Việc ăn xin trong mùa mua sắm trước thềm Giáng sinh đáng ra phải dễ dàng, nhưng dường như suy thoái kinh tế đã biến những kẻ ăn xin ngày lễ thành những kẻ hà tiện bủn xỉn như Scrooge. Vài giờ trước, cô chỉ đủ tiền mua một tách cà phê và một cái bánh nướng xốp. Cô có thể đến một trong những bếp ăn từ thiện quanh thành phố, nhưng lòng tự trọng đã giữ cô lại. Cô thà chịu đói và lang thang ngoài đường hơn là chen chúc với một đám người thất bại.
![]() |
| Minh họa Ngô Xuân Khôi |
Cô đã từng mơ ước về một tương lai tươi sáng khi quyết định bỏ trốn khỏi ngôi làng ở phía Bắc. Cô sẽ thành công rực rỡ ở thành phố. Cô sẽ chứng minh cho mẹ và mọi người thấy rằng cô sinh ra để làm những điều tốt đẹp hơn thay vì chôn chân ở một thị trấn nhỏ hẻo lánh ở vùng quê. Cô dừng lại dưới ánh đèn đường để tranh thủ xem lại chiếc túi nhỏ đựng đồ trang sức thủ công mà cô đã nhét sâu vào túi áo khoác. Nằm gọn trong lòng bàn tay cô, những ánh bạc lấp lánh, sáng ngời và lạnh lẽo, chúng mang những thiết kế tinh xảo mà cô dày công tạo ra, xoắn ốc và vặn lại thành những nút thắt bí ẩn. Giống như cuộc phiêu lưu vĩ đại của cô đã diễn ra vậy.
Dù cô có cố gắng thế nào, những sợi chỉ cuộc đời cô cuối cùng vẫn quấn quanh và đan xen vào nhau đến nỗi cô không thể phân biệt được đâu là điểm bắt đầu và đâu là điểm kết thúc. Trên những chiếc nhẫn cô làm ra, thành phẩm thật đẹp đẽ. Còn đối với cuộc đời cô, kết cuộc lại là một mớ hỗn độn.
Một cơn gió mạnh thổi những hạt mưa tạt vào chân cô, khiến màn đêm thêm phần u ám. Cô nhét lại bộ trang sức vào túi. Tất cả những giấc mơ đẹp đẽ của cô giờ chỉ còn là những món kim loại méo mó. Thứ từng là độc nhất vô nhị và được trân trọng ở quê nhà giờ chỉ là một trong số rất nhiều thứ khác ở thành phố. Giống như cô, nơi chợ búa và góc phố đông nghịt người, ai cũng nài nỉ mọi người mua hàng.
Cô cúi gằm mặt xuống và lê bước. Cô chẳng biết đi đâu, nhưng cô cũng không thể đứng mãi dưới ánh đèn đường. Hơn nữa, đi bộ giúp máu lưu thông. Ước gì cô có thể về nhà, nhưng trong túi lại chẳng có đủ tiền mua vé xe buýt. Vả lại, cô cũng không thể về nhà. Nhất là sau cảnh tượng kinh hoàng với mẹ. Trong thâm tâm, Holly rùng mình nhớ lại những lời cay nghiệt mà mẹ đã nói. Cô nghiến chặt răng và bước đi. Cô nhất định sẽ không lếch thếch quay về như một con chó bị đánh đòn.
Một chiếc xe phóng nhanh hất nước lên đôi giày đã ướt sũng của cô. Cô giơ nắm đấm về phía người lái xe bất cẩn rồi rẽ vào một con phố nhỏ. Ở đây tối hơn. Biết đâu cô sẽ may mắn tìm được một hàng rào rậm rạp hoặc thậm chí một nhà kho không khóa để trú ẩn. Cô đi bộ băng qua vài dãy nhà để tìm chỗ trú, trước khi một ánh sáng chói lóa thu hút sự chú ý của cô. Cô quay về phía ánh sáng, rồi chợt sững sờ khi nhìn thẳng vào đôi mắt nâu đầy ấm áp của một con bò Jersey. Cô lùi lại một bước, nép mình vào trong bóng tối trong khi cố hình dung xem nên làm gì tiếp theo. Từ từ, cô nhận ra mình đã bắt gặp một cảnh Giáng sinh sống động, giống như câu chuyện mà mẹ cô vẫn thường kể, về mười bảy mùa Giáng Sinh trước, khi chính Holly đã đóng vai một hài nhi.
Ánh mắt cô không thể cưỡng lại được mà bị hút về phía máng cỏ, nằm gọn trong một chiếc giường được lót bằng rơm khô. Quả nhiên, có một hài nhi. Cô thấy đứa bé vẫy đôi tay nhỏ xíu. Ánh sáng thu hút cô đến nơi này phát ra từ hàng chục chiếc đèn lồng được dựng xung quanh gia đình thánh. Cô thầm mong những chiếc đèn lồng tỏa ra hơi ấm chứ không chỉ ánh sáng. Dù sao thì ai lại nghĩ ra ý tưởng táo bạo đến mức đặt một đứa bé ở ngoài trời đêm lạnh giá như thế này chứ?
Kì lạ thay, dường như không có ai chứng kiến cảnh tượng đó. Một vài người đàn ông thô lỗ, ăn mặc như những người mục đồng quỳ ngay bên ngoài vòng tròn đèn lồng. Không có dàn hợp xướng thiên thần nào trong khung cảnh này và rõ ràng là các nhà thông thái lại đến muộn nữa rồi. Nhưng có một con cừu lông xù và một con lừa ngủ gật đang chiếm chỗ bên cạnh con bò. Tất cả họ đều ở dưới một mái che tạm bợ với bức tường ọp ẹp ở ba phía. Ít nhất thì họ cũng được khô ráo.
Cô liếc nhìn những người mục đồng, nhưng họ chẳng để ý đến cô. Joseph thì đang bận kiểm tra đèn lồng. Người duy nhất dường như nhận ra Holly đứng bên ngoài vùng ánh sáng là Mary, hoặc ít nhất là người đóng vai Mary. Dù chỉ một phút, Holly cũng không để mình bị lừa mà tin rằng cô đã bắt gặp cảnh Giáng sinh thật sự. Người đóng vai giả Mary đó nở một nụ cười dịu dàng với Holly, rồi quay sự chú ý trở lại với đứa bé đang nằm trong máng rơm.
Holly nhìn chằm chằm vào máng cỏ giả. Nước nhỏ giọt bên ngoài, nhưng bên trong, ngay cạnh con bò, là lớp rơm khô sạch sẽ. Cô nhún vai và bước đi tiếp. Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì? Ai đó sẽ nhìn thấy cô và đuổi cô đi. Vậy thì sao? Đây đâu phải lần đầu tiên.
Cô len lỏi qua những người mục đồng cho đến khi đến mép của mái che, rồi khuỵu gối và bò vào bên dưới. Thận trọng, cô rón rén đi qua con lừa. Nó phà ra một hơi thở ấm áp khi cô đi ngang qua. Con bò Jersey quay đầu, miệng nhai lại thức ăn và dường như mời Holly chạm vào mình. Con cừu gập chân lại và nằm xuống ngay bên cạnh chỗ Holly đang quỳ trên đống rơm. Trong sự sợ hãi, Holly vùi đôi bàn tay lạnh ngắt vào lớp lông cừu, cảm nhận hơi ấm thiêng liêng từ từ len lỏi vào những ngón tay. Con cừu quay đầu, khẽ giật giật tai rồi vùi mình sâu vào đống rơm.
Holly nhướng ánh nhìn về phía trước máng cỏ, vai khom xuống, chờ đợi những giọng nói giận dữ sẽ xua đuổi mình đi, nhưng chẳng ai để ý đến cô. Cô cởi áo khoác và cựa quậy để lưng tựa vào con cừu thân thiện, rồi đắp áo khoác lên người cả hai như một tấm chăn. Hơi ấm từ từ len lỏi qua tứ chi lạnh buốt của cô, những cơ bắp căng cứng được thả lỏng. Lần đầu tiên sau một thời gian dài, cô cảm nhận được sự an toàn.
Được ru ngủ bởi hơi thở đều đều của con cừu, mí mắt Holly sụp xuống. Gần như ngay lập tức, cô tỉnh giấc lần nữa, nhưng không phải vì lạnh hay sợ hãi. Thay vào đó, là bởi cô có cảm giác kì lạ rằng mình đang bị theo dõi. Mí mắt cô mở toang và cô nhìn chằm chằm vào khuôn mặt của người đàn ông chủ cửa hàng kim khí cuối phố nhà cô. Ít nhất, đó là người mà cô nghĩ lúc này. Trông ông ta trẻ hơn, và để râu, nhưng cô khá chắc chắn ông ta là ông Fanshaw. Mặc dù cô không thể giải thích tại sao ông ta lại quấn khăn quanh đầu và mặc một chiếc áo choàng tắm dài màu xanh lục. “Tội nghiệp con bé quá.” Ông ta nói, hất cằm về phía Holly. “Hãy chấm dứt những kế hoạch vĩ đại của con đi.”
“Đừng bao giờ nói như vậy.” Giọng mẹ cô đáp lại.
Holly quay đầu lại và nhìn thẳng vào đôi mắt trìu mến của mẹ. Mẹ cô cũng trẻ hơn, đầu trùm khăn choàng trắng. Holly chớp mắt, suýt nữa thì hét lên khi người đàn ông từ xưởng kim khí cấu nhẹ vào cằm cô.
“Cưng quá đi.” Ông ta nói. Holly túm lấy tay ông ta, nhưng rồi nhận ra mình đang dùng những ngón tay em bé tí xíu quấn quanh một ngón cái chai sần. “Con bé dễ thương thật, tôi công nhận điều đó.”
“Con bé xinh lắm.” Kitty Winters đáp, rồi đắp một chiếc khăn choàng ấm áp lên đứa bé Holly đang nằm cuộn tròn trong máng rơm.
“Dù sao thì, xui xẻo cho con. Giờ con bị kẹt ở đây rồi. Không có sự nghiệp hào nhoáng nào nữa.”
“Không sự nghiệp nào sánh được với phép màu bé bỏng của tôi ở đây.” Kitty vuốt ve đôi má của em bé Holly và trừng mắt nhìn người đàn ông từ xưởng kim khí. “Tôi sẽ không từ bỏ con bé để đổi lấy tất cả ánh đèn trên Broadway, và tôi sẽ làm mọi cách để giữ con bé an toàn, vậy nên anh đừng nói về vận rủi và những giấc mơ tan vỡ nữa, Bert Fanshaw. Đứa bé này là ánh sáng của đời tôi.”
“Nhưng trước đây cô cũng đã từng nói thế.” Bert khăng khăng. “Suốt thời trung học, cô đã nói với mọi người rằng cô nóng lòng muốn rời khỏi thị trấn quê mùa nhỏ bé của chúng ta và hướng đến những ánh đèn rực rỡ. Cô đã thề thốt rằng cô sẽ giàu có và nổi tiếng. Giờ đây, cô ở đây, giống như tất cả chúng ta, làm một công việc bế tắc, chỉ hi vọng có thể xoay xở tiền chợ cho đến kì lương tiếp theo. Tất cả là vì con bé này.”
“Anh nhầm rồi, Bert.” Giọng Kitty nhẹ nhàng và buồn bã. “Tôi có thể đã bế tắc trong công việc, nhưng tôi không có một cuộc sống bế tắc. Tôi chưa từng dám mơ ước điều gì tuyệt vời như Holly. Con bé là món quà của Thượng Đế. Giờ thì, trật tự. Vở kịch sắp bắt đầu rồi.”
Gần đó, một dàn đồng ca bắt đầu cất tiếng, giọng hát của họ trong trẻo và ngọt ngào trong bầu không khí giá lạnh. Vinh danh Thượng Đế trên các tầng trời cao và bình an dưới trần thế cho người thiện tâm.
Holly lắng nghe và cố gắng lắp ghép lại những gì cô đã thấy và nghe để hiểu, nhưng mí mắt cô trĩu xuống vì kiệt sức. Con cừu cựa mình và Holly chìm sâu hơn vào chiếc chăn len của mình. Con lừa cào vào đống rơm, khiến nó dồn lại vun cao lên quanh cô. Cô chìm vào giấc ngủ, được ru ngủ bởi tiếng nhạc, nhịp đập êm dịu của trái tim con cừu và hơi thở nhẹ nhàng của con bò Jersey.
Lần tiếp theo Holly mở mắt ra thì trời đã hừng sáng. Cơn mưa ngớt dần thành một màn sương mỏng và có một chút ánh nắng le lói. Cô cựa quậy bên cạnh con cừu, không muốn rời khỏi chiếc chăn ấm áp của mình, nhưng có điều gì đó không đúng. Cô quay đầu lại nhìn. Cô đang nằm dựa vào một tấm ván ép, được sơn vẽ trông giống như một con cừu. Cô giật mình, nhìn chằm chằm vào từng hình thù. Con lừa, con bò, Mary, Joseph, những người chăn cừu... tất cả đều là hình cắt. Không một nụ cười dịu dàng, không một hơi thở ấm áp, không một nhịp tim. Cô hoàn toàn khô ráo, đúng vậy, dưới mái che nghiêng, nhưng không có rơm làm giường và đầu cô bé đã tựa vào một tảng đá.
Cô loạng choạng đứng dậy và khoác áo vào. Cô dụi mắt, rồi lại nhìn cảnh tượng một lần nữa. Không có gì thay đổi cả. Cô đã ngủ qua đêm dưới một mái nhà lợp tạm bợ với một đống hình cắt bằng gỗ.
“Ôi cháu yêu.” Một người phụ nữ trung niên mặc áo khoác xanh dương và đội mũ lông xù đứng trước mặt cô với một cốc cà phê nóng hổi. “Trông cháu như sắp chết cóng rồi.” Bà đưa cho Holly đồ uống nóng và đợi cô nhấp vài ngụm.
“Cháu có thể vào trong đó.” Người phụ nữ chỉ vào nhà thờ nhỏ phía sau cảnh Giáng sinh, một tấm biển ghi “cửa mở” treo trên cửa hông.
“Cháu không thấy...” Giọng Holly nhỏ dần. Nếu cô cố gắng giải thích những gì mình đã thấy và không thấy đêm qua, mọi người sẽ nghĩ cô là kẻ điên hoặc đang nghiện ngập.
“Vào đi nào.” Người phụ nữ nói. “Chúng tôi đang chuẩn bị bữa sáng và bật lò sưởi.” Bà dẫn đường và Holly theo sau vào tầng hầm của một nhà thờ điển hình, sàn nhà trải thảm sờn cũ, những bóng đèn huỳnh quang lỗi thời kêu rè rè và nhấp nháy. Những chiếc ghế xếp ọp ẹp bao quanh một chiếc bàn dài. Giáo dân vui vẻ cười nói trong bếp. Một hàng người mang chiếc bụng đói lảo đảo đi vào, tìm kiếm một bữa ăn nóng hổi. Đây đúng là cảnh tượng mà Holly đã thề sẽ tránh xa.
Cô đặt chiếc cốc cà phê rỗng lên bàn và đút tay vào túi áo. “Không, cháu chỉ... cháu không cần...” Ngón tay cô bỗng chạm vào một vật gì đó mềm mại và hơi thô ráp. Bối rối, cô rút tay ra khỏi túi áo và thấy mình đang nắm một nhúm len thô - len thô thật sự, có những cọng rơm và cả mùi đặc trưng của một con cừu. Cô tròn mắt nhìn chằm chằm vào búi lông xoăn tít, rồi ngồi phịch xuống một chiếc ghế xếp.
“Cháu yêu?” Người phụ nữ đặt tay lên vai cô.
“Cháu bị ốm à? Cháu cần giúp gì không?”
Tôi sẽ làm mọi cách để giữ cô bé an toàn. Câu nói ấy cứ như thể mẹ cô đang đứng ngay bên cạnh vậy. Nước mắt Holly trào ra. Cô đã quá tự tin vào bản thân. Thật khinh miệt. Cô đã phớt lờ những hi sinh của mẹ đã làm, chối bỏ tình yêu thương được mẹ gửi gắm trong những món ăn tự làm cho bữa trưa ở trường. Cô đã than phiền về những chiếc váy đáng yêu tự tay mẹ may, quá bận tâm đến ý kiến của các bạn cùng lớp. Cô đã ích kỉ, kiêu ngạo, thô lỗ và xấc xược, nhưng tình yêu của mẹ Kitty dành cho cô thì vẫn luôn bền chặt và kiên định.
Nước mắt làm cay xè mắt cô, nghẹn lại nơi cổ họng.
“Cháu có thể gọi một cuộc điện thoại được không?” Cô cố gắng kìm nén lòng tự trọng rồi thổ lộ. “Đó là một cuộc gọi đường dài nhưng cháu không có tiền.”
“Điện thoại ở ngay đằng kia.” Người cứu cô chỉ tay về phía một hốc tường nhỏ ngoài hành lang lớn. “Cháu cứ gọi đi, cô bé. Chi phí đã được trả rồi.”
Nguyễn Thị Thiên Thanh
Dịch từ tập truyện “The Man Who Loved Christmas” của Alice Valdal