xúc cảm giọng điệu chung của thời đại, không quá chú tâm đến cái riêng của bản thân. Không ảo giác khuếch trương thành tựu cá nhân quá ngưỡng nhằm đánh bóng tên tuổi, nhằm hưởng sự đãi ngộ. Sự tưởng thưởng giờ đây với hương hồn ông cũng chỉ biết gửi vào khói mây, nhưng với hậu thế, chúng ta nợ ông một sự sòng phẳng của công tâm, và trên hết, đặc biệt với khu vực thơ ca vùng đất và cả những tài năng trẻ đã từng nhận được ở ông sự chia sẻ liên tài là một lòng biết ơn sâu sắc. Ông xứng đáng tưởng thưởng hơn rất nhiều những gì đã có.

“Muôn sắc Việt Nam” – bản hòa ca văn hóa dân tộc

“Muôn sắc Việt Nam” – bản hòa ca văn hóa dân tộc

Baovannghe.vn - Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Muôn sắc Việt Nam” có quy mô quốc gia, là một trong những sự kiện trọng tâm trong chuỗi hoạt động chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam, diễn ra vào 20h ngày 24/11
Lễ hội Văn hoá Ẩm thực Quốc tế Hà Nội "Bừng vị năm châu" 2026

Lễ hội Văn hoá Ẩm thực Quốc tế Hà Nội "Bừng vị năm châu" 2026

Baovannghe.vn - Với chủ đề “Bừng vị năm châu - Chung nhịp toàn cầu”, Lễ hội mang đến không gian trải nghiệm ẩm thực đa dạng, đại nhạc hội sôi động và nhiều hoạt động giao lưu văn hóa nổi bật, dự kiến thu hút 150.000 lượt khách.
Và một cuộc đời - Thơ Bùi Kim Anh

Và một cuộc đời - Thơ Bùi Kim Anh

Baovannghe.vn- Tôi sống trong ngôi nhà/ Có tiếng cười vui khi chiều về/ Tiếng bát đũa va nhau mạnh mẽ
Đổi mới giáo dục nghệ thuật từ tư duy hệ sinh thái

Đổi mới giáo dục nghệ thuật từ tư duy hệ sinh thái

Baovannghe.vn - Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 4 với chủ đề “Hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật Việt Nam trong kỷ nguyên số”, do Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương tổ chức ngày 6/11, tại Hà Nội.
Thông cáo báo chí số 19, Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội Khóa XVI

Thông cáo báo chí số 19, Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội Khóa XVI

Baovannghe.vn - Thứ Sáu, ngày 06/11/2026, ngày làm việc thứ mười chín, Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI diễn ra tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.