Sáng tác

Thanh Thảo: Người sáng tạo các phương thức chở sử thi thời đại

Mai Bá Ẩn
Tản văn 06:57 | 20/09/2026
Baovannghe.vn - Có ý kiến cho rằng xét trên bề mặt của đời sống văn học từ sau 1975 đến nay thì điều dễ nhận ra sự khác biệt cũng như thành quả của nền văn học giai đoạn này chính là sự xuất hiện rầm rộ của thể loại trường ca.
aa

Nối tiếp các sử thi, các anh hùng ca trong quá khứ, trường ca được xem là thể loại phù hợp nhất thực hiện sứ mạng chở sử thi thời đại. Từ sau 1975 đến nay, bên cạnh hàng chục tác phẩm thuộc các thể loại khác, với 15 trường ca, có thể nói, Thanh Thảo là nhà thơ hiện đại Việt Nam viết nhiều trường ca nhất và thể hiện ý thức đổi mới thể loại trường ca mạnh mẽ nhất. Dù đều mang tính sử thi, nhưng mỗi một tác phẩm ra đời, Thanh Thảo sáng tạo một cách chở sử thi rất khác nhau, tạo nên sự đa dạng trong cấu trúc từng tác phẩm. Nhìn tổng thể, theo thời gian sáng tác, trường ca Thanh Thảo có thể phân thành hai chặng: trước Đổi mới (8 trường ca) và sau Đổi mới (7 trường ca).

Trường ca trước Đổi mới (từ 1976 đến 1984)

Thanh Thảo: Người sáng tạo các phương thức chở sử thi thời đại
Nhà thơ Thanh Thảo

Sau chiến tranh, Thanh Thảo là nhà thơ có quá trình sáng tác trường ca dồn dập nhất như một sự giải thoát những ứ đọng cảm xúc chính mình. 8 trường ca của ông đã ra đời (không tính một trường ca dang dở) trong vòng chỉ 9 năm. Để nhìn rõ sự vận động trong cấu trúc tác phẩm, ở giai đoạn này, tôi xin được xếp thứ tự trường ca theo năm sáng tác (ghi cuối tác phẩm) mà không theo thứ tự năm xuất bản, vì có những tác phẩm viết trước nhưng chưa thể xuất bản ngay.

Chở sử thi theo bước chân người lính: Những người đi tới biển (1976-1977) gồm 1.248 câu thơ, chia thành 3 chương (có tên cho từng chương với nhiều mục, tiểu mục) và một vĩ thanh. Đây được xem như trường ca đầu tiên sau 1975 mang tính mở đầu cho giai đoạn nở rộ của trường ca Việt Nam những năm sau đó. Không cấu trúc theo cốt truyện hoặc sự kiện, Những người đi tới biển nối tiếp cấu trúc theo mạch tư tưởng, cảm xúc của trường ca trước đó, nhưng tự do và thoáng đạt hơn qua sự chi phối lớn của cái tôi tác giả. Sợi dây nối mạch đi rất phóng khoáng mà vẫn đảm bảo tính thống nhất của cả trường ca; đó chính là hành trình đi tới thành công của cuộc kháng chiến chống Mĩ vĩ đại qua bao mất mát, hi sinh. Cái khác nhất, mới nhất trong trường ca này chính là giọng thơ táo bạo, gai góc của Thanh Thảo khi phản ánh về chiến tranh qua cái nhìn hiện thực trần trụi và khốc liệt, đầy chất bi hùng của một sử thi hiện đại.

Chở sử thi bằng nỗi đau và niềm hi vọng: Trẻ con ở Sơn Mỹ (1976/1978-1985) với 596 câu thơ là kết quả của gần sáu tháng trời Thanh Thảo khoác ba lô về “ba cùng” với người dân Sơn Mỹ để lấy cảm hứng sáng tác như là một sự trả nợ cho nỗi đau lớn của chính mảnh đất Quảng Ngãi sinh ra ông. Có điều đặc biệt là sống cùng nỗi đau thảm sát, hòa cùng nỗi đau chưa nguôi và cuộc sống khổ nghèo trong hiện tại của đồng bào ruột thịt mình, nhưng ông đã nhìn quá khứ đau thương, hiện thực điêu tàn bằng con mắt của tương lai và vì thế mới gọi tên là Trẻ con ở Sơn Mỹ. Cũng vì mục tiêu đó mà Thanh Thảo đã chọn cấu trúc kiểu điện ảnh để xây dựng trường ca này nên không phân thành chương mà chỉ là những câu thơ mở đầu và 6 tít mục làm thành 7 cảnh quay (Mỗi cảnh đều có toàn cảnh, trung cảnh và cận cảnh). Ống kính thơ “lia nhanh” như những “tia chớp thơ” đầy khoảng trắng làm nên tính hiện đại của cả trường ca.

Chở sử thi bằng nghĩa khí: Những nghĩa sĩ Cần Giuộc (1978/1980-1985) có 974 câu thơ được cấu trúc thành 6 tít đề mục theo kiểu điện ảnh, không phân chương. Đây là trường ca Thanh Thảo viết về những người nông dân chân đất hi sinh thân mình cho quê hương trong bối cảnh những “cha mẹ của dân” đang làm ngơ cho kẻ thù cướp nước. Trường ca đẫm chất sử thi của một giai đoạn lịch sử bi hùng nhưng được nhập đề đầy ngẫu hứng, bất ngờ, mà hoàn toàn hợp lí trong tương quan với những nhân vật lịch sử, văn hóa nổi tiếng những ngày đầu chống thực dân như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình Chiểu, khiến tầm vóc người nông dân sau Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã được nâng lên một tầm cao mới, thật sự đã trở thành nhân vật chính theo mô-típ nhân vật số đông của trường ca hiện đại.

Chở sử thi trên những chiếc áo tù: Bùng nổ mùa xuân (1981-1985) gồm 946 câu thơ cấu trúc thành 4 chương (ghi rõ là Chương 1, Chương 2, Chương 3, Chương 4, không có tên chương). Nội dung là một sự kiện lịch sử về cuộc nổi dậy của những người tù cách mạng Ba Tơ (Quảng Ngãi) vào ngày 11/3/1945. Lần đầu tiên trong lịch sử khu V, ngọn cờ đỏ sao vàng đã được chính những người tù chính trị phất lên ngay trên nhà tù giặc. Thành công đặc biệt của Thanh Thảo ở trường ca này là lại tiếp tục xây dựng nhân vật số đông bằng một cấu trúc mới mẻ với 4 chương giao hưởng cổ điển chặt chẽ, hài hòa để trở thành “bản giao hưởng cách mạng trong bầu trời trở giông” và ghi được dấu ấn mạnh mẽ khi đã trữ tình hóa thành công sự kiện lịch sử nghiêm túc và khô khan này.

Chở sử thi bằng chí khí: Đêm trên cát (1982-1985) gồm 481 câu thơ. Như không chịu lặp lại mình, đây là trường ca mở đầu cho loạt trường ca xóa nhòa chương, mục của Thanh Thảo. Nếu Bùng nổ của mùa xuân là một bản giao hưởng cổ điển thì Đêm trên cát lại là một bản giao hưởng hiện đại không phân chương mục, khiến ta có cảm giác như được nghe một bản xô-nát với sự trộn lẫn, đan xen của nhiều không gian. Đêm trên cát thả sức tung hoành theo bút pháp hóa thân - đồng hiện độc đáo về nhân vật Cao Bá Quát mà có người gọi là một “hiện tượng nhập hồn”. Cái tài của Thanh Thảo chính là ở chỗ, chỉ từ một sự kiện nhỏ là Cao Chu Thần trên bước đường công cán đã có một đêm dừng chân uống rượu trên sông Trà (quê hương của Thanh Thảo) và để lại cho Quảng Ngãi một bài thơ bất hủ Trà giang thu nguyệt ca đầy khí phách, nhưng vì cảm khái nhân cách nhà thơ - chiến sĩ họ Cao mà đã sáng tạo nên một trường ca để đời. Câu chuyện dồn nén trong chỉ một đêm tại một địa điểm cụ thể mà đã khái quát được cả không khí của một giai đoạn lịch sử đặc biệt trong một trường liên tưởng mạnh mẽ, tỏa rộng theo khí phách ngất trời cao và hồn thơ phóng khoáng bao la của Cao Chu Thần.

Chở sử thi bằng những lời trò chuyện: Trò chuyện với nhân vật của mình (1982-2002) có 68 đoạn thơ không phân chương mục. Đây lại là một cách làm mới trường ca nữa của Thanh Thảo. Từ đây, ông không còn dùng các thể thơ quen thuộc để viết, mà chuyển hẳn sang thơ văn xuôi. Lúc này, đơn vị thơ không còn tính bằng câu mà tính bằng đoạn. Cũng với bút pháp hóa thân - đồng hiện độc đáo, Thanh Thảo đã hòa cảm xúc mình vào tâm trạng nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu để làm cuộc “trò chuyện” có một không hai với tất cả nhân vật văn học của cụ Đồ (từ truyện thơ cho đến thơ và văn tế). Trong tất cả các trường ca Việt Nam, có lẽ lối dựng trường ca theo kiểu “trò chuyện” này là một sáng tạo khá độc đáo, nó tạo điều kiện cho nhà thơ thả tung tư tưởng của mình mà không sợ bị bung ra ngoài cấu trúc chỉnh thể. Vì “trò chuyện” với nhân vật văn học (không có thật) nên trường ca được cấu trúc theo dạng kịch độc thoại vô cùng hấp dẫn và sâu lắng.

Chở sử thi bằng sức bền của cỏ: Cỏ vẫn mọc (1983-2002) gồm 50 đoạn thơ không phân chương mục. Trường ca này cũng được viết bằng thơ văn xuôi mà chủ đề xoay quanh câu nói nổi tiếng của Nguyễn Trung Trực: “Bao giờ hết cỏ nước Nam thì người Nam mới hết đánh Tây.” Mượn câu nói nổi tiếng này, trường ca nói về sự tồn tại và sức sống vĩnh viễn của cỏ, về những anh hùng số đông, vô danh chiến đấu, hi sinh trên vàm Nhật Tảo. Không chỉ có cỏ bạt ngàn ở Đồng Tháp Mười, Cỏ vẫn mọc được kết cấu như lời bình của một kịch bản phim tài liệu, còn mở ra rất nhiều không gian cỏ khác: Cỏ giấu những căn hầm bí mật bên dưới những nghĩa trang, cỏ ở nghĩa trang Hàng Dương, cỏ ở nhà ngục Côn Đảo, cỏ mọc cả trong những giấc mơ, cỏ cháy trong thời chiến, cỏ xanh êm ả thời bình... với những pha chuyển cảnh đầy ngoạn mục khiến trường ca vừa lạ lẫm vừa hiện đại.

Chở sử thi bằng trò chơi ru-bích: Khối vuông ru-bích (1984-1985) có 57 đoạn thơ văn xuôi (57 lần xoay được mở đầu bằng câu: “Tôi xoay những ô vuông”), không phân chương mục, và được xem là trường ca “đêm trước đổi mới” của Thanh Thảo với ý thức cách tân thể loại rõ rệt. Trước Khối vuông ru-bích, ông đã thử nghiệm trường ca Một trăm mảnh gỗ vuông (dang dở) cấu trúc bằng những đoạn thơ văn xuôi là những khối vuông ghép lại. Cũng là một lối sáng tạo độc đáo, nhưng nếu ghép như thế dễ trở thành cứng nhắc, ông đã quyết định bỏ dở “cuộc chơi ghép gỗ vuông” để chơi trò chơi ru-bích nhằm đưa thể loại trường ca (vốn là sử thi nghiêm túc) tham gia vào cuộc chơi thơ đầy sáng tạo, xoay khối vuông thành chuyển động tròn. Mỗi ô màu là mỗi mảnh đời, mỗi giai đoạn, mỗi số phận khác nhau. Lối thơ của Khối vuông ru-bích rất lạ, nó vừa là thơ vừa là văn vừa là nhạc vừa là kịch vừa là phim... nhưng cuối cùng vẫn cứ là thơ khi liên tục những vòng xoay ru-bích còn chuyển động.

Như vậy, 8 trường ca của Thanh Thảo giai đoạn này đều cấu trúc không có cốt truyện, cũng không theo sự kiện mà xây dựng theo mạch tư tưởng, cảm xúc với vai trò chi phối rất lớn của cái tôi trữ tình. Quá trình sáng tác trường ca của Thanh Thảo là cả một quá trình kiếm tìm để làm mới thể loại với một ý thức rõ rệt. Từ cấu trúc chuẩn mực 3 chương với nhiều mục và tiểu mục (có tên riêng) và một vĩ thanh cũng có tên là “Tới biển” của trường ca đầu tiên (Những người đi tới biển) chuyển sang cấu trúc không có chương, chỉ có tên mục (Trẻ con ở Sơn Mỹ, Những nghĩa sĩ Cần Giuộc); rồi lại cấu trúc chương theo kiểu âm nhạc của thể loại giao hưởng cổ điển 4 chương (1, 2, 3, 4), không có tên (Bùng nổ mùa xuân); tiếp đến cũng là kiểu cấu trúc âm nhạc nhưng không còn là giao hưởng cổ điển mà là một bản xô-nát gọn ghẽ không chương mục (Đêm trên cát). Sau Đêm trên cát, Thanh Thảo chuyển hẳn từ thơ sang thơ văn xuôi cho cả 3 trường ca kế tiếp (Trò chuyện với nhân vật của mình, Cỏ vẫn mọc, Khối vuông ru bích) với sự kết hợp đa dạng của kiểu cấu trúc kịch (kịch độc thoại), cấu trúc điện ảnh (lời bình phim tài liệu) và cấu trúc trò chơi ru-bích độc đáo.

Trường ca sau Đổi mới (từ 2009 đến 2019)

Có một thời, sau những năm 80 của thế kỉ trước, nhất là khi Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường, nhiều người cho rằng: Thể loại trường ca xem như đã hoàn thành sứ mạng vì xã hội hiện đại không còn chỗ đứng cho sử thi. Với Thanh Thảo, đến thời điểm đó, ngoài thơ, ông đã cho ra đời 8 trường ca. Và, nếu lập luận như trên, xem như ông cũng đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh! Thế mà đùng một cái, từ sau năm 2009 đến 2019, bên cạnh các tập thơ, hồi ức và tiểu luận, Thanh Thảo chính thức công bố thêm 7 trường ca với ý thức khá rõ về việc đổi mới cách chở sử thi trong thời đại mới.

Chở sử thi bằng metro hiện đại: Metro (2009) là trường ca mở đầu cho giai đoạn sau Đổi mới của Thanh Thảo, được cấu trúc hai chiều xuôi ngược giữa “kí ức” quá khứ và hiện tại trên cùng một đường “ray”. Ngoài phần mở đầu mang tính chất “chuẩn bị khởi hành” khá kĩ càng (107 câu thơ), Metro được cấu trúc thành 20 đoạn (258 câu thơ) với những tít đề (in đậm) mang tính chất tượng trưng (vừa là thời gian của con tàu dừng đỗ, vừa là khoảnh khắc nhà thơ đang lia tay gõ bàn phím hiện lên trên máy tính, lại vừa là thời gian của dòng cảm xúc tác giả tuôn ra theo lập trình chạy - dừng của Metro). Một hành trình hun hút 38 năm (1971-2009) chỉ gói trọn trong 6 ngày - Metro khởi hành “21 giờ 11 tháng 4 năm 2009 đến ‘16h35’ ngày 16 tháng 4 năm 2009” thì dừng lại (cũng là dòng thơ cuối dừng lại trên máy tính) - Lúc đó chính xác là: 16h50 ngày 16 tháng 4 năm 2009 ghi cuối tác phẩm.

Chở sử thi bằng chân đất: Trường ca chân đất (2011-2012) với 800 câu thơ, Thanh Thảo lại làm mới cấu trúc trường ca bằng 9 tít mục đều bắt đầu từ chữ “Chân”/chương. Đây là sự tiếp biến và nâng cao cấu trúc ru-bích của hai trường ca trước đó: Khối vuông ru-bích (cấu trúc chuyển động tròn) và Trò chuyện với nhân vật của mình (cấu trúc vòng tròn đồng hiện). Còn Chân đất là một vòng tròn đồng tâm hẳn hoi. Lấy Chân đất làm tâm thơ, từ tâm Chân đất lan tỏa ra 9 “chân” khác (Chân tre, Chân ruộng, Chân mưa, Chân núi, Chân cò, Chân tháp, Chân mây, Chân sóng, Chân lũy); rồi lại tụ về làm nên Chân đất. Vì lẽ đó mà Chân đất là tên trường ca mà không đứng thành một “Chân”/tít mục riêng (và nhất định không ai nghĩ đến cái mục “Chân trời” - đối lập với “Chân đất” vì như vậy sẽ bị đối trọng, bị lệch tâm, mất “chân”). Với cấu trúc mở này, những “siêu độc giả” có thể đồng sáng tạo thêm các “chân”/mục khác một cách tự do. Cái độc đáo của trường ca này chính là ở đó.

Chở sử thi bằng những đám mây: Trường ca Đám mây hình người thợ săn và con chó (2014-2016) gồm 664 câu thơ không phân chương mục. Chuyện Tranh vân cẩu trôi nổi giữa trời như một biểu tượng của sự biến chuyển, đổi thay thì ai cũng biết. Ở đây, “mây” là “nhân vật” chính được chuyển hóa thành các “nhân vật” phụ. Những “nhân vật” này không còn là “vân cẩu mòng mòng” mà gắn chặt với ý đồ nghệ thuật của tác giả.

Chở sử thi bằng tư tưởng vì dân: Trường ca Dạ, tôi là Sáu Dân (2014-2016) gồm 490 câu thơ với quan điểm nhất quán: Tư tưởng “vì dân”. Tất cả các tình tiết sự kiện, các số phận “nhân vật” được chọn cho “nhân vật” chính (Sáu Dân) đề cập đến, đều xoay quanh quan điểm thẩm mĩ “vì dân” qua thủ pháp “hóa thân - đồng hiện” của nhà thơ vào “nhân vật” chính từ chuyện vợ con bị giặc giết, đến những người bạn tâm giao, đến các bậc tiền nhân rồi liên hệ với nước ngoài.

Chở sử thi bằng chiếc đòn khiêng: Người khiêng võng (2016-2017) là trường ca xoay quanh cuộc đời trầm luân mà đầy khí phách của “vị quan khiêng võng” Lê Đại Cang (1771-1847) với 511 câu thơ cấu trúc thành 4 phần. Mỗi phần đều được mở đầu bằng câu ca ngạo nghễ: “Khiêng võng cho quan, à la, khiêng võng cho quan.” Đó là một con người coi thường danh vọng, chỉ biết một lòng một dạ thương dân, phải bao lần bị giáng chức, nhưng: “Dẫu khiêng võng hay khiêng gì cũng mặc/ Đầu ngẩng cao như một bông sen.”

Chở sử thi bằng lòng quả cảm: Hiển thánh năm 25 tuổi (2017) là trường ca gồm 474 câu thơ và 01 đoạn văn xuôi trích dẫn, viết về người tù Cộng sản ngoan cường Trương Quang Trọng (1906-1931) - một người con tiêu biểu của quê hương Quảng Ngãi, hiên ngang trước mũi súng kẻ thù trong cuộc đấu tranh lưu huyết ở nhà ngục Kon Tum những năm đầu khi Đảng ra đời. Trường ca này tiếp nối cấu trúc kiểu âm nhạc. Là một bản xô-nát gọn gàng như một khúc tưởng niệm (Requiem).

Chở sử thi bằng lòng tốt bình thường: Trường ca Người tốt ở quanh tôi (2019) với 591 câu thơ. Ở đây, Thanh Thảo lại khai thác yếu tố “sử thi” từ những chuyện đời thường, những con người bình thường với lòng tốt bình thường hiện diện giữa đời thường, thậm chí là “những phận người bé mọn”. Theo Thanh Thảo, “sử thi” trong thời bình, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay, chỉ cần sống tốt với nhau “thế là ổn”!

Ở giai đoạn trường ca sau Đổi mới, Thanh Thảo vận dụng nhiều kiểu cấu trúc khác nhau vô cùng đa dạng và phong phú, tạo ra một kiểu thơ tích hợp từ nhiều thể loại (kể cả văn học nghệ thuật và báo chí), từ âm nhạc sang điện ảnh, đến hóa thân - đồng hiện, vòng tròn đồng tâm… Quan niệm sử thi của thể loại trường ca giai đoạn này cũng có nhiều thay đổi, nên kiểu nhân vật mang nhiều yếu tố đời thường, cấu trúc điện tín - truyền tin, ngôn ngữ thông tục thể hiện rõ hơi hướng của sáng tác hậu hiện đại… Tất cả đó tạo nên sự bứt phá ngoạn mục của trường ca Thanh Thảo.

Như vậy, 15 trường ca được Thanh Thảo sáng tác qua hai chặng đường trải dài gần 50 năm, từ ngày thống nhất đất nước cho đến hiện nay (trường ca đầu tiên hoàn thành 1976, xuất bản 1977 và trường ca thứ 15 xuất bản 2019). 8 trường ca trước Đổi mới chỉ ra đời trong vòng chưa đầy 10 năm (1976-1984). Còn 7 trường ca sau Đổi mới cũng chỉ ra đời trong vòng 10 năm chẵn (2009-2019). 23 năm (1985-2008) là thời gian bị đứt quãng giữa hai chặng đường sáng tác được xem như một sự tích chứa năng lượng mới và suy nghĩ về cách đi mới của thể loại trường ca. Hành trình đổi mới thể loại trường ca của Thanh Thảo đã được ghi nhận bằng những chuyển biến tích cực trong cấu trúc tác phẩm và diễn ngôn thơ, cũng như sự chuyển đổi quan niệm về tính sử thi, phạm trù anh hùng trong trường ca đương đại. Và vì vậy, thật không có gì là quá, khi Thanh Thảo được coi là “ông vua của trường ca Việt Nam”.

Người đi tìm mùa thứ năm

Người đi tìm mùa thứ năm

Baovannghe.vn - Ở tuổi bảy mươi, nhà văn Cao Duy Sơn vẫn giữ lối nói chuyện của người kể chuyện bên bếp lửa: nhẩn nha, hay vòng lại, và thỉnh thoảng buông một câu triết lý.
Âm nhạc châu Á tại giải Grammy: Thêm cơ hội cho nghệ sĩ bản địa

Âm nhạc châu Á tại giải Grammy: Thêm cơ hội cho nghệ sĩ bản địa

Baovannghe.vn - Mới đây, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Hoa Kỳ - đơn vị tổ chức giải Grammy danh giá thường niên - cho biết từ năm 2027, hạng mục Trình diễn nhạc Pop châu Á xuất sắc nhất sẽ được bổ sung vào cơ cấu trao giải, qua đó phản ánh thị trường âm nhạc toàn cầu vô cùng sôi động, đồng thời trao thêm cơ hội cho các nghệ sĩ bản địa.
“Tảng đá thơ” lay động

“Tảng đá thơ” lay động

Baovannghe.vn - Tôi thường chiêm nghiệm thơ của nhà thơ Thạch Quỳ (1941-2022), nhất là lúc tiếp xúc đời sống thơ ca hiện tại, có khi như… “trẩy hội”. Giữa sông suối thơ ca ấy, thơ Thạch Quỳ vẫn hiện lên như một “tảng đá thơ” lay động.
Mùa hoa khế rụng. Tản văn của Đào Văn Đạt

Mùa hoa khế rụng. Tản văn của Đào Văn Đạt

Baovannghe.vn - Mỗi khi nghe ai đó nhắc đến hai chữ “về quê” lòng tôi lại nôn nao nhớ về ngôi nhà của ngoại. Nơi đó có cây khế cứ vào độ cuối xuân đầu hạ, hay bất cứ thời khắc giao mùa nào khế đều ra hoa kết quả rất trĩu cành.
Vùng nhớ - Thơ Phùng Hải Yến

Vùng nhớ - Thơ Phùng Hải Yến

Baovannghe.vn- Có một vùng hoa ban nở rợp tuổi thơ tôi/ Mẹ xõa tóc gội đầu bọt tung trắng suối