![]() |
| Nhà thơ Võ Văn Trực (1936-2019). Ảnh: TGCC |
Nhà thơ Võ Văn Trực nổi tiếng ít nói, khi đã không hứng khởi hoặc không được kích hoạt đúng chỗ ông có thể im lặng cả tiếng đồng hồ. Biết vậy nên một lần Võ Văn Trực đến chơi nhà, Nguyễn Bùi Vợi - một nhà thơ đồng hương xứ Nghệ của ông mới “tương kế tựu kế”, pha trà xong bắt chước bạn không nói một lời, lặng lẽ ngồi “độc ẩm”. Trong lúc đó Võ Văn Trực mắt dán vào tờ báo, thỉnh thoảng đưa tay tìm chén trà nhấp miệng. Hai người cứ ngồi như thế lâu lắm. Đột ngột Võ Văn Trực đứng dậy, bảo:
- Mình về đây.
Nguyễn Bùi Vợi vẫn không nói một lời, đứng dậy lặng im tiễn bạn. Khi bóng khách khuất sau cánh cửa, bà Đỗ Thị Từ vợ ông Vợi lo lắng quay ra hỏi chồng:
- Anh với anh Trực giận nhau đấy à?
Ông Vợi cười phá lên:
- Giận gì đâu, nhưng thấy nó cứ im im, anh cũng im im cho nó chừa.
- Thế đã chừa chưa? - Bà Từ hóm hỉnh.
- Còn lâu nhé. Bắt cóc mở miệng còn dễ hơn bắt Võ Văn Trực nói, chơi với nhau bao nhiêu năm anh biết. Tính Trực lầm lì, ít nói nhưng đồng cảm, sâu sắc. Đã kết giao với ai là thủy chung như nhất, không bao giờ phản bạn…
Ít nói đi đôi với vụng giao tiếp. Bà Oanh vợ ông kể, hồi hai người đang yêu nhau, mỗi lần về nhà bà ở Phủ Lý, Hà Nam chơi. Tới nhà, việc đầu tiên của ông không phải là chào hỏi nhạc phụ nhạc mẫu tương lai, mà lấy chiếc khăn mặt trong túi ra vắt vai sau đó xăm xăm đi ra giếng nước rửa ráy mặt mũi chân tay, xong không vội vào nhà, nhiều lúc còn thả bộ ngó nghiêng cây cối trong vườn nữa chứ. Người như thế mà năm 1961, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp văn Hà Nội được phân công về Bộ Ngoại giao công tác kể cũng là chuyện lạ. Nhưng Võ Văn Trực biết mình muốn gì, vì thế ông chạy đôn chạy đáo để thoát khỏi nơi ấy. Một năm sau, ông rời Bộ Ngoại giao về làm biên tập sách văn học, nhà xuất bản Thanh niên. Năm 1977 chuyển về báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam, làm biên tập thơ.
Ông quan niệm, biên tập là một nghề - cái nghề văn chương chữ nghĩa đòi hỏi sự tỉnh táo và tinh vi. Xuất bản có Luật Xuất bản, báo chí có Luật Báo chí. Bài vở dùng được cứ phải “sạch nước cản” trở lên. Cái nghề “quyền rơm” nhưng “vạ đá” này, thận trọng không bao giờ thừa. Tránh “vạ đá”, ông có thói quen, lâu dần thành nguyên tắc. Không bao giờ hứa hẹn với ai bất cứ điều gì trong lúc uống rượu bia. Và tuyệt đối không bao giờ bình phẩm khen, chê thơ của bất cứ ai khi họ đọc cho mình nghe và xin ý kiến mình trong lúc trà dư tửu hậu. Rượu, bia là “ma men”, mà đã là “ma” thì chớ có theo nó mặc “áo giấy”.
Năm 1981, tôi có dịp cảm thấu nguyên tắc này của ông. Năm ấy tôi đang học khóa I Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội với nhà thơ Nguyễn Tùng Linh. Sau tết Nguyên đán trở lại trường, một buổi chiều Nguyễn Tùng Linh rủ tôi đến nhà ông ở tầng 5, nhà B2, khu tập thể Trung Tự, đường Tôn Thất Tùng, quận Đống Đa chơi. Tùng Linh biết Võ Văn Trực qua bạn thơ Đào Cảng và chơi thân với ông khi đang ở Hải Phòng, còn tôi gặp ông lần đầu tiên. Gõ nhẹ ngón tay vào cánh cửa khép hờ, Tùng Linh hắng giọng gọi: “Anh Trực ơi!”, rồi kéo tôi bước vào. Chủ nhà vừa xong giấc ngủ trưa, đang ngồi ở bàn, quay lại hỏi: “Các ông đến chơi à?”, sau đó đứng dậy súc ấm pha trà. Đặt bộ bình trà giữa chiếc chiếu mộc trải trên nền nhà, Võ Văn Trực ngồi xuống, chúng tôi cũng ngồi xuống theo. Ông không hỏi tôi là ai, gặp ông có việc gì, loay hoay rửa ly, tráng ly, đổ thêm lượt nước sôi lên làm nóng bình trà…
Tôi tranh thủ ngắm ông, da ngăm đen, gương mặt buồn, diệu vợi… Không ai nói với ai lời nào. Sau vài tuần trà, Tùng Linh phá vỡ sự im lặng bằng một câu hỏi bâng quơ. Ông Trực bâng quơ trả lời. Tôi chẳng biết nói gì, ngồi uống trà, hóng chuyện. Dù đã được Nguyễn Tùng Linh cảnh báo, nhưng sự kiệm lời của chủ nhà vẫn khiến tôi ngạc nhiên. Rồi không khí cởi mở dần bằng những câu đối thoại ngắn. Giọng ông Trực rủ rỉ rù rì như tâm sự, như giãi bày. Đột ngột, ông hỏi tôi có mang thơ theo không? Tôi đưa ông năm bài thơ chép tay, ông xem không nói gì trả lại ngay cho tôi ba bài, giữ lại hai bài: Trở lại vùng than và Tháng sáu thị xã than. Lâu không thấy báo in, ông không nói và tôi cũng không tiện hỏi. Đến tháng 6, đột nhiên tôi thấy hai bài thơ của mình xuất hiện ở trang “Thơ dự thi” cuộc thi thơ 1981-1982 của báo Văn nghệ, khiến tôi ấn tượng cách làm việc quá cẩn trọng của ông, thơ viết về tháng 6 thì nhất định phải in đúng tháng 6.
Sau này khi đã quen thân, tôi thay đổi suy nghĩ, không thấy ông kiệm lời mà thấy ông “chậm nói”. Để ông nói ra được phải chấp nhận tốn hơi nhiều thời gian và nước chè chén. Ông say mê bạn bè, kết giao thân thiết với nhiều người, một trong số đó là ông Nguyễn Bá, bạn chăn trâu cắt cỏ với ông hồi nhỏ. Diễn Châu có hai ông Nguyễn Bá, Nguyễn Bá bạn Võ Văn Trực và Nguyễn Bá Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An. Tôi không biết ông Nguyễn Bá Bí thư, nhưng ông Nguyễn Bá bạn ông thì tôi rành, vì ông Trực hay kể chuyện quê hương. Nghe những câu chuyện ấy, thế nào ta cũng gặp “thằng Bá”. Ở một mức độ nào đó, “thằng Bá” đồng nghĩa với làng Hậu Luật. Lạ thế. Bạn văn thì có các nhà thơ Đào Cảng, Nguyễn Tùng Linh, Vũ Đình Minh, Vũ Xuân Hoát, Vương Tâm… kể không xiết. Đừng thấy ông ngồi bên ta lâu không nói một lời nào mà nghĩ ông này nọ, chỉ là ông đang tận hưởng cái thú bạn bè theo cách của riêng mình.
Một lần mấy anh em chúng tôi ngồi uống cà phê trong một quán bên đường Nguyễn Du, nhà thơ Ngô Văn Phú cầm ly cà phê lên làm một hơi như uống nước, rồi đứng dậy về cơ quan. Ông nhìn theo lầm bầm:
- Lần sau không uống cà phê với thằng Phú nữa, mất ngon.
Tôi nghe, cười thầm trong bụng. Vì ông với Ngô Văn Phú là bạn đồng môn Đại học Tổng hợp văn Hà Nội. Hồi học, hai ông, thêm nhà văn Nguyễn Gia Nùng họp thành một bộ ba chuyên sản xuất ca dao ký tên Nùng Trực Phú, in tạp chí Phổ thông. Và đây có thể nói là lần thứ x ông uống cà phê với tác giả bài ca dao Mây và bông nổi tiếng, thế mà ông bạn họ Ngô vẫn làm ông cụt hứng. Ngồi thêm một lúc nữa chúng tôi giải tán, tôi và Nguyễn Tùng Linh tới báo Độc Lập gặp nhà thơ Vân Long tiếp tục công việc rải thơ, còn ông trở về báo đọc bài lai cảo. Nếu thấy tác giả mới nào có bài “sạch nước cản” ông xếp số, đưa in. Chưa tới mức in được nhưng gặp đoạn, gặp câu ấn tượng, xa ông viết thư trao đổi, gần thì ông tìm gặp cho bằng được để trực tiếp nói lời động viên. Một lần ông đưa cho chúng tôi xem danh sách những bài thơ sẽ in báo Văn nghệ tuần tới. Tôi đọc, thấy trong đó có bài thơ Hà Nội của Nguyễn Hồi Thủ, một nhà thơ người Pháp gốc Việt. Tôi bảo, bài này em không nhớ cụ thể số nào, nhưng báo Văn nghệ in rồi. Và tôi mô tả cho ông trang báo in bài thơ ấy. Ông nghe, mở sổ ghi bài in những năm trước ra tìm, mất ba cuốn sổ thì bắt gặp, thế là ông rút bài thơ ra.
Làm báo Văn nghệ ông trải qua bốn đời tổng biên tập: nhà văn Nguyễn Văn Bổng, nhà văn Đào Vũ, nhà văn Nguyên Ngọc và nhà thơ Hữu Thỉnh; được chứng kiến những thời khắc thăng giáng, những tính cách, lối sống khác nhau của các nhà văn, nhà thơ cùng thời. Dưới quyền Tổng biên tập nào, ông cũng cố gắng làm tròn trách nhiệm của mình ở mức cao nhất. Trấn giữ gôn thơ tờ báo Hội Nhà văn Việt Nam, nghĩ cho cùng là một trọng trách, vì thơ chính là cái gốc của nền văn hiến đất nước. Trong lịch sử Việt Nam, có vị vua hiền nào không làm thơ? Có thời nào mà thơ không được trọng? Trọng trách ấy buộc ông phải tiếp xúc với hầu hết các trường phái, các xu hướng thơ trong nước (và ở một mức độ nào đó là trên thế giới): ổn định hay phá cách, khó hiểu hay dễ hiểu, trẻ và già, cây đa cây đề hay những mầm non mới mọc… Để không bị tụt hậu, không bỏ sót tài năng, ông đã không ngừng nỗ lực nâng mình lên, đọc nhiều, dịch thơ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt, tự học tiếng Pháp đến mức đọc được thơ Pháp từ nguyên bản. Dù trí nhớ không tồi, ông vẫn cần cù ghi nhật ký. Số sổ nhật ký ông ghi tính đến cuối đời có hơn 70 cuốn, xếp trên giá sách làm thành một dãy dài. Mỗi cuốn là một cuốn phim tài liệu bằng chữ qua từng ngày từng tháng từng năm, có nhân vật cụ thể, có tình tiết cụ thể, có câu chuyện vui, có câu chuyện buồn, có những người tốt và có những người xấu… Khi viết văn cần tư liệu, nguồn cung đầu tiên ông tìm là nhật ký. Vì thế những thông tin trong các bài viết của ông đưa thường “chuẩn không cần chỉnh”.
Một lần nữa, vào một buổi chạng vạng của mùa thu năm 1982, tôi, ông, Nguyễn Tùng Linh tản bộ trên vỉa hè đường Chùa Bộc. Ông hỏi chúng tôi:
- Các ông có nhớ ngày 15 tháng 8 năm ngoái không? Ngày hôm ấy gió xào xạc xào xạc. Buổi sáng mình thức dậy thấy tiết trời se lạnh, nằm trên giường nghe tiếng gió luồn qua vòm cây, qua khe cửa, tiếng lá khô rơi nhẹ, tiếng chổi chị lao công quét rác, tiếng xe máy, tiếng bước chân của ai đó trên đường. Giữa muôn thứ tiếng, mình bỗng nhận ra tiếng gáy trầm mộc của một con chim cu đất…
Tôi với Tùng Linh đưa mắt nhìn nhau. Chao ôi, ông nhớ cả tiếng lá rơi, tiếng chim gù, nhớ cả con phố dài xao xác heo may của ngày thu về năm trước, nặng lòng với cuộc đời như thế thì sống chẳng dễ dàng. Gặp một ứng xử thô bạo, người khác tổn thương một, ông tổn thương hai, ba. Nghe một lời nói đầu môi chót lưỡi, người khác tặc lưỡi cho qua, ông thấy mình bị phỉ báng. Chịu một sự dối trá, người khác cười không sao, còn ông thấy như mình bị đem bán. Người hời hợt nhìn, bỏ qua. Người sâu sắc nhìn, nhận biết. Tôi không hời hợt nhưng cũng không đủ sâu sắc để gọi ngay ra được những nỗi sầu vạn cổ của kiếp nhân sinh ông mang trên gương mặt. Chỉ đến khi chúng đi qua rồi, ngẫm mới thấy chúng vận vào ông như một điều không thể khác.
Nỗi sầu lớn đầu tiên ông mang là khi ở quê người ta thực hiện di dời mồ mả, quy hoạch lại đồng ruộng. Cây đa, bến nước, sân đình bị di chuyển để nhường đất cho những công trình xây dựng mới:
“Một làng vui bỗng lạnh tựa tha ma
Khi tiên tổ, ông bà không còn mộ
Mồ côi đất đai và ngọn cỏ
Lũ chim non khản giọng lạc bài ca.”
Trong cuộc đó, mộ mẹ ông bị thất lạc, con cháu tìm mãi không ra. Khiến ông khóc trong đời, khóc cả trong thơ:
“Trên trần thế mười năm con phiêu dạt
Đất nơi đâu cũng thấy mẹ đang chờ
Hài cốt mẹ suốt mười năm lưu lạc
Con đốt trầm lạy bốn hướng vu vơ.”
Chuyện nữa ít người biết. Ông là em nuôi ông Nguyễn Đức Bình, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, người hai khóa liền (khóa VII, VIII) được phân công phụ trách công tác tư tưởng, văn hóa và khoa giáo của Đảng. Trong một lần ngồi uống trà, Nguyễn Tùng Linh nhắc điều này, mặt ông lập tức sầm lại xách cặp đứng dậy bỏ đi. Đối với ông, chuyện mình học cùng lớp với em trai ông Bình, ở trong nhà ông Bình suốt ba năm học trường cấp ba Huỳnh Thúc Kháng, Vinh, được mẹ ông Bình nhận làm con nuôi, được ông Bình (khi ấy đang phụ trách bộ phận tuyên truyền, thời sự, chính sách Ban Tuyên huấn Liên khu ủy 4) nhận làm em nuôi, là quan hệ cá nhân. Cả chuyện sau này ông sống giữ lễ, hàng năm vào dịp giỗ, Tết vẫn đến thăm anh nuôi tại nhà, là phận sự của một đứa em, không dây mơ rễ má gì đến công việc viết văn làm thơ của nhà thơ Võ Văn Trực, càng không liên quan gì đến việc Võ Văn Trực thăng tiến. Nguyễn Tùng Linh không hiểu điều này, khiến ông giận. Còn Nguyễn Tùng Linh thì đành ngồi nhìn theo “Đại ca”.
Tính “Cương, Trực”, ông lẳng lặng chịu đựng. Nhưng khi người vợ yêu quý của ông mất vì căn bệnh ung thư vú thì ông bị đánh quỵ: “Em hiện về/ Rực rỡ chiêm bao/ Như tia chớp lóe lên rồi vụt tắt/ Để lại trong anh/ Một đêm dài bão táp”.
Năm năm sau, Võ Hạnh Thắm, cô con gái tài năng của ông, cô con gái mà từ khi còn là một học trò cấp một, ông đã thường xuyên đưa đi cùng trong các chuyến đi thực tế - Ông muốn con gái mình sớm tiếp xúc với thiên nhiên và cảnh trí các miền đất nước để nuôi dưỡng một tâm hồn giàu có, bị mất cùng căn bệnh ung thư vú như mẹ thì ông bị đánh quỵ hẳn:
“Thôi rồi, buốt lạnh tay chân
Con mang đi cả một phần đời cha
Từ nay côi cút tuổi già
Bóng con biền biệt khuất xa cõi người
Lòng cha cào xé tơi bời
Nỗi đau òa vỡ đất trời bão giông.
Có còn không có còn không
Sổ tay con chép những dòng thơ vui?
Ở đâu rồi ở đâu rồi
Trang văn con dịch những lời mến yêu?
Cuối trời một lá trăng treo
Úa vàng rụng xuống cô liêu ngàn trùng...”
*
Cầm bút năm 1958 khi còn ngồi trên ghế trường đại học, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1975, Võ Văn Trực viết nhiều thể loại, thơ, văn xuôi, bút ký và biên khảo. Sách của ông đã xuất bản, có: 14 tập thơ và trường ca, 16 tập truyện ngắn và tiểu thuyết, 12 sách biên khảo và văn hóa.
Riêng tôi yêu nhất Gương mặt những nhà thơ, tập chân dung, phê bình văn học của ông (NXB Văn học, 1998). Tập sách mỏng, vỏn vẹn 266 trang khổ 13x19 cm, gồm 18 nhà thơ bạn bè. Khác với sự chân mộc, giản dị trong văn xuôi Võ Văn Trực nói chung. Viết Gương mặt những nhà thơ, ngòi bút Võ Văn Trực bay bướm, tung tẩy, nhận xét tinh, gọi đúng hồn cốt tác giả, tác phẩm của họ, một số bài đạt tới độ tài hoa hiếm thấy.
Ví dụ viết về Nguyễn Bính: “Thơ ông không đưa ta đi qua một dòng sông với những chỗ ngoặt bất ngờ khiến ta sửng sốt trước một vách núi dựng đứng, hoặc một hang động kỳ ảo thạch nhũ, hoặc một xoáy nước dữ dội; mà dẫn dắt ta bước từng bước nhẹ vào một ngõ xóm bằng lặng và tâm hồn ta được ru lên bởi sự vỗ về ôm ấp: một đôi bướm trắng dập dờn, một tiếng thoi đưa lách cách, một mảnh vườn rụng đầy hoa chanh, một ánh nắng vàng soi trên mẹt cốm…”
Còn nhiều nhận xét nữa trong sách của ông mà tôi có thể trích, nhưng trong một bài viết không thể dẫn quá nhiều. Điều tôi muốn nói về Võ Văn Trực là: Ông viết về người, về tác phẩm của người đẹp quá. Nhớ ông, đọc lại ông, tôi cũng muốn viết về ông, về Gương mặt những nhà thơ của ông những lời như thế!