![]() |
| Hoàng hôn trên thành phố Thimphu. |
Không ai lần đầu bay trên đường bay này mà không lo lắng, hồi hộp bởi Paro là sân bay nằm ở độ cao trên 2.200 mét, trong một thung lũng núi dốc sâu, thường có các luồng gió nghịch, nằm trong số ít sân bay khó hạ cánh nhất thế giới.
Bước ra khỏi cửa tàu bay bỗng cảm giác như mình vừa bước qua một cánh cửa khác của thế giới, nơi thời gian ngưng đọng lại, gió mơn man như hơi thở lắng dịu của núi rừng. Bhutan đón tôi bằng thứ không khí mát lành đến trong suốt - cái trong lành của núi rừng, của tâm thế con người, cùng những ấn tượng ban đầu về một miền cổ tích bên bờ mây Himalaya.
Từ Paro về Thimphu - thủ đô của Vương quốc Bhutan, con đường ngoằn ngoèo, uốn lượn giữa một bên là trập trùng núi non, miên man những dải rừng thông xanh thẫm; một bên là dòng sông lách mình chảy qua những khe sâu, thỉnh thoảng mới phát lộ trước mắt lữ khách với làn nước trong vắt, vờn quanh vách đá, lấp lóa phản chiếu ánh nắng trời. Trên những triền núi, sườn đồi, thung lũng, thấp thoáng những mái nhà, những lá cờ lungta ẩn hiện trong làn sương mỏng.
![]() |
| Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, công trình biểu tượng của Thimphu. |
Thimphu hiện ra trước mắt tôi như một xứ sở mộng mị giữa mây trời. Buổi trưa, trời trong xanh, thấp thoáng những gợn mây mỏng tang như những tấm voan trắng giăng mắc trên những sườn núi. Đứng từ trên cao nhìn xuống, thành phố trải dài trong lòng thung lũng hẹp như một dòng suối những sắc màu chảy trên nền xanh thẫm của rừng núi. Đến gần hơn, hòa vào dòng chảy sắc màu ấy, bỗng thấy mình thật lạ lẫm với Thimphu - một thành phố không khói bụi, không ồn ào, không một tiếng còi xe và không có một siêu thị. Dòng sông Wang Chhu bắt nguồn từ sông băng Himalaya, lọc qua bao sỏi đá, thác ghềnh hiểm trở, mang đến cho Thimphu dòng nước trong vắt, hiền hòa, lặng lẽ soi bóng phố xá, cỏ cây, hoa lá, tô điểm thêm cho vẻ đẹp trong trẻo và thanh bình của thành phố.
Toàn bộ những công trình kiến trúc trong thành phố, từ những ngôi nhà ở của cư dân, các khu nhà công sở, đến các đền đài, cung điện, đều cao không quá 6 tầng, đều có chung một motip kiến trúc truyền thống mang dáng dấp các Dzong (pháo đài - tu viện) cổ kính, sắp đặt ngăn nắp trong những khuôn viên. Có cảm giác như thành phố được tạo thành bởi những “ngôi nhà búp bê” của cùng một bàn tay tài hoa, khéo léo làm ra và sắp đặt nên. Nhà nào cũng sơn tường màu trắng, trang trí những họa tiết phật giáo như hoa sen, sư tử tuyết với mái gỗ đỏ nghiêng đều như bay ra bốn hướng. Nhìn vào mặt nào của mỗi ngôi nhà đều thấy những ô cửa sổ mở ra. Hầu như từ bất cứ ngôi nhà nào hay bất cứ không gian nào trong mỗi ngôi nhà, người Thimphu đều có thể nhìn thấy mây trôi trên đầu, sắc màu rực rỡ của những lá cờ lungta giữa màu xanh của rừng cây trên sườn núi và sông suối chảy qua đâu đó ngay bên hiên nhà - như thể thiên nhiên là người bạn chung sống cùng con người trong từng khung cửa.
![]() |
| Tu viện Taktsang Palphug, hay còn được gọi là tu viện Tiger’s Nest. |
Phía xa xa, trên đường chân trời, những đỉnh núi phủ tuyết trắng vĩnh cửu hiện lên trong nắng, lấp lóa sáng, lặng lẽ, uy nghi, hùng vĩ và bí hiểm, như những thế lực siêu nhiên đang canh giữ thời gian và đất trời xứ sở.
Tôi đã dạo bước chân qua từng gian trưng bày của Bảo tàng quốc gia Di sản Văn hóa dân gian (National Folk Heritage Museum), nơi tái hiện ngôi nhà Bhutan cổ và những nghề thủ công truyền thống; vào thăm Học viện Dệt may Hoàng gia (Royal Textile Academy), nơi tôn vinh sự khéo léo và tinh tế của người Bhutan trong nghề dệt thủ công và nhuộm vải bằng thảo mộc tự nhiên.
Tôi đã lang thang khắp Chợ Nông sản và Hàng thủ công (Centenary Farmers Market), nơi không chỉ để mua mật ong quý, trà thảo mộc, các loại rau quả khô, các mặt hàng thủ công đặc sắc, mà còn là dịp hiếm có để quan sát lối sống văn hóa, sự hiền hòa, thân thiện của người dân Bhutan.
Tôi đã đến Khu bảo tồn Động vật biểu tượng (Motithang Takin Preserve), đứng cả giờ để nhìn ngắm những con Takin mang hình hài nửa dê, nửa bò, biểu tượng quốc gia của Bhutan. Nhìn loài động vật kì lạ ấy lặng lẽ bước đi trong rừng thông, tưởng như chúng vừa bước ra từ câu chuyện thần thoại Hy Lạp.
Tôi đã tận mắt chiêm ngưỡng Dzong Tashichho, pháo đài - tu viện với dáng vẻ uy nghi, bền vững, một biểu tượng của quyền lực và tín ngưỡng của đất nước Bhutan, công trình đã có trên 800 năm tuổi, nơi đang đặt văn phòng của Quốc vương và chính phủ Bhutan.
Tôi đã leo theo các bậc thang hẹp và dốc để lên đến tầng trên cùng của Đài tưởng niệm quốc gia Chorten linh thiêng, công trình được xây dựng năm 1974 để tưởng nhớ Đức vua Jigme Dorji Wangchuck, người đã đặt nền móng cho quá trình hiện đại hóa, dân chủ hóa và mở cửa đất nước ra với thế giới. Ông cũng là người đã khởi xướng phép đo Chỉ số Hạnh phúc Quốc gia để đánh giá sự phát triển của đất nước. Mỗi bức họa, pho tượng, hình hài được khắc chạm ở đây đều là một triết lí sống, thể hiện một giá trị văn hóa tâm linh của người Bhutan.
Tôi đã vượt qua chặng đường đèo dốc đồi Kuensel Phodrang để được chiêm bái bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni khổng lồ bằng chất liệu đồng cao 51,5 mét, phủ vàng lấp lánh, công trình biểu tượng của Thimphu. Từ đây, người ta có thể nhìn bao quát toàn cảnh Thimphu trải ra dưới thung lũng trong ánh bình minh mỗi buổi sớm mai hay trong làn mây khói bảng lảng mỗi khi hoàng hôn buông xuống.
Và tôi đã đứng trước cửa vào Hoàng cung Bhutan, nơi ở của Quốc vương và gia đình, tha thẩn dạo quanh những rặng cây xanh um bao quanh đó, cố tìm ra bóng dáng của một công trình kiến trúc hoành tráng, đặc biệt nào ở bên trong mà không thể, để rồi chấp nhận một sự thật giản dị rằng, Hoàng cung ở đây chỉ là một khu nhà nhỏ bé, khiêm nhường, rợp bóng cây xanh bốn mùa.
Cũng chẳng khó khăn, công phu là mấy để đặt chân đến ngần ấy công trình, ngần ấy địa điểm đặc sắc của Thimphu, cái thành phố ở trên độ cao hơn 2.300 mét so với mực nước biển, chỉ rộng chưa đến 26 cây số vuông với chưa đầy 12 vạn cư dân. Càng không phải mọi thứ mà tôi đã được tận mắt chứng kiến ở đây có thể so sánh với những thành phố châu Á, châu Âu, châu Mỹ về chiều cao của những tòa nhà chọc trời, kích cỡ to lớn của những cung điện, đền đài, sự hào nhoáng của những trung tâm mua sắm, sự ồn ào, náo nhiệt của dòng người và xe cộ. Điều khác lạ mà tôi nhận ra ở Thimphu là một nhịp sống chậm rãi, thanh thản đến lặng lẽ. Ở đó, người ta mặc quốc phục, cúi đầu và mỉm cười chào nhau mỗi lần gặp mặt. Ở đó, những nhà sư trong màu áo nâu sồng, dạo bước thong dong trên phố. Ở đó chiều chiều, dân phố thị rủ nhau ngồi bên hè phố râm ran trò chuyện trong ánh tà dương. Ở đó, không có đèn hiệu giao thông, không có tiếng còi xe, những người lái xe lặng lẽ nhường nhịn và bình thản chờ đợi trên đường. Ở đó, mỗi ngày trôi qua không phải để kiếm tìm, khám phá, mà để hiện hữu, hòa nhập với thiên nhiên; không phải để chạy tới, vượt qua người khác, mà để ở lại với chính mình, ở lại với những giá trị cội nguồn.
Chiều xuống, tôi ngồi bên ban công khách sạn nhìn ra thung lũng Thimphu. Những bụi hoa cosmos khoe sắc tím lung linh trong ánh tà dương. Không gian lan tỏa một thứ hương ngai ngái của cỏ cây và đất đai ẩm mốc. Tiếng gió thổi qua rừng thông, nghe như một hòa âm dìu dặt, xa vắng. Dưới xa kia, một vài tia nắng cuối ngày còn sót lại, ánh lên thứ ánh sáng vàng mỏng tang trên những mái nhà. Những làn mây từ trên các triền núi cao như đang sà xuống thấp phía thành phố. Có cảm giác như mình đang sống trong một thế giới đượm màu cổ tích!
Tôi may mắn có mặt ở Bhutan đúng dịp Lễ hội Phật giáo Thimphu Tshechu để được tắm mình trong không khí của lễ hội như tan chảy trong một vũ khúc của tình yêu, vừa linh thiêng, vừa rực rỡ sắc màu.
Thimphu vào mùa Lễ hội Tshechu giống như một giấc mơ nhiều sắc màu sống động. Từ sớm tinh mơ, khắp các nẻo đường dẫn về Dzong Tashichho, pháo đài - tu viện trung tâm của thành phố, người dân trong bộ quốc phục truyền thống, nối theo nhau về dự hội. Phụ nữ trong bộ Kira với áo chẽn ngắn và váy dài quét gót, thướt tha, sặc sỡ sắc màu. Nam giới trong bộ Gho - một loại áo khoác rộng quấn quanh người, dài đến đầu gối, cố định bằng thắt lưng, tạo thành khoang rộng như cái bị trước bụng, nơi được dùng để cất giữ những đồ vật cá nhân cần mang theo như điện thoại, bình nước, hộp thuốc lá và đôi khi cả gói thức ăn. Mỗi người đều mang một chiếc khăn dài vắt qua vai trái xuống ngang hông bên phải rồi trở lại vai trái hoặc cầm trên tay trái. Màu sắc của khăn cho biết địa vị xã hội của chủ nhân. Khăn màu vàng dành cho nhà vua hay giáo chủ; khăn đỏ thuộc về quan chức hay những chức sắc tôn giáo cao cấp; nhân viên cơ quan quản lí nhà nước mang khăn xanh dương và dân thường mang khăn màu trắng.
Chưa đến 9 giờ sáng, trên khoảng sân Dzong rộng bằng cả sân bóng đá đã chật kín người. Ai không kiếm được chỗ ngồi thì đứng xung quanh, dọc theo những mái hiên, tường đá. Nhiều khách du lịch nước ngoài mang theo máy ảnh, máy quay phim, len lỏi đi lại xung quanh đám đông, háo hức chờ đợi giây phút lễ hội khai cuộc. Nhiệt độ không khí chưa đến 18 độ C nhưng cái nắng chói chang, bỏng rát da thịt. Vậy mà tất cả mọi người từ già cả đến trẻ em, ai nấy đều đầu trần, kiên nhẫn chờ đợi một cách bình thản, lặng lẽ. Phải đến hơn 10 giờ trưa Lễ hội mới bắt đầu. Và cũng là bắt đầu một một không gian rực rỡ sắc màu, rộn rã những âm thanh và một không khí linh thiêng, đầy vẻ huyền bí được mở ra.
Lễ hội Thimphu Tshechu được mở màn bằng sự xuất hiện của 4 chú hề mang biểu tượng của sinh thực khí nam, nhảy múa và làm những trò ngồ ngộ, giễu nhại những hành vi phồn thực của con người. Tiếp theo là những màn hát múa của nam thanh, nữ tú trong những bộ xiêm y rực rỡ, với những vũ điệu uyển chuyển. nhịp nhàng, trong những thanh âm dìu dặt, trầm bổng của âm nhạc và ca từ ngợi ca đức Phật, ngợi ca thiên nhiên hùng vĩ, ngợi ca cuộc sống dưới sự chở che của các vị thần linh.
Trung tâm và nổi bật nhất của lễ hội là các điệu múa Chăm ngợi ca sự vĩ đại và tôn vinh những công đức to lớn của Guru Rinpoche - Đức Liên Hoa Sinh - Bậc Thượng Sư đã truyền bá Phật giáo đến Bhutan, bày tỏ sự tôn kính, biết ơn đối với các vị thần linh đã phù trì cho cuộc sống thanh bình của xứ sở. Tiếng chiêng cầm nhịp vang lên rộn rã như thôi thúc, giục giã những bước nhảy, vòng xoay. Những vũ công mang mặt nạ sặc sỡ biểu tượng cho con người và các loài muông thú, với trang phục rực rỡ, lướt đi nhẹ nhàng, tung mình lên trong những bước nhảy tạo thành những quỹ đạo sắc màu ảo diệu. Mỗi động tác, mỗi cử chỉ đều mang ý nghĩa tượng trưng cho sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, của tình yêu trước thù hận và của ánh sáng trước bóng tối vô minh. Trên sân Dzong, cả rừng người ngồi lặng lẽ đầy vẻ tôn nghiêm, dõi theo như hút hồn mỗi điệu múa, lắng nghe như nuốt lấy từng thanh âm của tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn.
Người ta bảo, những vũ công đang nhảy múa chính là các nhà sư. Nhưng trong xiêm y rực rỡ sắc màu và những vũ điệu điêu luyện, rộn ràng ấy, khó có vị khách nào có thể nhận ra ranh giới giữa tu sĩ và nghệ sĩ. Và có lẽ điều đó đã mở ra một cách hiểu khác về tôn giáo ở Bhutan. Rằng ở đây, tôn giáo không làm người ta xa rời trần thế, càng không phải chỉ là những nghi thức trong đền chùa, miếu mạo, mà là hơi thở của đời sống thường ngày. Rằng Phật giáo ở đây không nằm trong chùa, mà đi giữa chợ đời, hóa thân vào lối sống, vào trong từng hành vi, từng hoạt động của con người, trong cả sự trong trẻo, thanh lặng của mỗi buổi bình minh thức dậy. Rằng người Bhutan không đi xem Tshechu như là lễ hội giải trí mà là nghi thức thanh lọc tâm hồn, là dịp để gột rửa những sân si, tội lỗi, buông bỏ những âu lo, toan tính của đời thường, và cũng là để tích đức, tích thiện, đón nhận những phước lành. Và kết tinh của tất cả là một xã hội hài hòa, một môi trường thiên nhiên được bảo vệ với tất cả sự tôn trọng đến linh thiêng, và con người sống tử tế hơn, hiền hòa hơn, nhân ái hơn.
Từ Thimphu trở lại Paro, cũng là trở lại con đường liên miên những khúc quanh, lối ngoặt, uốn lượn quanh những triền núi. Mỗi khúc quanh lại mở ra một khung cảnh đẹp đến nao lòng - rừng thông nối rừng thông, những thung lũng mở ra dưới chân mây, suối bạc len giữa triền đá và hoa dại nở rợp bên đường. Paro đón tôi trong làn sương trắng nhẹ, thứ sương đặc trưng của Himalaya, khiến khung cảnh vừa như thực, vừa như mơ.
Thị trấn nhỏ nằm bên dòng sông Pa Chhu hiền hòa. Buổi sáng, thoang thoảng hương lúa, hương thông quyện trong không khí se lạnh khiến người ta chỉ muốn hít thật sâu để lưu lại vị trong trẻo ấy trong lồng ngực. Mọi thứ ở đây đều mang vẻ nguyên sơ đến mức không thể tin là đang ở thế kỉ hai mươi mốt. Tất cả tạo nên một khung cảnh thanh khiết đến mức tưởng như thời hồng hoang. Ở đây con người chỉ như khách trọ khiêm nhường, còn thiên nhiên mới hiện diện như chủ nhân thật sự.
Những cánh đồng lúa sắp đến mùa thu hoạch, ngả màu vàng rơm, trải dài theo những lũng núi như những dải lụa mềm. Thấp thoáng trên những sườn đồi, những ngôi nhà sơn trắng, mái ngói thâm nâu, hoa trồng trước hiên, long lanh như những hạt cườm đính lên riềm lụa. Nhìn cảnh ấy, tôi như thấy thấp thoáng hình ảnh những cánh đồng lúa vùng quê trung du Bắc Bộ, nơi con người cũng sống chan hòa cùng núi đồi, mưa nắng và mây trời.
Paro được xem là trái tim xanh của Bhutan nơi rừng bao phủ hơn 70% diện tích đất nước. Chính phủ Bhutan quy định, ít nhất 60% diện tích lãnh thổ phải được bảo tồn cho muôn đời sau. Đó không chỉ là chính sách, mà là niềm tin tôn giáo, niềm tin nhân sinh cha truyền con nối. Người Bhutan tin rằng mỗi cây rừng đều có linh hồn, nên chặt một cây không khác gì làm tổn thương một sinh linh. Những thế hệ người Bhutan truyền dạy cho nhau rằng, rừng là nơi trú ngụ của thần linh, tàn phá rừng sẽ làm cho các vị thần linh giận dữ, mang lại những điều chẳng lành cho con người. Bởi vậy ở đây, rừng mang ý nghĩa tôn nghiêm, thiên nhiên liền mạch sống với con người. Trong tâm thức người Bhutan, thiên nhiên không phải là phông nền cho đời sống, mà chính là đời sống. Triết lí ấy khiến Bhutan trở thành nơi con người sống hòa mình với thiên nhiên, nơi hạnh phúc không đo bằng tiền bạc mà bằng môi trường thiên nhiên nguyên vẹn trong lành và sự bình an trong tâm hồn con người. Văn hóa ấy khiến Bhutan trở thành nền kinh tế duy nhất trên thế giới có lượng phát thải carbon âm; nước duy nhất trên thế giới kiểm soát nghiêm ngặt lượng khách mỗi năm và thu thuế du lịch đến 100 đôla Mỹ mỗi ngày ngay khi cấp visa.
Ở Paro không có những trung tâm mua sắm to lớn, ồn ào, chỉ có những cửa hàng nhỏ bày bán các chủng loại hàng hóa thiết yếu, những sản phẩm thủ công mĩ nghệ và những sản vật của nông nghiệp. Trong các cửa hàng lưu niệm, hàng hóa chủ yếu là những sản phẩm liên quan đến Phật giáo như: tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát, tượng Phật Di Lặc, luân xa, đèn thờ, chuông, khánh, vòng hạt, sách kinh Phật, bộ ấm trà, v.v.. Đặc biệt, hình tượng sinh thực khí của nam giới được chế tác bằng gỗ, nhựa và cả bằng đồng, với nhiều kích cỡ khác nhau, được bày bán công khai, la liệt trên các kệ hàng, được trưng lên trong các tủ kính quảng cáo phô ra ngoài mặt đường. Tôi nhớ lại hình ảnh mấy chú hề nhảy múa, làm trò cùng với những thứ đó để mở đầu lễ hội Tshechu ở Thimphu. Với nhiều du khách, đó là điều đặc biệt và lạ lẫm. Với người Bhutan, đó không phải là sự dung tục, ngược lại là câu chuyện tâm linh, tín ngưỡng, một biểu tượng của phồn vinh, may mắn, một thứ bùa thiêng để xua đuổi tà ma, mang lại sự sinh sôi nảy nở và bảo vệ gia đình.
Và có lẽ, văn hóa tín ngưỡng gắn với sinh thực khí cũng là một biểu hiện sinh động của lối sống của người Bhutan, một lối sống trong sáng và hồn hậu như cổ tích, thanh khiết và an nhiên như hơi thở của trời đất.
Sáng sớm một ngày có mưa ở Paro, những đỉnh núi cao vẫn còn ẩn khuất sau những tầng mây mù âm u. Trời đang mưa nặng hạt khi chúng tôi khởi hành hướng về Tiger’s Nest - tên gọi quen thuộc của Tu viện Taktsang Palphug, công trình huyền thoại xây dựng trên vách đá dựng đứng cao hơn 800 mét so với thị trấn Paro, tức là gần 3.000 mét so với mực nước biển.
Người Bhutan kể rằng, hơn ngàn năm trước, Guru Rinpoche - Đức Liên Hoa Sinh, vị tổ của Phật giáo Kim Cương thừa - đã cưỡi trên lưng hổ bay lên hang núi này để thiền định suốt trong ba năm, ba tháng, ba tuần và ba ngày để khuất phục những linh hồn độc ác, mang lại thanh bình cho xứ sở. Cũng tại đây, ngài đã truyền dạy giáo pháp sâu sắc cho các đệ tử của mình. Từ đó, Tiger’s Nest trở thành biểu tượng của niềm tin, của sự giác ngộ, và của hành trình vượt thoát nội tâm, một địa điểm hành hương linh thiêng và hấp dẫn vào bậc nhất của đất nước Bhutan.
Đường lên Tiger’s Nest bắt đầu bằng một con dốc đất đỏ uốn quanh sườn núi. Những đoạn dốc lên trơn như đổ mỡ, những lối đi lõng bõng bùn đất do chân người, chân ngựa dày qua, xéo lại. Nhiều đoạn đường dốc dựng ngược, người đi phải cúi rạp mình, chống gậy dò từng bước chân, thậm chí phải bám vào gốc cây để vượt lên. Một số du khách chọn cách thuê ngựa để vượt qua cung đường khó khăn này. Mỗi con ngựa phải có một người địa phương dắt đi. Ngay cả những con ngựa chở khách cũng phải nhiều lần dừng lại, thở phì phò trong mưa núi, gió lạnh, lấy lại sức rồi mới chậm rãi bước tiếp.
Qua khoảng hai cây số đèo dốc là trạm dừng ngựa, từ đó mọi du khách buộc phải lên núi bằng chính đôi chân của mình. Quán cà phê ở đây, nơi khách leo núi có thể nghỉ chân, ăn lót dạ, uống cà phê hay nước giải khát, lấy sức để vượt qua chặng đường tiếp theo, đã đông nghịt người, ồn ào những tiếng nói bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Tôi gặp lại cả mấy nhóm người bay cùng chuyến bay từ Thành phố Hồ Chí Minh. Hầu như trong hành trình Bhutan của bất cứ ai, Tiger’s Nest đều là một điểm đến không thể thiếu.
Từ quán cà phê, người ta không cho phép ngựa chở khách đi tiếp để bảo vệ môi trường và cũng vì đường dốc hơn. Vì thế, đường lên núi hẹp hơn nhưng không còn bị cày xới, cây cỏ cũng xanh tốt hơn. Hai bên đường là rừng nguyên sinh, tầng tầng, lớp lớp tán lá rậm rạp. Tiếng gió thổi qua tán lá hòa với tiếng suối nước chảy, tạo thành bè trầm của bản nhạc rừng du dương, làm nền cho những tiếng chim vang lên như những nốt nhạc cao, lúc rộn ràng, lúc lảnh lót.
Càng leo lên cao, không gian càng tĩnh lặng. Tiếng người cũng thưa dần. Mỗi bước chân đi, tôi nghe rõ tiếng gậy chạm vào đất, hơi thở của chính mình và cả tiếng lùng bùng trong lỗ tai. Dọc đường lên Tiger’s Nest, tôi đã gặp nhiều người trẻ tuổi, nhiều gia đình mang theo cả trẻ nhỏ và cả những người cao tuổi. Họ đến từ nhiều quốc gia, nhiều châu lục. Nhiều tốp người trẻ tuổi đã vượt lên trước tôi. Hầu như đèo cao dốc đứng không hề hấn gì đối với sức vóc của họ. Tôi cũng vượt qua không ít người. Họ là những người cao tuổi, bước đi chậm rãi trong im lặng, có người còn được con cháu dìu đi. Ai cũng mỏi, cũng mệt, nhưng ai cũng gắng sức vượt lên, không bỏ cuộc. Dường như với họ, hành trình này không phải để “đến” tu viện, mà để vượt qua chính mình, vượt qua sự mỏi mệt và những ràng buộc, hệ lụy nơi trần thế.
Sau hơn hai giờ leo dốc, chúng tôi đến nơi dừng chân ngay trên đỉnh một mỏm núi ngay bên một bờ vực sâu hun hút. Bên kia vực là Tiger’s Nest, ngôi đền thiêng của Phật giáo Bhutan. Đó là một quần thể kiến trúc với tường trắng, cửa sổ sơn màu nâu tía, lớp lớp mái vàng, chênh vênh trên vách đá dựng đứng, lơ lửng giữa lưng trời, lúc ẩn, lúc hiện trong mây. Tôi dừng lại rất lâu để tận hưởng cái cảm giác nghe gió tạt vào mặt, mây bay quanh vai và hít thở không khí trong lành đến tinh khiết; để ngắm nhìn vẻ đẹp mê hoặc của Tiger’s Nest và kì công đến khó tin của những người đã xây dựng nên công trình kì vĩ ấy.
Con đường vượt qua vực núi hiểm như thử thách cuối cùng để mỗi du khách từ cõi người đến được cõi thiêng. Những bậc thang bám vào vách đá cheo leo, dốc đổ xuống thăm thẳm, có khi bước chân dẫm qua mây khói. Trời lạnh mà người ướt đầm mồ hôi. Xuống được đáy vực, một thác nước cao như đổ xuống từ lưng trời, lan tỏa hơi nước lành lạnh, xoa dịu mọi nóng bức, làm tan biến mệt mỏi, như phước lành thưởng cho những người đã vượt khó để đến được nơi này. Từ đây ngước mắt nhìn lên, cổng vào ngôi đền thiêng - tu viện Tiger’s Nest đã rất gần.
Bên trong tu viện, không khí linh thiêng bao trùm. Hương trầm thơm nhè nhẹ. Ánh nến lung linh trước những bức tượng cổ. Tiếng tụng kinh râm ran cùng tiếng mõ ngân vang, lan tỏa trong không trung như vọng về từ hư ảo. Du khách đi lại cũng nhón nhẹ bước chân để khỏi phát ra tiếng động. Cảm giác linh thiêng khiến cho ai đã bước vào tu viện đều phải cúi đầu xuống, khép mình lại, nhẹ nhàng từng bước đi, thầm thì từng lời nói.
Trong khuôn viên Tiger’s Nest, một nhóm sinh viên đại học Phật giáo đến dự khóa lễ đang đứng trò chuyện. Những nam thanh niên trong bộ nâu sồng, trên khuôn mặt ai cũng tỏ ra hoan hỉ pha lẫn cả niềm tự hào. Sonam - sinh viên quen biết với người hướng dẫn du lịch của tôi kể rằng, anh đang học năm thứ 5 Đại học Phật giáo. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, thay vì các ngành học khác, anh đã quyết định chọn lựa chọn con đường tu tập suốt đời, từ bỏ mọi cám dỗ của đời thường, khép mình vào những giới luật và một cuộc sống thanh tịnh nơi cửa Phật. Đại học Phật giáo là ngành học kéo dài đến 5 năm, sau khi ra trường người học còn phải trải qua một kì nhập thất, không dưới ba năm thực hành thiền định nữa mới đủ điều kiện thực thi các chức phận của một nhà sư.
Ở Bhutan, các nhà sư có mặt trong mọi biến cố hay bước ngoặt của một đời người, từ lúc mới sinh ra đến lúc lìa đời. Họ thực hiện các nghi lễ chúc phúc, kính cáo các vị thần linh, cầu xin ân huệ của đức Phật, hướng dẫn tâm linh và giữ vai trò xác thực từng bước đường đời, những thành công, trách nhiệm và cả những lúc khó khăn, những khi vận hạn của mỗi con người. Hiến pháp nhà nước Bhutan xác định Phật giáo là nền tảng tâm linh của Nhà nước. Có lẽ vì thế, con đường Phật pháp ở Bhutan không phải là một sự rút lui khỏi đời sống, mà là một cách dấn thân khác, sâu sắc và bền bỉ hơn, một con đường sống khác không ngoài mục đích vị nhân sinh. Cũng vì thế mà Sonam và những người trẻ tuổi ở Bhutan đã tự nguyện và lấy làm tự hào khi lựa chọn con đường Phật pháp.
Gần trưa, mây mù tan dần, nắng đã hừng lên. Từ Tiger’s Nest nhìn xuống, thung lũng Paro, phố xá, đồng lúa, rừng cây và những đỉnh núi phía xa hiện ra như một bức tranh đa sắc rực rỡ mà tĩnh lặng, một vẻ đẹp khó tả như níu kéo bước chân rời đi của du khách. Khi rời chân xuống núi, tôi cứ nghĩ, hành hương tới Tiger’s Nest, không phải chỉ là đi tìm một nơi chốn để giải tỏa hay thưởng ngoạn, mà còn là để tìm lại sự an nhiên, lắng nghe và để vượt lên chính mình.
*
Tôi rời Bhutan vào buổi chiều đẹp trời. Xa xa dưới cánh bay, những đồng lúa, phố thị, bản làng, những cánh rừng bạt ngàn, những đỉnh núi phủ tuyết trắng lấp lóa… đang xa mờ dần. Dán mặt vào cửa sổ tàu bay, tôi cố thu lại trong mắt những hình ảnh của vùng đất ấy, và chợt nghĩ, Bhutan đâu chỉ là một quốc gia. Nơi đó giống như một miền cổ tích còn sót lại bên bờ mây Himalaya - nơi con người vẫn sống trong hòa điệu với thiên nhiên, nơi đạo và đời, tâm linh và nhân sinh không tách rời nhau, nơi rừng núi vẫn còn lưu giữ hơi thở nguyên sơ từ thuở hồng hoang. Và đó cũng là nơi ta đến một lần để rồi khó có thể quên!