|
KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI NGUYỄN KHOA ĐIỀM Một cuộc chiến đã đi qua Giang sơn đã hòa bình, thống nhất Người nằm xuống đã vắng lặng từ lâu Người trở về đầu đã bạc Không việc gì phải rũ rối ra Ném vào nhau lời vô nghĩa Không ai quên những chiến công, những người lính can đảm Đã vượt qua cái xấu xí, đớn hèn Đã đi qua cuộc chiến tranh thiêng liêng giận dữ Với sấm chớp, những trận mưa lớn Tưới tắm núi sông, số phận con người Cả dân tộc bước lên đài lịch sử Đây là lúc chẳng cần giở lại trò đếm xác chết Kể lể công, tội Đòi soi mặt từng người Thật vô ích và bất kính Hãy để những người anh hùng ngủ yên Hãy để cho sự tầm thường và tro tàn chiến tranh nguội lạnh Chúng ta sống những ngày bình lặng Đổi mới đất nước, sửa lại ngôi nhà tổ tiên Trao công việc tận tay người trẻ Làm nên đất nước hôm nay tự hào, đáng sống 27-12-2025 |
Mới đây trên Viết & Đọc mùa Đông 2025 của Nhà xuất bản Hội Nhà văn có giới thiệu một chùm thơ ngắn của ông. Trong đó có bài NHẬP BỌN
NHẬP BỌN
Ở tuổi tám mươi
Tôi cam chịu một mình
Còn hơn nhập bọn với đôi dép lạ
Bài thơ ngắn ấy là tư duy của ông, thái độ của ông, bản lĩnh của ông hay nói rộng hơn là con người ông. Chiến tranh đã kết thúc từ lâu, cũng như bao người lính khác tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh này, ông đã rời cây súng. Nhưng ông vẫn là một người lính bởi ý chí không chịu khuất phục của mình. Nhân bài thơ ông viết ngày 27-12-2025 gửi cho báo Văn nghệ, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm để bạn đọc thêm một góc nhỏ nhìn về ông.
Xin trân trọng giới thiệu!
Đó là một ngày Hội nghị APEC đang diễn ra rầm rộ, ông cùng vợ lặng lẽ vào Hà Đông thăm mấy anh em văn nghệ sĩ trú ngụ tại thị xã này. Tôi không biết những chuyến đi trước kia của ông đến địa phương với một đoàn tháp tùng và một đoàn lãnh đạo địa phương nghinh đón và chuyến đi chiều ấy với một người bạn đời không một chút ồn ào nghi lễ thì chuyến đi nào thú vị hơn. Hỏi vậy chứ tôi biết ông nghĩ như thế nào. Thực ra thì cái nào cũng có sự thú vị của nó. Chúng ta là người trần cả mà. Nhưng cái thú vị bây giờ là cái thú của gió thổi, của mây bay. Cái thú của sự thanh thản và tự do. Cái thú mà chỉ người thấu hiểu lẽ đời mới cảm được. Mà khi cảm được cái thú này rồi thì mọi cái thú khác trở nên gượng gạo và trần tục.
Một số người trong cái ngõ nhỏ của tôi nhận ra ông. Có người nhận ra ông là ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Khoa Điềm, có người nhận ra ông là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và có người thấy ông quen quen hình như có lên tivi. Tôi biết được điều này bởi hôm sau mấy người hàng xóm hỏi tôi về ông. Những người biết được ông là ủy viên Bộ Chính trị thì rất “nể” tôi quen được cả lãnh đạo cao cấp đến như thế. Tôi cười bảo: “Cao cấp nhưng không lãnh đạo nữa”. Những người yêu thơ biết được ông thì tỏ ra xúc động và phấn khích. Nhưng điều giản đơn nhất và ấn tượng nhất vẫn là một nhà thơ đã rời những ngôi nhà đầy uy quyền ở thủ đô để đến thăm một nhà thơ trú ngụ trong một ngôi nhà nhỏ ở một thị xã nhỏ nhất trong các thị xã phía Bắc trong một chiều cuối thu nắng đẹp như mộng ở thế gian quá nhiều trần tục này.
Đã quá lâu rồi tôi mới tiếp xúc với ông. Lần gần nhất là khi ông nhận chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin. Nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhà thơ Nguyễn Thành Phong và tôi đến thăm ông. Lúc đó ba chúng tôi đang làm tờ Văn nghệ Trẻ và ông là Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi nhớ trong buổi lễ kỷ niệm một năm ra đời của Văn nghệ Trẻ, Tổng thư ký Nguyễn Khoa Điềm đã phát biểu: “Văn nghệ Trẻ ra đời và trở thành niềm tự hào của Hội Nhà văn. Văn nghệ Trẻ xin ra bốn kỳ một tháng nhưng chúng tôi chưa đồng ý vì để tờ Văn nghệ “già” còn cơ hội phát triển. Nhưng lịch sử không thể chờ nhau lâu được”. Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã đứng vụt dậy reo lên vì câu nói ấy. Nhiều năm sau này, mỗi khi nhắc tới những ngày đầu tiên của Văn nghệ Trẻ, Nguyễn Quang Lập vẫn nhắc lại câu nói đó và rất xúc động. Nhưng sự chờ nhau của lịch sử nhiều khi kéo dài đến 100 năm. Và mấy tháng sau lễ kỷ niệm một năm Văn nghệ Trẻ, tôi thôi Trưởng ban Văn nghệ Trẻ. Tất nhiên Trưởng ban của tôi ngày ấy ở báo Văn nghệ cũng được chỉ định bằng miệng cho vui chứ có quyết định, có tiêu chuẩn gì đâu. Mà ngày ấy tôi đã hai lần làm Trưởng ban kiểu “cho vui” như thế (ban Văn học nước ngoài và ban Văn nghệ Trẻ). Thậm chí, hai lần làm trưởng ban mà tôi cũng chỉ được ăn lương thực tập biên tập. Ăn lương thực tập biên tập sáu năm liền mà tôi đâu có biết. Chỉ khi có người làm ở bộ phận hành chính ở báo nói thì tôi mới hay. Cũng chỉ biết thở dài một tiếng chứ biết nói gì.
|
Và từ ngày ấy đến bây giờ tôi mới gặp lại ông. Sau khi ông không làm Bộ Chính trị nữa, tôi gọi điện mời ông gửi thơ cho báo Văn nghệ. Ông đã gửi cho tôi ba bài thơ. Đấy là chùm thơ đầu tiên của ông xuất hiện sau khi ông rời chính trường về Huế. Tôi đã viết mấy dòng sapo cho chùm thơ ấy theo lời đề nghị của Tổng biên tập Nguyễn Trí Huân. Có mấy dòng sapo giản đơn nhưng nhà văn Nguyễn Trí Huân vẫn phải suy nghĩ rất kín kẽ rồi cắt bớt đôi câu. Thế mà khi in ra vẫn có một, hai ông nhà văn viết thư phản đối mấy dòng sapo đó. Tôi thật sự kinh hãi vì chuyện này. Kinh hãi không phải vì sợ mà kinh hãi bởi cho đến bây giờ mà vẫn còn kiểu suy nghĩ như thế. Nghe chuyện ấy, lòng tôi buồn vu vơ mãi. Thơ ông đã in ra và chúng ta đã đọc. Nghĩ không cần phải nói thêm gì nữa. Bởi như tôi nói với ông rằng lý lịch tối thượng của nhà thơ chính là những văn bản thơ. Và ông đã làm ra một bản lý lịch đầy kiêu hãnh bằng những bài thơ của ông từ bom đạn và máu chảy của chiến tranh.
Cũng như bao khách văn chương khác, ông cùng chúng tôi uống trà, xem tranh và bàn luận chuyện văn chương. Mươi ngày trước đó, mấy anh em nghệ sĩ trú ngụ tại Hà Đông như đạo diễn sân khấu, nhà thơ Lương Tử Đức, nhà thơ Dương Kiều Minh, nghệ sĩ rối nước Chu Lượng và tôi mời ông thử “lang thang” về phía Hà Đông một buổi xem sao. Bấy giờ, ông cũng hay “lang thang” như thế. Có những ngày ông đạp xe sang tận bên kia sông Hồng. Vừa đạp xe thanh thản vừa suy ngẫm về những gì ông nhìn thấy và nghe thấy. Cảnh vật và con người những ngày này có lạ lẫm với ông không? Bởi trong thời gian làm Bộ trưởng Bộ VHTT và sau đó làm Bộ Chính trị ông không thể có thời gian và điều kiện đạp xe như thế. Dù lúc đó, lòng ông có muốn nhưng chức vị ông đang đảm nhiệm đã cản trở ông. Tôi muốn hỏi ông rằng tự đáy lòng ông thì làm quan hạnh phúc hay làm thi sĩ như bây giờ hạnh phúc.
Nhưng tôi đã không hỏi. Đấy cũng là câu trả lời khó cho tất cả những người làm quan không chỉ thời này mà ở mọi thời. Bởi có bao nhà thơ nhà văn khát khao làm quan. Nhưng đó cũng là khát khao chân chính nếu muốn làm quan để làm cho đời một cái gì đó có ích. Còn làm văn chương để mượn danh làm lợi cho cá nhân mình và làm cho người đọc nhầm hiểu cái đẹp thì còn có tội hơn làm một quan tham. Nhà thơ giải Nobel quốc tịch Mỹ gốc Nga - J. Brodsky - có nói về hai nhà thơ Nga rằng: một người lừa đảo về nội dung, còn người kia lừa đảo về mỹ học. Cái người lừa đảo về nội dung làm cho bạn đọc lạc đường chỉ một thế hệ. Nhưng người lừa đảo mỹ học có thể làm cho bạn đọc có thể lạc đường mười thế hệ. Những điều tôi nói đây có thể là sáo mòn, có thể là ai cũng biết cả rồi. Nhưng biết vậy chứ làm được hỏi thiên hạ có mấy người. Có người làm quan rồi không gỡ được cái bả làm quan. Về hưu rồi mà chỉ ngong ngóng ở cửa xem có ai mời đi họp đi hành không. Nghĩ thế mà thấy lòng vừa thương vừa buồn. Tôi đã chứng kiến một người làm quan vừa vừa thôi. Sau này bị bệnh tâm thần, người ấy suốt ngày cầm một cái que ký xuống đất. Mỗi lần ký xong lại nói một câu đầy mãn nguyện: “Duyệt”. Tôi đã đứng nhìn người bệnh tâm thần kia và thấy cái danh quyền nó ghê gớm đến nhường nào. Nhiều lúc nó làm con người lú lẫn cho đến chết vẫn không tìm được lối thoát.
Tôi nghĩ Nguyễn Khoa Điềm đã rành mạch được chuyện vô cùng khó khăn ấy. Tôi biết có không ít người sẽ không đồng ý với tôi. Nhưng chúng ta đang tập làm người của tự do và dân chủ mà. Ông đã rời triều và về quê. Về đúng ngôi nhà của cha mẹ mình. Về với cái sân ấy, mảnh vườn ấy và về với những câu thơ ấy. Về để làm một sinh linh giản dị trong cây lá bình dị mà vĩnh cửu. Về với cái giá trị tinh thần vĩnh hằng của mọi kiếp người. Bởi trong tận đáy sâu của tâm hồn ông, thi ca và cái đẹp vẫn trú ngụ. Không hiểu sao tôi nghĩ Nguyễn Khoa Điềm là một người may mắn. Bởi khi ông rời chính trường thì có thi ca và bạn văn đón ông. Trong sapo viết để giới thiệu chùm thơ của ông, tôi nói đại ý bây giờ ông được viết những văn bản đích thực của tâm hồn mình. Có thể khi ông làm quan có những điều tôi cũng bất đồng quan điểm với ông. Nhưng mà bởi ông làm quan mà. Bây giờ ông đã cảm nhận được cát bụi, nắng gió cũng như mùi hương tinh khiết bất diệt của những ngọn cỏ bên bờ Hương giang. Chính cái cảm nhận đó có thể chỉ mình ông biết. Nhưng chỉ mình mình biết đã đủ làm cho mình thanh thản đến khi rời bỏ thế gian rồi. Cái hạnh phúc thực sự bền vững là hạnh phúc chỉ mình mình biết trong cõi vô tận của lòng mình. Hạnh phúc mà cứ phải để cho cả thiên hạ biết, thiên hạ bàn luận và cả thiên hạ đồng ý đâu phải là hạnh phúc. Bởi trong cái gọi là hạnh phúc ấy vẫn chứa đựng dục vọng.
Buổi tối đó ông ăn tối cùng chúng tôi tại nhà riêng của nghệ sĩ Chu Lượng. Một bữa tối giản dị, quây quần và đầm ấm. Chúng tôi vẫn nói về thi ca, về hội họa và âm nhạc. Tôi mời ông gửi thơ Tết cho báo Văn nghệ. Ông lấy ngay trong túi một bài thơ đưa cho tôi. Nhà thơ Dương Kiều Minh đã đọc bài thơ ấy cho mọi người cùng nghe. Bài thơ nói về một người đi qua cầu Long Biên. Cầu Long Biên như cánh tay mở ra tiễn một người rời thành phố trong tĩnh lặng. Chỉ có tiếng chuông chùa Bồ Đề lan tỏa xóa nhòa ranh giới hai bờ con sông. Có thể người đi qua cầu Long Biên đó là ông. Có thể là tôi, là bạn. Nhưng là ai đâu phải chuyện quan trọng. Quan trọng nhất là đã có một người qua cầu với một tinh thần ấy. Khi tôi hỏi ông có ý in một tập thơ mới không. Ông nói ông phải chuẩn bị kỹ lưỡng thì mới in. Ông vốn là một người rất kỹ lưỡng. Kỹ lưỡng trong cả một nụ cười. Sau này, tôi hỏi nhà thơ Dương Kiều Minh ấn tượng nhất của anh trong buổi gặp gỡ nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là gì, anh nói: đó là nụ cười Nguyễn Khoa Điềm. Vì từ trước đến bây giờ Dương Kiều Minh mới thấy Nguyễn Khoa Điềm cười. Còn đạo diễn, nhà thơ Lương Tử Đức thì ấn tượng nhất là khi nhìn thấy những con rối cười ngặt nghẽo trong nhà Chu Lượng thì nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm nói mấy ông kia vui quá hỉ. Còn nghệ sĩ Chu Lượng lại xúc động bởi trước khi rời Hà Đông, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm nhắc vợ đừng quên chai rượu ông mang vào cho tôi. Chúng tôi đón ông là đón một nhà thơ như đã từng đón các nhà thơ ở nhiều miền của đất nước và từ nhiều nước trên thế giới ở cái thị xã nhỏ bé nhất trong các thị xã phía Bắc này.
Một đêm cuối năm gió lạnh tôi viết tản mạn đôi điều về ông, một trong những nhà thơ xuất sắc nhất trong thi ca Việt của những năm chiến tranh. Đấy là sự thật. Bởi nếu bây giờ ông vẫn đang làm Bộ Chính trị thì dù có thân thiết đến đâu, quý trọng đến đâu tôi cũng không viết. Bởi dù có viết chân thành thế nào thì thiên hạ cũng có người nói: “nó nịnh cấp trên đấy”. Ôi, đã là nhà thơ thì làm gì có cấp trên, chỉ có cái nhân gian lúc cười lúc khóc này thôi. Ôi, ở cái xứ mình, đôi khi một sự chân thành và công bằng nhiều lúc cũng bị ngờ vực. Nhưng dù thế nào thì cũng đâu quan trọng. Bởi chỉ có mình mới biết lòng mình thế nào. Nghĩ như thế cũng là đủ. Chẳng cần phải nói thêm gì nữa.